Mèo manul

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Mèo manul
Manoel.jpg
Mèo manul tại Vườn thú Rotterdam
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Carnivora
Phân bộ (subordo)Feliformia
Họ (familia)Felidae
Phân họ (subfamilia)Felinae
Chi (genus)Otocolobus
Brandt, 1841
Loài (species)O. manul
Danh pháp hai phần
Otocolobus manul
(Pallas, 1776)
Phạm vi phân bố mèo manul, 2016[1]
Phạm vi phân bố mèo manul, 2016[1]

Mèo manul hay mèo Pallas (Otocolobus manul) là một loài mèo hoang nhỏ có nguồn gốc từ đồng cỏ và cây bụi trên núi ở Caucasus, Hindu Kush, một phần của dãy Himalaya, Cao nguyên Tây Tạng, Thiên Sơn và dãy núi Nam Siberia. Với bộ lông dài và rậm, nó thích nghi tốt với khí hậu lục địa lạnh giá ở khu vực ít mưa và trải qua nhiều nhiệt độ. Chiều dài đầu và thân của nó từ 46 đến 65 cm với đuôi dài 21 đến 31 cm. Tai của nó được đặt thấp ở hai bên đầu để nó có thể nhìn qua đá mà không làm tai bị lõm.

Nó được mô tả lần đầu tiên vào năm 1776 bởi nhà tự nhiên học người Đức Peter Simon Pallas.[2][3] Nó bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sự suy thoái môi trường sống, suy giảm số lượng con mồi và săn bắn. Nó đã được đánh giá là loài ít quan tâm nhất trong sách đỏ IUCN kể từ năm 2020.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Mèo manul có kích thước tương tự như mèo nhà, với thân có chiều dài từ 46 đến 65 cm và đuôi dài 21 đến 31 cm. Nó nặng 2,5 đến 4,5 kg. Lông của nó màu nâu vàng nhạt với những sọc dọc sẫm màu trên thân và hai chân trước. Bộ lông mùa đông xám hơn và ít hoa văn hơn so với bộ lông mùa hè. Có các vòng màu đen rõ ràng trên đuôi và các đốm sẫm màu trên trán. Má màu trắng với các sọc màu đen hẹp chạy từ khóe mắt. Cằm và cổ họng cũng màu trắng, hòa vào bộ lông mượt màu ánh xám của phần bụng. Các viền màu đen và trắng đồng tâm xung quanh hai mắt làm nổi bật hình dạng tròn của chúng. Các chân ngắn hơn cân xứng theo tỷ lệ so với những con mèo khác, tai nằm rất thấp và xòe rộng, và nó có móng vuốt ngắn bất thường. Khuôn mặt ngắn hơn so với những con mèo khác, tạo ra cho nó một bộ mặt dẹt. Các hàm ngắn hơn có ít răng hơn so với thông thường ở các loài mèo, với cặp răng tiền hàm đầu tiên của hàm trên bị thiếu[4].

Phân bố và sinh cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Mèo manul tại sở thú Edinburgh

Mèo manul là loài bản địa các vùng thảo nguyên Trung Á, ở độ cao lên đến 5.050 mét[5]. Chúng được tìm thấy trong các khu vực Transkavkaz và Transbaikal của Nga, ít thấy hơn ở các nước cộng hòa Altai, Tyva, và Buryatia. Nó cũng sống ở Kyrgyzstan, Kazakhstan, Mông Cổ, Kashmir ở Ấn Độ, và ở hầu khắp miền Tây Trung Quốc, đặc biệt là ở cao nguyên Tây Tạng[1][6]. Năm 1997, lần đầu tiên người ta thông báo là nó có mặt ở phía đông dãy núi Sayan[7]. Các quần thể trong khu vực biển Caspi, Afghanistan và Pakistan đang suy giảm, và ngày càng bị cô lập[8][9]. Năm 2008, một cá thể mèo manul đã được chụp ảnh bằng bẫy máy ảnh tại vườn quốc gia Khojir của Iran lần đầu tiên[10].

Phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

Ba phân loài được công nhận:[11][12]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Ross, S.; Barashkova, A.; Dhendup, T.; Munkhtsog, B.; Smelansky, I.; Barclay, D.; Moqanaki, E. (2020). Otocolobus manul. IUCN Red List of Threatened Species 2020: e.T15640A180145377. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2020.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp) Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “iucn” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  2. ^ Pallas, P. S. (1776). [242,%22view%22:%22info%22} “Felis manul”]. Reise durch verschiedene Provinzen des russischen Reichs in einem ausführlichen Auszuge. Volume 3. Frankfurt und Leipzig: J. G. Fleischer. tr. 692. 
  3. ^ Pallas, P. S. (1811). “Felis Manul”. Zoographia Rosso-Asiatica, sistens omnium Animalium in extenso Imperio Rossico et adjacentibus maribus observatorum recensionem, domicillia, mores et descriptiones, anatomen atque icones plurimorum. Volume 1. Petropoli: Officina Caes. Acadamiae scientiarum. tr. 20–23. 
  4. ^ Sunquist, Mel; Sunquist, Fiona (2002). Wild cats of the World. Chicago: University of Chicago Press. tr. 219–224. ISBN 0-226-77999-8. 
  5. ^ Fox, J. L. and Dorji, T. 2007. High elevation record for occurrence of the manul or Pallas cat on the northwestern Tibetan plateau, China. Cat News 46: 35.
  6. ^ Anonymous. 2008. Pallas Cat study and conservation program. Novosibirsk.
  7. ^ Koshkarev E. 1998. Discovery of manul in eastern Sayan. Cat News 29: 12-13.
  8. ^ Belousova A. V. 1993. Small Felidae of Eastern Europe, Central Asia and Far East. Survey of the state of populations. Lutreola 2: 16.
  9. ^ Habibi, K. 2003. Mammals of Afghanistan. Zoo Outreach Organisation/ USFWS, Coimbatore, India.
  10. ^ Chalani, M., Ghoddousi, A., Ghadirian, T., Goljani, R. 2008. First Pallas’s Cat Photo-trapped in Khojir National Park, Iran. Cat News 49: 7.
  11. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên msw3
  12. ^ Ellerman, J. R., Morrison-Scott, T. C. S. (1966). Checklist of Palaearctic and Indian mammals 1758 to 1946. Second edition. British Museum of Natural History, London. Pp. 308

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]