Sói vàng châu Phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Sói vàng châu Phi
Thời điểm hóa thạch: 1.3–0 triệu năm trước đây Giữa thế Pleistocen – Gần đây
Golden wolf small.jpg
Canis anthus bea tại vùng núi lửa Ngorongoro, Tanzania
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Carnivora
Phân bộ (subordo)Caniformia
Họ (familia)Canidae
Chi (genus)Canis
Loài (species)C. anthus
Danh pháp hai phần
Canis anthus[2]
F. Cuvier, 1820
Khu vực phân bố sói vàng châu Phi
Khu vực phân bố sói vàng châu Phi
Phân loài

Sói vàng châu Phi (Canis anthus hoặc Canis lupaster) là một loài Họ Chó có nguồn gốc từ Bắc PhiSừng châu Phi. Chúng là hậu duệ của một loài Họ Chó được trộn lẫn về mặt di truyền gồm 72% sói xám và 28% sói Ethiopia. Chúng sống ở Sénégal, Nigeria, Chad, Morocco, Algeria, Tunisia, Libya, Kenya, Ai CậpTanzania. Chúng được đánh giá là ít quan tâm trong sách đỏ của IUCN. Trên những dãy núi Atlas, chúng được tìm thấy ở độ cao tới 1.800 m (5.900 ft).[3] Chúng chủ yếu là động vật ăn thịt, săn động vật không xương sốngđộng vật có vú lớn như linh dương, mặc dù những động vật lớn hơn đôi khi cũng bị săn. Nguồn thức ăn của chúng cũng bao gồm xác động vật, thức ăn thừa của con người và trái cây. Khi sinh sản, sói vàng châu Phi chỉ có một bạn tình; những đứa con ở lại với gia đình để hỗ trợ trong việc nuôi dạy những con non khác của cha mẹ chúng.[4]

Chúng trước đây được phân loại là một biến thể châu Phi của loài chó rừng lông vàng, với ít nhất một phân loài (Canis anthus lupaster) đã được phân loại là một loài sói. Vào năm 2015, một loạt các phân tích về DNA và bộ gen hạt nhân của loài này đã chứng minh rằng, trên thực tế, chúng khác với cả chó rừng lông vàng và sói xám, và có liên quan chặt chẽ hơn với sói xám và sói đồng cỏ.[5] Tuy nhiên, chúng vẫn đủ gần gũi với loài chó rừng lông vàng để có thể sinh sản và tạo ra con lai, như được chỉ ra thông qua các xét nghiệm di truyền trên chó rừng ở Israel [8] và một thí nghiệm lai tạo bị giam cầm trong thế kỷ 19.[6]

Chúng đóng vai trò nổi bật trong một số nền văn hóa châu Phi; trong văn hóa dân gian Bắc Phi, chúng được xem là một loài động vật không đáng tin cậy nhưng các bộ phận cơ thể của chúng có thể được sử dụng cho mục đích y học hoặc nghi lễ.[7][8][9] .Trong khi đó, chúng được tôn trọng trong tôn giáo Serer của Senegal như là sinh vật đầu tiên được tạo ra bởi thần Roog.[10]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị nil. Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  2. ^ (tiếng Pháp) Cuvier, Frédéric (1824), Histoire naturelle des mammifères, tome 2, A Paris: Chez A. Belin...
  3. ^ (tiếng Pháp) Rachid Tarik, "Le loup apparaît dans la région d'Azilal"[liên kết hỏng], Le Matin (April 29, 2013)
  4. ^ “The behavior guide to African mammals: including hoofed mammals, carnivores, primates”. 
  5. ^ (tiếng Tây Ban Nha) Urios, Vicente; Donat-Torres, Maria P.; Ramírez, Carlos; Monroy-Vilchis, Octavio; Hamid Rgribi-Idrissi (2015): El análisis del genoma mitocondrial del cánido estudiado en Marruecos manifiesta que no es ni lobo (Canis lupus) ni chacal euroasiático (Canis aureus). figshare. doi:10.6084/m9.figshare.1524971
  6. ^ (tiếng Pháp) Cuvier, Frédéric (1824), Histoire naturelle des mammifères, tome 3, A Paris : Chez A. Belin ...
  7. ^ Osborn, Dale. J.; Helmy, Ibrahim (1980). "The contemporary land mammals of Egypt (including Sinai)". Field Museum of Natural History, pp. 360-371
  8. ^ Bidwell, M. & Bidwell, R. (2005), The Traveller's Companion, Second Edition, Tauris Parke Paperbacks, p. 228, ISBN 1845111079
  9. ^ Westermarck, E. (2013), Ritual and Belief in Morocco: Vol. II, Routledge Revivals, ISBN 1317912616
  10. ^ (tiếng Pháp) Gravrand, Henry (1990), "La Civilisation Sereer - Pangool", vol. 2. Les Nouvelles Editions Africaines du Senegal, pp. 201−203, ISBN 2-7236-1055-1

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]