Báo hoa mai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Báo hoa mai
Thời điểm hóa thạch: Cuối Pliocen hay đầu Pleistocen tới nay
Leopard africa.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Felidae
Chi (genus) Panthera
Loài (species) P. pardus
Danh pháp hai phần
Panthera pardus
Linnaeus, 1758
Leopard distribution.gif

Báo hoa mai, thường gọi tắt là Báo hoa (Panthera pardus) là một trong bốn loài mèo lớn thuộc chi Panthera sinh sống ở châu Phi và châu Á (Các loài mèo lớn khác là sư tử, hổbáo đốm Mỹ.) Chúng dài từ 1 đến gần 2 mét, cân nặng từ 30 đến 90 kg. Con cái thông thường có kích thước bằng khoảng 2/3 con đực. Tuy thân hình tương đối nhỏ so với các loại mèo lớn khác nhưng báo hoa mai là những kẻ săn mồi nguy hiểm đáng sợ.[2]

Đại cương[sửa | sửa mã nguồn]

Phần lớn báo hoa mai có màu nâu hay nâu vàng nhạt với các đốm đen, nhưng lớp lông của chúng thì rất đa dạng. Các đốm có xu hướng nhỏ hơn về phía đầu, lớn hơn và có tâm nhạt ở phía thân. Ban đầu, người ta cho rằng báo hoa mai là con lai giữa sư tử và báo, và trong một số ngôn ngữ nước ngoài từ leopard có nguồn gốc từ đây; leo là tên Latinh của sư tử, và pard là thuật ngữ cũ có nghĩa báo. Trên thực tế, "báo" có thể là một vài loài trong họ Mèo có gen tạo ra màu đen hơn là màu nâu vàng, vì thế tạo ra lớp lông đen thuần, ngược lại với những con có màu đốm thông thường. "Báo", trong một nghĩa khác, đơn giản là những con báo hoa mai lông sẫm (hoặc là dạng màu sẫm của các loài mèo khổng lồ khác: xem báo đen).

Trước khi có những thay đổi do con người tạo ra trong mấy trăm năm trở lại đây, báo hoa mai đã từng là loài mèo phân bổ rộng nhất hơn cả mèo nhà: Chúng được tìm thấy ở mọi nơi thuộc châu Phi (ngoại trừ sa mạc Sahara), cũng như ở Tiểu ÁTrung Đông, Ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc, Xibia, phần lớn đất liền của khu vực Đông Nam Á, các đảo Java, ZanzibarSri Lanka.

Lối sống và thức ăn của chúng khác với các loài mèo khổng lồ khác. Chúng có khả năng săn trên cây cũng như trên mặt đất, chúng ăn từ những động vật nhỏ như côn trùng, thú gặm nhấm, cá đến những thú lớn hơn như gia súc, hươu, nai, linh dương, lợn rừng. Báo hoa mai thậm chí săn cả chó nên những người nuôi chó trong những vùng có báo hoa mai thường khôn ngoan giữ chúng trong các cũi để đảm bảo an toàn cho chúng vì báo hoa mai được biết như là những kẻ thèm thịt chó và sẵn sàng liều lĩnh xông vào nhà dân để giết chó nuôi. Chúng leo trèo rất tốt và thông thường hay giấu con mồi săn được ở trên cây.

Mặc dù số lượng lớn của chúng, loài thú săn đêm và sống trên cây này rất khó nhìn thấy trong tự nhiên. Có thể là khu vực có nhiều nhất là vườn quốc gia YalaSri Lanka, ở đó có mật độ báo hoa mai hoang cao nhất thế giới, nhưng thậm chí ngay cả ở đây thì việc nhìn thấy chúng không phải lúc nào cũng có.

Các đặc điểm phân biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Thông thường, những con mèo khổng lồ này hay bị nhầm lẫn với nhau, những con "mèo đốm" này là một ví dụ cụ thể. Báo đốm Mỹ, báo đốm châu Phi (báo săn) và báo hoa mai thường hay bị nhầm với nhau.

Báo hoa mai có thể dễ dàng phân biệt với họ hàng gần là báo đốm Mỹ nếu người ta biết nhìn vào những điểm cần thiết. Phần lớn báo hoa mai không có đốm trong các hoa thị mà báo đốm Mỹ luôn luôn có. Báo hoa mai Amurbáo hoa mai Hoa Bắc thỉnh thoảng là ngoại lệ. Báo hoa mai nhỏ hơn và ít rắn chắc hơn báo đốm Mỹ, mặc dù chúng chắc nịch hơn báo gêpa.

Bên cạnh những biểu hiện bề ngoài thì báo hoa mai và báo đốm Mỹ còn khác nhau về thói quen sinh sống. Báo đốm Mỹ, đã quen với cuộc sống trong các rừng mưa nhiệt đới, thích sống gần nước, trong khi báo hoa mai thông thường là tránh ẩm ướt, và là sống trên cây nhiều hơn.

Báo săn, mặc dù sống lẫn trong khu vực sinh sống của báo hoa mai, cũng rất dễ phân biệt. Báo hoa mai nặng hơn, rắn chắc hơn, có đầu to (theo tỷ lệ với cơ thể), và có các hoa thị hơn là các đốm.

Kỹ thuật săn mồi[sửa | sửa mã nguồn]

Báo hoa mai săn lợn rừng

Báo hoa mai là những thú ăn thịt có thể săn bắt nhiều chủng loại con mồi hơn bất kỳ các loài mèo lớn nào khác với kĩ năng săn mồi điêu luyện. Trong nhiều khu vực sinh sống của chúng ở châu Phi, chúng phải tranh đấu với những loài thú ăn thịt khác như linh cẩu đốmsư tử để giành con mồi, và không phải là điều bất thường đối với chúng khi chúng bị các con mãnh thú kia xua đuổi khỏi con mồi mà nó vừa kiếm được.

Báo hoa mai thông thường săn về đêm, bình minh, hay lúc chập tối và sẽ đi lén theo con mồi của chúng trước khi giết chúng bằng cách cắn vào họng, làm nghẹt thở con mồi, Con báo hoa mai có thể chạy với tốc độ tối đa lên đến 90 km/h. Chúng thông thường sẽ tha con mồi vào chỗ tương đối an toàn ở trên cây, Loài báo phải làm như vậy vì nếu ăn ở trên mặt đất chúng rất dễ bị các loài mãnh thú khác như sư tử, linh cẩu cướp mất mồi. Người ta từng thấy nó có thể tha con mồi nặng gấp ba lần nó lên cây.

Phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ khi Carl Linnaeus xuất bản mô tả của ông về một con báo trong tác phẩm Systema Naturae năm 1758, có đến 27 phân loài báo được các nhà tự nhiên học mô tả sau đó từ năm 1794 đến năm 1956. Từ năm 1996, theo phân tích DNA được thực hiện vào thập kỷ 1990, chỉ có tám phân loài được xem là hợp lệ.[3] Sau đó phân tích chỉ ra một phân loài hợp lệ thứ chín, báo Ả Rập. Do hạn chế lấy mẫu báo châu Phi, con số này có thể đánh giá không đúng mức.[4]

Chín phân loài được IUCN thừa nhận là:[4][5][6]

Phân loài báo
Phân loài Mô tả Hình ảnh
Báo châu Phi (P. p. pardus) Sống tại châu Phi hạ Sahara. Đây là phân loài báo trải rộng nhất. Leopard (Panthera pardus).jpg
Báo Ấn Độ (P. p. fusca) loài bản địa tại tiểu lục địa Ấn Độ. Trải rộng tại Ấn Độ, Nepal, BangladeshBhutan. 2007-kabini-leopard.jpg
Báo Ả Rập (P. p. nimr), còn gọi là báo Erythrean loài bản địa tại bán đảo Ả Rập. Sinh sống tại khu vực khô cằn ở Ả Rập Saudi, Israel, JordanUAE. Đây là phân loài báo nhỏ nhất. PikiWiki Israel 14861 judean desert leopard cropped.JPG
Báo Ba Tư (P. p. saxicolor), còn gọi là báo Trung Á hay báo Caucasia Sinh sống tại Kavkaz, Turkmenistan, Afghanistan và phía bắc Iran.[6] Đây là phân loài báo lớn nhất. Leopard3.jpg
Báo Hoa Bắc (P. p. japonensis), cũng gọi đơn giản là báo Trung Quốc chỉ bản địa tại miền trung và miền bắc Trung Quốc. Là một trong những phân loài báo kích thước vừa. Panthera pardus japonensis JdP.jpg
Báo Amur (P. p. orientalis), còn gọi là báo viễn đông hay báo Siberia ngày nay chỉ tìm được ở khu vực lạnh giá viễn Đông NgaĐông bắc Trung Quốc. Đây là phân loài báo cực kỳ nguy cấp nhất, và một trong những loài động vật nguy cấp trên thế giới. Hiện đã tuyệt chủng tại Bán đảo Triều Tiên.. Leopard in the Colchester Zoo.jpg
Báo Đông Dương (P. p. delacouri), còn gọi là báo Hoa Nam Trải rộng tại lục địa Đông Nam ÁHoa Nam. Indochinese leopard.jpg
Báo Java (P. p. melas) Phân loài chỉ sống ở Indonesia. Tìm được trên đảo Java của Indonesia.. Đây là một trong những phân loài báo cực kỳ nguy cấp nhất. Panthera pardus melas (Tierpark Berlin) - 1006-888-(118).jpg
Báo Sri Lanka (P. p. kotiya) chỉ tìm được tại Sri Lanka. Slleo1.jpg

Một phân tích hình thái đặc tính hộp sọ báo đưa đến hai phân loài hợp lệ thêm:[6]

Quần thể báo châu Phi dưới đây từng được xem là phân loài cho đến năm 1996:[3][4]

Phân loài báo nhỏ nhất là báo Ả Rập. Con cái trưởng thành nặng ít nhất 18 kg (40 lb).[7] Phân loài lớn, trong đó con đực nặng đến 91 kg (201 lb), là báo Sri Lanka và báo Ba Tư. Khu vực sinh sống của phân loài báo lớn thiếu vắng hổ và sư tử, báo hoa ở phía trên cùng của chuỗi thức ăn không hạn chế cạnh tranh từ con mồi lớn.[8]

Bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Một con báo hoa mai đang chạy

Báo hoa mai là một điều ngạc nhiên trong số các thú ăn thịt loại to. Ước tính có khoảng 50.000 báo hoa mai ở khu vực hạ Sahara của châu Phi. Vì khả năng ngụy trang và thói quen lén lút của chúng, chúng có thể đến rất gần với các khu định cư của con người mà không bị phát hiện. Tuy nhiên sự phá hủy môi trường sống và việc săn trộm đã làm cho một vài nòi báo hoa mai đứng trước nguy cơ diệt chủng, ví dụ, báo hoa mai Amur, báo hoa mai Anatolia, báo hoa mai Barbary, báo hoa mai Hoa Bắc hay báo hoa mai nam Ả Rập.

Tấn công con người[sửa | sửa mã nguồn]

Báo hoa mai, mặc dù kích thước nhỏ của chúng, cũng là những kẻ săn mồi có khả năng giết người như những mãnh thú khác. Ở Ấn Độ, do môi trường sống thu hẹp, báo hoa mai thường xuyên đi lạc vào những khu dân cư và tấn công người. Báo hoa mai ở Rudraprayag được cho là giết chết hơn 125 người và con ở Panar bị cho là giết 400 người sau khi bị thương bởi những kẻ săn trộm và vì thế không còn khả năng săn các con mồi bình thường. Cả hai con này cuối cùng đã bị giết chết bởi nhà săn thú khổng lồ và tác giả nổi tiếng Jim Corbett. Có ghi nhận những ngôi làng hẻo lánh trên dãy Himalaya ở Ấn Độ, khi một con báo ranh mãnh sát hại 12 người trong 2 năm qua, điều đặc biệt là con báo chỉ tấn công những người say rượu, lảo đảo bước về nhà trong bóng tối sau khi tàn cuộc nhậu. Sự ranh mãnh của con vật reo rắc nỗi kinh hoàng đối với người dân trong khu vực.[9]

Đi săn cùng báo hoa mai, từ con tem của Jean Stradan (thế kỷ 16)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cat Specialist Group (2002). Panthera pardus. Sách đỏ 2006. IUCN 2006. Truy cập 12 tháng 5 năm 2006. Mục lục trong cơ sở dữ liệu kèm lý giải tại sao loài này được xếp vào loại có nguy cơ.
  2. ^ http://www.baodatviet.vn/khoa-hoc-cong-nghe/the-gioi-quanh-ta/201303/Khi-dau-cho-tu-chien-voi-bao-hoa-mai-2344153/
  3. ^ a ă Miththapala, S.; Seidensticker, J.; O'Brien, S. J. (1996). “Phylogeographic Subspecies Recognition in Leopards (P. pardus): Molecular Genetic Variation”. Conservation Biology 10 (4): 1115–1132. doi:10.1046/j.1523-1739.1996.10041115.x. 
  4. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Uphyrkina
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên iucn
  6. ^ a ă â Khorozyan, I. G.; Gennady, F.; Baryshnikov, G. F.; Abramov, A. V. (2006). “Taxonomic status of the leopard, Panthera pardus (Carnivora, Felidae) in the Caucasus and adjacent areas” (PDF). Russian Journal of Theriology 5 (1): 41–52. 
  7. ^ Spalton, J.A. and H.M. Al Hikmani (2006). The Leopard in the Arabian Peninsula – Distribution and Subspecies Status. Cat News Special Issue Special Issue 1: 4–8.
  8. ^ Brakefield, T. (1993). Big Cats: Kingdom of Might. ISBN 0-89658-329-5. 
  9. ^ Báo ranh mãnh chuyên rình ăn thịt những người say rượu

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]