Mèo đốm Margay

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Mèo đốm Margay
Margay in Costa Rica.jpg
Mèo đốm Margay ở Costa Rica
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Carnivora
Phân bộ (subordo)Feliformia
Họ (familia)Felidae
Phân họ (subfamilia)Felinae
Chi (genus)Leopardus
Loài (species)L. wiedii
Danh pháp hai phần
Leopardus wiedii
(Schinz, 1821)
Phạm vi phân bố mèo đốm Margay, 2015[1]
Phạm vi phân bố mèo đốm Margay, 2015[1]
Danh pháp đồng nghĩa
  • Felis wiedii

Mèo đốm Margay (Leopardus wiedii) là một loài mèo hoang nhỏ có nguồn gốc từ TrungNam Mỹ. Là loài mèo sống đơn độc và sống về đêm, sống chủ yếu trong rừng rụng láthường xanh nguyên sinh.[2]

Cho đến những năm 1990, mèo đốm Margay bị săn bắt bất hợp pháp cho việc buôn bán động vật hoang dã, dẫn đến một lượng lớn dân số giảm.[3] Kể từ năm 2008, mèo đốm Margay đã được đánh giá là loài sắp bị đe dọa trong sách đỏ IUCN vì dân số được cho là đang suy giảm do mất môi trường sống sau nạn phá rừng.[1]

Trong lần mô tả đầu tiên của mình, Schinz đặt tên cho mèo đốm Margay là Felis wiedii để vinh danh Hoàng tử Maximilian của Wied-Neuwied, người đã thu thập các mẫu vật ở Brazil.[4]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Một con mèo đốm Margay tại Parc des Félins ở Pháp

Mèo đốm Margay rất giống loài mèo gấm Ocelot lớn hơn về ngoại hình, mặc dù đầu ngắn hơn một chút, mắt to hơn, đuôi và chân dài hơn. Nó nặng từ 2,6 đến 4 kg, với chiều dài thân từ 48 đến 79 cm và chiều dài đuôi là 33 đến 51 cm. Không giống như hầu hết những loài mèo khác, con cái chỉ sở hữu hai núm vú.[5]

Bộ lông của nó có màu nâu và được đánh dấu bằng nhiều hàng hoa thị màu nâu sẫm hoặc đen và những vệt dọc. Mặt dưới nhạt màu hơn, từ màu be vàng đến trắng, và đuôi có nhiều dải sẫm màu và chóp đen. Mặt sau của tai màu đen với các mảng trắng hình tròn ở trung tâm.[5]

Đáng chú ý nhất là mèo đốm Margay là loài leo trèo khéo léo hơn nhiều so với họ hàng của nó, và đôi khi nó được gọi là mèo gấm Ocelot cây vì khả năng này. Trong khi mèo gấm Ocelot chủ yếu theo đuổi con mồi trên mặt đất, mèo đốm Margay có thể dành toàn bộ cuộc sống của mình trên cây, nhảy theo và đuổi theo các loài chim và khỉ qua các ngọn cây. Thật vậy, nó là một trong hai loài mèo duy nhất[5] với sự linh hoạt của mắt cá chân cần thiết để leo lên những cái cây từ đầu đến cuối (con còn lại là báo gấm, mặc dù loài mèo gấm được nghiên cứu kém cũng có thể có khả năng này). Nó rất nhanh nhẹn; mắt cá chân của nó có thể quay tới 180 độ, nó có thể nắm lấy cành cây tốt như nhau bằng bàn chân trước và chân sau, và nó có thể nhảy theo chiều ngang lên đến 3,7 m.[5] Mèo đốm Margay đã được quan sát treo trên cành cây chỉ bằng một chân.

Phân bố và sinh cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Mèo đốm Margay phân bố từ các vùng đất thấp nhiệt đới ở Mexico qua Trung Mỹ đến BrazilParaguay.[1] Ở Mexico, nó đã được ghi nhận ở 24 trong số 32 tiểu bang, trải dài về phía bắc lên vùng đất thấp ven biển và Sierra Madres xa về phía bắc như các bang biên giới của Hoa Kỳ như Coahuila, Nuevo LeonTamaulipas ở phía đông và nam Sonora ở phía tây.[6] Rìa phía nam của phạm vi này đến tận Uruguay và bắc Argentina. Nó hầu như chỉ sinh sống trong các khu rừng rậm, từ rừng thường xanh nhiệt đới đến rừng khô nhiệt đới và rừng mây cao. Mèo đốm Margay đôi khi cũng được quan sát thấy trong các đồn điền cà phê và ca cao.[5]

Ghi nhận duy nhất từ Hoa Kỳ đã được thu thập vào khoảng trước năm 1852 gần Eagle Pass, Maverick County, Texas và nó hiện được coi là tuyệt chủng ở Texas.[7][8] Hóa thạch tàn tích của mèo đốm Margay đã được thu thập trong trầm tích PleistocenQuận Cam, Texas dọc theo sông Sabine và nó được cho là đã phân bố một phần đáng kể của miền nam Texas tại một thời điểm. [7]

Bằng chứng hóa thạch của mèo đốm Margay hoặc mèo giống mèo đốm Margay đã được tìm thấy ở FloridaGeorgia có niên đại từ thế Pleistocen, cho thấy rằng chúng đã từng phân bố rộng hơn trong quá khứ.

Hành vi và sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Mèo đốm Margay

Mèo đốm Margay là loài sống về đêm, nhưng cũng đã được quan sát thấy đi săn vào ban ngày ở một số khu vực. Nó thích dành phần lớn thời gian sống trên cây, nhưng cũng di chuyển trên mặt đất, đặc biệt là khi di chuyển giữa các khu vực săn mồi. Vào ban ngày, nó nằm trong các cành hoặc cụm dây leo tương đối khó tiếp cận.

Nó thường sống đơn độc và sống trong những lãnh thổ nhà có diện tích từ 11–16 km². Nó sử dụng mùi hương để đánh dấu lãnh thổ của mình, bao gồm cả việc xịt nước tiểu và để lại những vết cào trên mặt đất hoặc trên cành cây. Tất cả các tiếng kêu của nó đều có âm vực ngắn; nó không gọi qua khoảng cách xa.[5]

Một con mèo đốm Margay đã được quan sát bắt chước giọng nói của một con khỉ sóc nhỏ (Saguinus bicolor) khi đang săn mồi. Điều này đại diện cho quan sát đầu tiên về một động vật ăn thịt Neotropical sử dụng kiểu bắt chước này.[9]

Chế độ ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Mèo đốm Margay trong Hội nghị thượng đỉnh thành phố Parque, Panama

Vì mèo đốm Margay chủ yếu sống về đêm và rất hiếm trong môi trường sống của nó, hầu hết các nghiên cứu về chế độ ăn đều dựa trên chất chứa trong dạ dày và phân tích phân. Loài mèo này săn các loài động vật có vú nhỏ, bao gồm khỉ và chim, trứng, thằn lằn và ếch cây.[10] Nó cũng ăn cỏ, trái cây và các loại thực vật khác, rất có thể giúp tiêu hóa. Một báo cáo năm 2006 về một con mèo đốm Margay đuổi theo những con sóc trong môi trường tự nhiên của nó đã xác nhận rằng mèo đốm Margay có thể săn con mồi hoàn toàn trên cây.[11] Tuy nhiên, mèo đốm Margay đôi khi săn mồi trên mặt đất và đã được báo cáo là ăn con mồi trên cạn, chẳng hạn như chuột míachuột lang nhà.[5]

Sinh sản và vòng đời[sửa | sửa mã nguồn]

Con cái có chu kỳ động dục từ 4 đến 10 ngày trong chu kỳ 32 đến 36 ngày, trong thời gian này chúng thu hút con đực bằng tiếng kêu rên dài. Con đực phản ứng bằng cách la hét hoặc tạo ra âm thanh chói tai, và cũng bằng cách lắc đầu nhanh chóng từ bên này sang bên kia, một hành vi chưa từng thấy ở bất kỳ loài mèo nào khác. Quá trình giao phối kéo dài đến 60 giây và tương tự như ở mèo nhà; nó diễn ra chủ yếu trên cây và xảy ra nhiều lần khi con cái đang động dục.[5] Không giống như các loài họ Mèo khác, mèo đốm Margay không phải là loài phóng noãn.[12]

Quá trình mang thai kéo dài khoảng 80 ngày và thường dẫn đến việc sinh ra một con mèo con (rất hiếm khi có hai con) thường là từ tháng 3 đến tháng 6. Mèo con nặng 85 đến 170 g khi mới sinh. Điều này là tương đối lớn đối với một con mèo nhỏ, và có lẽ liên quan đến thời gian mang thai dài. Mèo con mở mắt khi được khoảng hai tuần tuổi và bắt đầu ăn thức ăn rắn khi được bảy đến tám tuần. Mèo đốm Margay đạt đến độ tuổi trưởng thành về mặt tình dục khi được mười hai đến mười tám tháng tuổi, và được ghi nhận là đã sống hơn 20 năm trong điều kiện nuôi nhốt.[5]

Mèo con có tỷ lệ tử vong là 50%. Cùng với vấn đề chăn nuôi trong điều kiện nuôi nhốt, điều này làm cho triển vọng tăng dân số trở nên rất khó khăn.

Phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

Tika, một con mèo đốm Margay cái chín tháng tuổi, trong khuôn viên của Đài quan sát núi lửa Arenal, Costa Rica

Felis wiediitên khoa học do Heinrich Rudolf Schinz đề xuất vào năm 1821 cho một mẫu động vật từ Brazil.[13] Felis macroura được đề xuất bởi Maximilian von Wied vào năm 1825, người đã mô tả mèo đốm Margay mà ông có được trong các khu rừng dọc theo sông Mucuri ở Brazil.[14] Trong thế kỷ 20, một số mẫu vật điển hình đã được mô tả và đề xuất là các loài hoặc các phân loài mới:

  • Felis glaucula của Oldfield Thomas vào năm 1903 là một con cái trưởng thành bằng da và hộp sọ từ Jalisco ở miền trung Mexico.[15]
  • Felis wiedii vigens bởi Thomas vào năm 1904 là một con đực trưởng thành bằng da và sọ từ Igarapé-Assu gần Pará ở Brazil.[16]
  • Felis pirrensis của Edward Alphonso Goldman vào năm 1914 là một con cái trưởng thành có da và sọ từ Cana ở miền đông Panama.[17]
  • Margay glaucula nicaraguae của Joel Asaph Allen năm 1919 là một con đực trưởng thành có da và sọ từ Volcan de Chinandego ở Nicaragua.[18]
  • Felis glaucula oaxacensisF. g. yucatanicus của Edward William Nelson và Goldman vào năm 1931 là da và hộp sọ của con đực trưởng thành từ Cerro San Felipe ở Oaxaca, và da con cái từ Yucatan, Mexico, tương ứng.[19]
  • Felis wiedii cooperi của Nelson vào năm 1943 là da của một con mèo đực từ Eagle Pass, Texas.[20]

Kết quả nghiên cứu di truyền của mẫu DNA ty thể mèo đốm Margay chỉ ra rằng ba nhóm địa lý tồn tại.[21] Do đó, ba phân loài hiện nay được coi là đơn vị phân loại hợp lệ:[22]

  • L. w. wiedii phía nam của Amazonas
  • L. w. vigens phía bắc của Amazonas
  • L. w. glauculus ở Trung Mỹ

Tên địa phương[sửa | sửa mã nguồn]

Trong ngôn ngữ Tây Ban Nha, nó được gọi là gato tigre, tigrillo, caucel, maracayá hoặc margay. Trong tiếng Bồ Đào Nha, nó được gọi là gato-maracajá hoặc đơn giản là maracajá. Trong ngôn ngữ Guaraní, thuật ngữ mbarakaya ban đầu chỉ dùng để chỉ mèo đốm margay, nhưng bây giờ cũng được sử dụng cho mèo nhà.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b de Oliveira, T.; Paviolo, A.; Schipper, J.; Bianchi, R.; Payan, E.; Carvajal, S.V. (2015). Leopardus wiedii. IUCN Red List of Threatened Species 2015: e.T11511A50654216.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp)
  2. ^ Bisbal, F. J. (1989). “Distribution and habitat association of the carnivores in Venezuela”. Trong K. H. Redford and J. F. Eisenberg. Advances in neotropical mammalogy. Gainesville: Sandhill Crane Press. tr. 339–362. 
  3. ^ Aranda, J. M. (1991). “Wild mammal skin trade in Chiapas, Mexico”. Trong Robinson, J. G.; Redford, K. H. Neotropical wildlife use and conservation. Chicago: University of Chicago Press. tr. 174–177. 
  4. ^ Schinz, H. R. (1821). “Wiedische Katze Felis wiedii. Das Thierreich eingetheilt nach dem Bau der Thiere: als Grundlage ihrer Naturgeschichte und der vergleichenden Anatomie von dem Herrn Ritter von Cuvier. Säugethiere und Vögel, Volume 1. Stuttgart, Tübingen: Cotta. tr. 235–236. 
  5. ^ a ă â b c d đ e ê Sunquist, M.; Sunquist, F. (2002). Wild Cats of the World. Chicago: University of Chicago Press. tr. 135–141. ISBN 0-226-77999-8.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-access= (trợ giúp)
  6. ^ Aranda, M.; Monroy, O. (2014). “Margay”. Trong Ceballos, G. Mammals of Mexico. Baltimore, Maryland: Johns Hopkins University Press. tr. 855–857. ISBN 978-1-4214-0843-9.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp)
  7. ^ a ă Schmidly, D. J. (2004). The Mammals of Texas. [Sixth Edition]. University of Texas Press, Austin, Texas. xviii, 501 pp. ISBN 0-292-70241-8
  8. ^ Kays, R.W.; Wilson, D. E. (2002). Mammals of North America. Illustrated by Sandra Doyle, Nancy Halliday, Ron Klingner, Elizabeth McClelland, Consie Powell, Wendy Smith, Todd Zalewski, Diane Gibbons, Susan C. Morse, Jesse Guertin. Princeton and Oxford: Princeton University Press. ISBN 0-691-07012-1.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-access= (trợ giúp)
  9. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1 tại dòng 1696: Chế độ ID thủ công không rõ.
  10. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1 tại dòng 1696: Chế độ ID thủ công không rõ.
  11. ^ Solórzano-filho, J. A. (2006). “Mobbing of Leopardus wiedii while hunting by a group of Sciurus ingrami in an Araucaria forest of Southeast Brazil”. Mammalia 70 (1/2): 156–157. doi:10.1515/MAMM.2006.031. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2007. 
  12. ^ de Morais, Rosana Nogueira. "Reproduction in small felid males." Biology, Medicine, and Surgery of South American Wild Animals (2008): 312.
  13. ^ Schinz, H. R. (1821). “Wiedische Katze Felis wiedii. Das Thierreich eingetheilt nach dem Bau der Thiere: als Grundlage ihrer Naturgeschichte und der vergleichenden Anatomie von dem Herrn Ritter von Cuvier. Säugethiere und Vögel, Volume 1. Stuttgart, Tübingen: Cotta. tr. 235–236. 
  14. ^ Wied zu, M. (1825). Felis macroura. Beiträge zur Naturgeschichte von Brasilien II. Weimar: Gr. H. S. priv. Landes-Industrie-Comptoirs. tr. 371–379. 
  15. ^ Thomas, O. (1903). “Notes on Neotropical mammals of the genera Felis, Hapale, Oryzomys, Akodon and Ctenomys, with descriptions of new species”. Annals and Magazine of Natural History. 7 12 (68): 234–243. doi:10.1080/00222930308678847. 
  16. ^ Thomas, O. (1904). “New Callithrix, Midas, Felis, Rhipidomys and Proechimys from Brazil and Ecuador”. The Annals and Magazine of Natural History. 7 14 (81): 188–196. doi:10.1080/03745480409442992. 
  17. ^ Goldman, E. A. (1914). “Descriptions of five new mammals from Panama”. Smithsonian Miscellaneous Collections 63 (5): 1–7. 
  18. ^ Allen, J. A. (1919). “Notes on the synonymy and nomenclature of the smaller spotted cats of tropical America” (PDF). Bulletin of the American Museum of Natural History 41: 341–419. 
  19. ^ Nelson, E. W.; Goldman, E. A. (1931). “New carnivores and rodents from Mexico”. Journal of Mammalogy 12 (3): 302–306. JSTOR 1373882. doi:10.2307/1373882. 
  20. ^ Nelson, E. W. (1943). “The races of the ocelot and margay in Middle America”. Journal of Mammalogy 24 (3): 372–385. JSTOR 1374838. doi:10.2307/1374838. 
  21. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1 tại dòng 1696: Chế độ ID thủ công không rõ.
  22. ^ Kitchener, A. C.; Breitenmoser-Würsten, C.; Eizirik, E.; Gentry, A.; Werdelin, L.; Wilting, A.; Yamaguchi, N.; Abramov, A. V.; Christiansen, P.; Driscoll, C.; Duckworth, J. W.; Johnson, W.; Luo, S.-J.; Meijaard, E.; O’Donoghue, P.; Sanderson, J.; Seymour, K.; Bruford, M.; Groves, C.; Hoffmann, M.; Nowell, K.; Timmons, Z.; Tobe, S. (2017). “A revised taxonomy of the Felidae: The final report of the Cat Classification Task Force of the IUCN Cat Specialist Group” (PDF). Cat News. Special Issue 11: 49−50. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]