Mèo đốm Kodkod

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Mèo đốm Kodkod
Leopardus guigna.jpeg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Carnivora
Phân bộ (subordo)Feliformia
Họ (familia)Felidae
Phân họ (subfamilia)Felinae
Chi (genus)Leopardus
Loài (species)L. guigna
Danh pháp hai phần
Leopardus guigna
(Molina, 1782)[2]
Phạm vi phân bố mèo đốm Kodkod, 2015[1]
Phạm vi phân bố mèo đốm Kodkod, 2015[1]
Danh pháp đồng nghĩa
  • Oncifelis guigna

Mèo đốm Kodkod (Leopardus guigna) còn được gọi là güiña, là loài mèo hoang nhỏ nhất ở châu Mỹ. Nó sống chủ yếu ở miền trung và miền nam Chile và một chút ở các khu vực lân cận của Argentina. Khu vực phân bố của nó nhỏ so với các loài mèo Nam Mỹ khác. Kể từ năm 2002, nó đã được đánh giá là loài sắp nguy cấp trong sách đỏ IUCN vì tổng quần thể hữu hiệu có thể bao gồm ít hơn 10.000 cá thể trưởng thành, và đang bị đe dọa do bị ngược đãi và mất môi trường sống cũng như con mồi.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Màu lông của mèo đốm Kodkod dao động từ nâu vàng đến nâu xám. Nó có những đốm đen, mặt dưới nhợt nhạt và đuôi có vòng. Tai có màu đen với một đốm trắng, trong khi các đốm đen trên vai và cổ gần như hợp nhất để tạo thành một loạt các vệt chấm. Mèo đốm Kodkod hắc tạng với lớp lông đen đốm khá phổ biến. Nó có một cái đầu nhỏ, bàn chân lớn và một cái đuôi dày. Những mèo đốm Kodkod trưởng thành có chiều dài từ đầu đến thân từ 37 đến 51 cm với đuôi ngắn 20–25 cm và chiều cao vai khoảng 25 cm. Trọng lượng dao động từ 2 đến 2,5 kg.[3]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Felis guignatên khoa học được sử dụng vào năm 1782 bởi Juan Ignacio Molina, người đầu tiên mô tả một con mèo đốm Kodkod từ Chile. Felis tigrillo là tên được Heinrich Rudolf Schinz sử dụng vào năm 1844.[4]

Chi Leopardus được đề xuất vào năm 1842 bởi John Edward Grey, khi ông mô tả hai bộ da mèo đốm từ Trung Mỹ và hai bộ từ Ấn Độ trong bộ sưu tập của Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, Luân Đôn.[5] Phân chi Oncifelis được Nikolai Severtzov đề xuất vào năm 1851 với mèo Geoffroy là loài điển hình.[6][7] Mèo đốm Kodkod đã được xếp vào chi Leopardus vào năm 1958,[8] và vào chi Oncifelis vào năm 1978.[9]

Ngày nay, chi Leopardus được công nhận rộng rãi là hợp lệ, với hai phân loài mèo đốm Kodkod:[10]

  • L. g. guigna (Molina, 1782) sinh sống ở miền nam Chile và Argentina
  • L. g. tigrillo (Schinz, 1844) sinh sống ở miền trung và miền bắc Chile

Phân bố và sinh cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Mèo đốm Kodkod có mối liên hệ chặt chẽ với các khu rừng mưa ôn đới hỗn hợp ở phía nam Andes và các dãy ven biển, đặc biệt là các khu rừng ValdivianAraucaria của Chile, được đặc trưng bởi sự hiện diện của tre ở tầng dưới. Nó thích môi trường sống rừng mưa ôn đới thường xanh hơn là rừng ẩm ôn đới rụng lá, cây bụi xơ cứng và rừng lá kim. Nó chịu được môi trường sống bị thay đổi, được tìm thấy trong rừng thứ sinh và cây bụi cũng như rừng nguyên sinh, và ven các khu vực định cư và canh tác.[3] Nó dao động đến ngọn cây ở khoảng 1.900 m.[11] Ở Argentina, nó đã được ghi nhận từ rừng trên núi ẩm, có đặc điểm rừng mưa ôn đới Valdivian, bao gồm cấu trúc nhiều lớp với tre, và nhiều dây leo và thực vật biểu sinh.[12]

Hệ sinh thái và hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Mèo đốm Kodkod hoạt động cả ban ngày lẫn ban đêm, mặc dù chúng chỉ mạo hiểm vào địa hình rộng mở dưới sự bao phủ của bóng tối. Vào ban ngày, chúng nghỉ ngơi trong thảm thực vật rậm rạp trong các khe núi, ven suối có lớp phủ dày và trong đống xác chết. Chúng là những tay leo trèo xuất sắc, và có thể dễ dàng leo lên những cây có đường kính hơn một mét. Chúng là động vật ăn thịt trên cạn săn các loài chim, thằn lằn và các loài gặm nhấm trong các khe núi và các khu vực rừng rậm, kiếm săn chim Vanellus chilensis, Turdus falcklandii, Scelorchilus rubecula, Pteroptochos tarnii, ngỗng nhà.[13]

Mèo đốm Kodkod đực duy trì các vùng lãnh thổ độc quyền với kích thước 1,1 đến 2,5 km², trong khi những con cái chiếm phạm vi nhỏ hơn, chỉ 0,5 đến 0,7 km².[14]

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian mang thai kéo dài khoảng 72–78 ngày. Kích thước lứa đẻ trung bình là một đến ba con mèo con. Loài này có thể sống đến khoảng 11 tuổi.[3]

Các mối đe dọa[sửa | sửa mã nguồn]

Mối đe dọa lớn đối với mèo đốm Kodkod là việc khai thác gỗ đối với môi trường sống rừng ẩm ôn đới của nó, và sự lan rộng của các đồn điền rừng thông và nông nghiệp, đặc biệt là ở miền trung Chile.[3] Vào năm 1997 đến 1998, hai trong số năm con mèo đốm Kodkod có cổ vô tuyến đã bị giết trên Đảo Chiloé khi đột kích vào chuồng gà.[15]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Napolitano, C.; Gálvez, N.; Bennett, M.; Acosta-Jamett, G.; Sanderson, J. (2015). Leopardus guigna. IUCN Red List of Threatened Species 2015: e.T15311A50657245. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp)
  2. ^ Wozencraft, W. C. (2005). “Species Leopardus guigna. Trong Wilson, D. E.; Reeder, D. M. Mammal Species of the World . Nhà in Đại học Johns Hopkins. tr. 538. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  3. ^ a ă â b Nowell, K.; Jackson, P. (1996). “Kodkod Oncifelis guigna (Molina, 1782)”. Wild Cats: status survey and conservation action plan. Gland, Switzerland: IUCN/SSC Cat Specialist Group. tr. 115–116. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp)
  4. ^ Schinz, H. R. (1844). “F. Tigrillo. Pöppig”. Systematisches Verzeichniss aller bis jetzt bekannten Säugethiere, oder, Synopsis Mammalium nach dem Cuvier'schen System. Erster Band. Solothurn: Jent und Gassmann. tr. 470. 
  5. ^ Gray, J. E. (1842). “Descriptions of some new genera and fifty unrecorded species of Mammalia”. Annals and Magazine of Natural History 10 (65): 255−267. doi:10.1080/03745484209445232. 
  6. ^ Severtzow, M. N. (1858). “Notice sur la classification multisériale des Carnivores, spécialement des Félidés, et les études de zoologie générale qui s'y rattachent”. Revue et Magasin de Zoologie Pure et Appliquée 2e Série X (Aout): 385–396. 
  7. ^ Pocock, R. I. (1917). “The Classification of existing Felidae”. The Annals and Magazine of Natural History. Series 8 XX (119): 329–350. doi:10.1080/00222931709487018. 
  8. ^ Cabrera, A. (1958). “Dos felidos argentinos ineditos (Mammalia, Carnivora)”. Neotropica 3 (12): 70–72. 
  9. ^ Hemmer, H. (1978). “The evolutionary systematics of living Felidae: Present status and current problems”. Carnivore 1 (1): 71−79. 
  10. ^ Kitchener, A. C.; Breitenmoser-Würsten, C.; Eizirik, E.; Gentry, A.; Werdelin, L.; Wilting, A.; Yamaguchi, N.; Abramov, A. V.; Christiansen, P.; Driscoll, C.; Duckworth, J. W.; Johnson, W.; Luo, S.-J.; Meijaard, E.; O’Donoghue, P.; Sanderson, J.; Seymour, K.; Bruford, M.; Groves, C.; Hoffmann, M.; Nowell, K.; Timmons, Z.; Tobe, S. (2017). “A revised taxonomy of the Felidae: The final report of the Cat Classification Task Force of the IUCN Cat Specialist Group” (PDF). Cat News (Special Issue 11): 57−58. 
  11. ^ Miller, S.D.; Rottmann, J. (1976). Guia para el reconocimiento de mamiferos chilenos [Guide to the recognition of Chilean mammals] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Santiago: Editora Nacional Gabriela Mistral. 
  12. ^ Dimitri, M. (1972). [The Andean-Patagonian forest region: general synopsis] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Colección científica del Instituto Nacional de Tecnologia Agropecuaria 10. 
  13. ^ Sunquist, M.; Sunquist, F. (2002). “Kodkod Oncifelis guigna (Molina, 1782)”. Wild cats of the World. Chicago: University of Chicago Press. tr. 211–214. ISBN 0-226-77999-8.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp)
  14. ^ Freer, R.A. (2004). The spatial ecology of the Güiña in southern Chile (PDF) (PhD). Durham: Durham University. 
  15. ^ Sanderson, J. G.; Sunquist, M. E.; Iriarte, A. W. (2002). “Natural history and landscape-use of guignas (Oncifelis guigna) on Isla Grande de Chloe, Chile”. Journal of Mammalogy 83 (2): 608–613. doi:10.1644/1545-1542(2002)083<0608:NHALUO>2.0.CO;2.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]