Cáo cát Tây Tạng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Cáo cát Tây Tạng
Tibet Fox.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Carnivora
Họ (familia)Canidae
Chi (genus)Vulpes
Loài (species)V. ferrilata[2]
Danh pháp hai phần
Vulpes ferrilata
Hodgson, 1842[3]
Phạm vi phân bố cáo Tây Tạng
Phạm vi phân bố cáo Tây Tạng
Danh pháp đồng nghĩa
Vulpes ekloni (Przewalski, 1883)

Cáo cát Tây Tạng hay cáo Tây Tạng (Vulpes ferrilata) là một loài cáo thực sự đặc hữu của cao nguyên Tây Tạng, cao nguyên Ladakh, Nepal, Trung Quốc, SikkimBhutan, lên đến độ cao khoảng 5.300 m. Nó được liệt kê là loài ít quan tâm trong sách đỏ IUCN, do phạm vi phổ biến của nó trên thảo nguyên và bán sa mạc của cao nguyên Tây Tạng.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Cáo Tây Tạng nhỏ và gọn, với bộ lông mềm và dày, mõm hẹp dễ thấy và đuôi rậm rạp. Mõm, vương miện, cổ, lưng và cẳng chân của nó có màu rám nắng đến màu xù, trong khi má, hai bên sườn, cẳng chân và mông của nó có màu xám. Đuôi của nó có chóp màu trắng. Tai ngắn có màu rám nắng đến hơi xám ở mặt sau, trong khi mặt trong và mặt dưới có màu trắng. Cáo Tây Tạng trưởng thành dài 60 đến 70 cm, không tính đuôi, và có chiều dài đuôi từ 29 đến 40 cm. Cân nặng của con trưởng thành thường từ 4 đến 5,5 kg.[4]

Trong số các loài cáo thực sự, hộp sọ của nó chuyên hướng nhất về việc ăn thịt[5]; nó dài hơn về chiều dài đáy, và chiều dài răng hàm và má, so với những con cáo đồi. Vùng sọ của nó ngắn hơn vùng sọ của cáo đồi và các vòm hợp tử hẹp hơn. Hàm của nó cũng hẹp hơn nhiều và phần trán lõm xuống. Răng nanh của nó cũng dài hơn nhiều so với răng của cáo đồi.[6]

Phân bố và sinh cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Cáo Tây Tạng bị giới hạn ở cao nguyên Tây Tạng ở miền tây Trung Quốc và cao nguyên Ladakh ở miền bắc Ấn Độ. Nó xuất hiện ở phía bắc của dãy Himalaya ở các vùng biên giới cực bắc của Nepal và Ấn Độ, qua Tây Tạng, và ở một số tỉnh của Trung Quốc như Thanh Hải, Cam Túc, Tân Cương, Vân NamTứ Xuyên. Nó chủ yếu sinh sống ở các đồng cỏ từ bán khô cằn đến khô cằn, cách xa con người hoặc khỏi các thảm thực vật dày. Nó sống ở vùng đồng bằng và đồi núi cao từ 3.500 đến 5.200 m, và đôi khi được nhìn thấy ở độ cao khoảng 2.500 m.[7]

Hành vi và sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Cáo Tây Tạng chủ yếu săn thỏ cộc cao nguyên, tiếp theo là gặm nhấm, marmot, thỏ đồng lông lenthằn lằn. Nó cũng nhặt xác của linh dương Tây Tạng, hươu xạ, cừu Bharalgia súc. Cáo Tây Tạng chủ yếu sống đơn độc, đi săn vào ban ngày do con mồi chính của chúng, thỏ cộc, hoạt động vào ban ngày.[8] Cáo Tây Tạng có thể hình thành mối quan hệ hòa hợp với gấu nâu trong các cuộc săn lùng thỏ cộc. Những con gấu đào các con thỏ cộc lên, và cáo tóm lấy chúng khi chúng thoát khỏi gấu.[4]

Các cặp giao phối vẫn ở cùng nhau và cũng có thể đi săn cùng nhau.[9] Sau thời gian mang thai khoảng 50 đến 60 ngày, hai đến bốn con non được sinh ra trong một hang ổ, và ở với bố mẹ cho đến khi chúng được tám đến mười tháng tuổi. Các hang của chúng được tạo ra ở chân các tảng đá, tại các đường bãi biển cũ và độ dốc thấp. Các ổ có thể có bốn lối vào, với lối vào có đường kính 25–35 cm.[8]

Bệnh tật và ký sinh trùng[sửa | sửa mã nguồn]

Cáo Tây Tạng ở huyện Sêrxü thuộc tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc bị nhiễm sán Echinococcus nặng, trong khi cáo ở miền tây Tứ Xuyên là vật chủ chính xác của bệnh hydatid phế nang.[8]

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bức ảnh chụp một con marmot Himalaya bị cáo Tây Tạng tấn công đã giành giải nhất trong giải thưởng Nhiếp ảnh gia Động vật Hoang dã của năm 2019.[10]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Harris, R. (2014). Vulpes ferrilata. IUCN Red List of Threatened Species 2014: e.T23061A46179412. 
  2. ^ Wozencraft, W. C. (2005). “Species Vulpes ferrilata. Trong Wilson, D. E.; Reeder, D. M. Mammal Species of the World . Nhà in Đại học Johns Hopkins. tr. 532–628. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  3. ^ Hodgson, B. H. (1842). “Notice of the Mammals of Tibet, with Descriptions and Plates of some new Species”. Journal of the Asiatic Society of Bengal 11 (124): 278–279. 
  4. ^ a ă Harris, R. B.; Wang, Z. H.; Zhou, J. K.; Liu, Q. X. (2008). “Notes on biology of the Tibetan fox (Vulpes ferrilata)” (PDF). Canid News 11: 1–7.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp)
  5. ^ Heptner, V. G.; Naumov, N. P. (1998) [1967]. “Genus Vulpes Oken, 1816”. Mammals of the Soviet Union. Volume II Part 1a, Sirenia and Carnivora (Sea cows; Wolves and Bears). Washington, D.C.: Smithsonian Institution Libraries and The National Science Foundation. tr. 385–570. 
  6. ^ Pocock, R. I. (1941). Vulpes ferrilata Hodgson. The Tibetan Sand Fox”. Fauna of British India: Mammals. Volume 2. London: Taylor and Francis. tr. 140–146. 
  7. ^ Clark, H. O.; Newman, D. P.; Murdoch, J. D.; Tseng, J.; Wang, Z. H.; Harris, R. B. (2008). “Vulpes ferrilata (Carnivora: Canidae)”. Mammalian Species (821): 1–6. doi:10.1644/821.1.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)
  8. ^ a ă â Sillero-Zubiri, C.; Hoffman, M.; MacDonald, D. W. (2004). “Tibetan Fox” (PDF). Canids: Foxes, Wolves, Jackals and Dogs - 2004 Status Survey and Conservation Action Plan. IUCN/SSC Canid Specialist Group. ISBN 2-8317-0786-2. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2006.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  9. ^ Liu, Q.X.; R. B. Harris; X.M. Wang; Z.H. Wang (2007). “Home range size and overlap of Tibetan foxes (Vulpes ferrilata) in Dulan County, Qinghai Province”. Acta Theriologica Sinica (bằng tiếng Trung) 27: 370–75.  Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-style= (trợ giúp)
  10. ^ “Wildlife photographer of the year 2019 winners – in pictures”. The Guardian. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2019. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]