Chó hoang châu Phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lycaon pictus
LycaonPictus.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Canidae
Chi (genus) Pseudalopex
Loài (species) L. pictus
Danh pháp hai phần
Lycaon pictus
(Temminck, 1820)[2]
Bản đồ phân bố chó hoang châu Phi
Bản đồ phân bố chó hoang châu Phi
Danh pháp đồng nghĩa
  • Canis pictus

Chó hoang châu Phi (danh pháp hai phần: Lycaon pictus) là một loài động vật có vú trong họ Chó, bộ Ăn thịt. Loài này được Temminck mô tả năm 1820.[2] Chúng là loài có cú cắn mạnh nhất trong các loài động vật có vú trong bộ ăn thịt.

Đã từng có khoảng 500.000 con chó hoang dã châu Phi trong 39 quốc gia, và bầy 100 con hoặc nhiều hơn không phải là hiếm. Nay chỉ có khoảng 3.000-5.500 trong ít hơn 25 quốc gia, hoặc có lẽ chỉ có 14 quốc gia. Chúng chủ yếu được tìm thấy ở miền đông và miền nam châu Phi, chủ yếu ở hai quần thể còn lại lớn liên quan với dự trữ, Selous Game Reserve ở Tanzania và dân số tập trung ở phía bắc Botswana và Namibia phía đông. Dân số nhỏ hơn nhưng dường như an toàn của một số 100 cá nhân được tìm thấy ở Zimbabwe (Vườn quốc gia Hwange), Nam Phi (Vườn quốc gia Kruger), và phức hợp Ruaha / Rungwa / Kisigo của Tanzania. Quần thể bị cô lập vẫn tồn tại Zambia, Kenya và Mozambique. Số lượng loài này thời điểm năm 2016 ước khoảng 39 tiểu quần thể có chứa 6.600 con trưởng thành, chỉ có 1.400 cá thể trong số đó là cá thể trưởng thành đang sinh sản.[3] Sự suy giảm của các quần thể này đang diễn ra, do sự phân mảnh môi trường sống, sự đàn áp của con người và dịch bệnh.[1] Loài chó châu Phi hoang dã bị đe dọa bởi nạn nhân mãn của con người, mất nơi sống và giết chết kiểm soát động vật ăn thịt. Nó sử dụng vùng lãnh thổ rất lớn (và như vậy chỉ có thể tồn tại trong động vật hoang dã đông đảo).

Chó hoang dã châu Phi là một động vật xã hội cao, sống trong các gói có phân cấp thống trị riêng biệt cho con đực và con cái. Duy nhất trong số động vật ăn thịt xã hội, con cái chứ không phải là con đực sinh sống phân tán khỏi đàn khi thành thục về sinh dục, và con non được ưu tiên cho ăn đầu tiên khi bắt được con mồi. Loài này loài này là loài săn mồi chuyên biệt đối với linh dương, mà nó bắt bằng cách đuổi theo chúng để làm con mồi kiệt sức. Giống như các loại chó khác, loài này ợ thức ăn ra cho con non, nhưng hành động này cũng được mở rộng cho con lớn, đến mức là nền tảng của đời sống xã hội chó hoang châu Phi.[4][5][6] Chúng có rất ít loài săn mồi tự nhiên, mặc dù sư tử là một nguồn chính của khiến loài chó này tử vong, và linh cẩu đốm là loài ký sinh ăn cướp thường xuyên.

Mặc dù không nổi bật trong văn hóa dân gian châu Phi hay văn hóa như loài ăn thịt châu Phi khác, nó đã được tôn trọng trong một số xã hội săn bắn hái lượm, đặc biệt là những người dân người Ai Cập tiền sửngười San.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă McNutt et al. (2008). Lycaon pictus. 2008 Sách đỏ IUCN. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế 2008. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2008. Database entry includes justification for why this species is endangered
  2. ^ a ă Wilson, D. E.; Reeder, D. M. biên tập (2005). “Lycaon pictus”. Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  3. ^ “Lycaon pictus”. IUCN Red List of Threatened Species. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2016. 
  4. ^ “AWD - Facts”. Born Free Foundation (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2017. 
  5. ^ “African Wild Dog (Lycaon pictus Temminck, 1820) - WildAfrica.cz - Animal Encyclopedia”. www.wildafrica.cz. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2017. 
  6. ^ “African Wild Dog Natural History”. www.awdconservancy.org. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2017. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]