Chúa sơn lâm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Hổ được coi là Chúa sơn lâm ở một số quốc gia châu Á. Người Trung Quốc cho rằng những sọc vằn trên trán hổ là biểu tượng của chữ Vương, người Việt Nam còn gọi hổ bằng những danh xưng tôn kính như "Ông", "ngài", sơn quân và thờ phụng ở nhiều nơi

Chúa sơn lâm là một thuật ngữ có tính ước lệ trong biểu tượng văn hóa dùng để chỉ về một loài động vật có thật được tôn xưng lên vị trí cao nhất trong vương quốc các loài động vật (trừ con người). Vai trò này có ở nơi chúng hiện diện cũng như trong tâm thức và văn hóa đồng thời từ đó được gắn liền với các hình thức thờ phụng và mê tín dị đoan. Vua của muôn loài được xưng tụng là động vật mạnh mẽ nhất, khôn ngoan nhất, oai vệ và ảnh hưởng thống trị đến các loài động vật khác và thường gắn liền với biểu tượng của Vương quyền, oai nghiêm, sức mạnh và sự dũng cảm. Chúa sơn lâm còn được gọi với các mỹ từ tôn xưng khác như Chúa tể sơn lâm, Chủ tể sơn lâm, Vua của muôn thú, Vua của muôn loài, Dã thú chi vương, Chúa tể rừng xanh, Mãnh chúa rừng xanh và nhiều tên gọi khác.

Khái luận[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Họa phẩm mô tả cảnh sư tửhổ (Friedrich Specht, 1883). Sư tử cùng với hổ được coi là Chúa tể của muôn loài, nhưng sư tử có ảnh hưởng sâu rộng về mặt văn hóa, tôn giáo, quan niệm là thống trị hơn rất nhiều so với hổ

Thông thường các loài động vật (thường là dã thú) được xưng tựng là Vua chính là những loài dã thú mạnh mẽ, hung hãn, to lớn, và cũng thường là các loài động vật ăn thịt và thường chiếm vị trí động vật đầu bảng trong khu vực chúng sinh sống. Thông thường sự quan tâm dành cho danh hiệu này lại tập trung cho các dã thú sống trên cạn. Những sinh vật có thật thường được tôn xưng ở vị trí này có thể kể đến là sư tửhổ, ít thông dụng hơn là đại bàng, gấu, voi, cá voi, báo... loài sói ở một số nơi cũng nhận được sự ngưỡng mộ nhưng hầu như nó chỉ được coi là thủ lĩnh trong nội bộ của chúng (sói chúa, sói đầu đàn, sói thủ lĩnh) mà hiếm khi phổ quát lên muôn loài. Trong tất cả thú dữ sống trên cạn thì sư tử và hổ luôn được coi là có sức mạnh vô địch[1].

Sư tử với tầm ảnh hưởng to lớn, sâu sắc về văn hóa và tôn giáo của nó luôn được gắn liền với danh hiệu Chúa sơn lâm, Vua của muôn loài, vị vua đích thực của các loài thú ở những nơi có sự hiện diện của chúng cũng như không có sự hiện diện của chúng và dường như danh hiệu này gắn với ý niệm về sư tử[2]. Hổ chỉ có ngôi vị này ở những nơi chúng sinh sống nhưng vẫn lép vế hơn nhiều so với sư tử ngay cả ở nhưng nơi có phân bố của hổ mà không có sự tồn tại của sư tử. Cuộc chiến giữa hổ và sư tử cho ngôi vị Vua của muôn loài luôn là đề tài thu hút nhiều sự quan tâm trong lịch sử, văn hóa và trong thực tế. Nhìn chung thì về mặt văn hóa và tính ngưỡng, quan niệm thì sư tử chiếm ưu thế áp đảo, còn những cuộc đọ sức thực chiến thì hổ là loài được ghi nhận là có lợi thế nhỉnh hơn.

Theo châu lục[sửa | sửa mã nguồn]

Không phải tất cả các loài dã thú lớn và mạnh mẽ, hung hãn đều hiện diện ở khắp nơi trên thế giới hoặc hiện diện đồng loạt ở các hệ sinh thái khác nhau, mỗi châu lục, vùng sinh thái có những loài động mạnh mẽ, hung dữ, gây ảnh hưởng nhất định. Theo châu lục, Vua của muôn thú phổ biến có thể kể đến là:

Một con sư tử châu Phi, chúa tể của thảo nguyên, chúa tể sa mạc
Đại bàng-Chúa tể của bầu trời
  • Tại châu Phi: Vua của muôn thú đã được khẳng định chính là Sư tử, loài vật được coi là thống trị trên các thảo nguyên châu Phi. Tại đây, sư tử được mệnh danh là Chúa sơn lâm với sức mạnh, sự nhanh nhẹn và sự khát máu của mình[3]. Ngoài ra mở một số nơi, đôi khi các loài khác cũng chia sẽ danh hiệu này như voi, tê giác hoặc báo, mặc dù vậy, sư tử vẫn là loài thống trị về mặt thực tế cũng như trong văn hóa trên thảo nguyên châu Phi. Thảo nguyên châu Phi chính là nơi phân bố và hiện diện của loài sư tử và sức mạnh của sư tử đã được ghi dấu trong văn hóa của người bản địa châu Phi rất nhiều các bộ lạc thổ dân đều tôn thờ con sư tử và cho rằng sư tử là loài vật mạnh nhất và người Ai Cập cổ đại cũng dùng hình tượng tiêu biểu cho điều này chính là Nhân sư Ai Cập. Từ đây về mặt văn hóa đã ảnh hưởng đến văn hóa châu Âu tại cửa ngỏ Hy Lạp-La Mã để rồi hình tượng con sư tử được khắc đậm nét trên châu lục này.
  • Tại châu Âu: Vị vua của muôn loài ở châu Âu chính là Sư tử, mặc dù châu Âu thực tế không tồn tại loài này (chúng chỉ từng được biết đến qua những hóa thạch từ thời tiền sử). Sự ảnh hưởng to lớn về văn hóa của sư tử có được do ảnh hưởng của nền Văn minh Hy Lạp-La Mã và trào lưu Phục hưng khai sáng ở châu Âu, cũng như những ảnh hưởng to lớn từ Kinh Thánh. Trong hệ sinh thái ở châu Âu, gấu chính là loài vật to khỏe nhất, tiếp đến là chó sói và ở một số nơi chính là lợn rừng, dù vậy gấu cũng chỉ được cho là vua của muôn thú ở một thời kỳ ngắn trước thời kỳ Trung Cổ và cũng chỉ tồn tại ở một không gian hẹp tại các vùng thuộc các bộ lạc Xen-tíc, Slavơ và Giecman cho đên khi chịu ảnh hưởng của Thiên chúa giáo thì ngai vua đã được chuyển về cho sư tử. Đến thời kỳ phong kiến, Sư tử là loài động vật thống trị thực sự trong văn hóa, chúng là biểu tượng của Hoàng giahiệp sĩ, tượng trưng cho sự Vương quyền, sự cao quý và dũng cảm ở khắp châu Âu. Từ đây chúng ảnh hưởng đến các châu lục và các vùng miền văn hóa khác nơi bị ảnh hưởng bởi văn hóa châu Âu như châu Mỹ, châu Úc, châu Á…
  • Tại Châu Á: Mặc dù là địa bàn phân bố của loài hổ nhưng Sư tử được khẳng định vị trí Chúa sơn lâm trong phần lớn lãnh thổ này. Trong những phần lãnh thổ còn lại Hổ được gọi là chúa sơn lâm. Dù loài hổ và đây là loài thú được coi là mạnh nhất trên cạn ở đây nhưng so với sư tử, loài chỉ phân bố một cách hạn chế ở châu lục này thì chúng phải nhường ngôi vị Vua cho sư tử ngay trên chính lãnh thổ của chúng, do ảnh hưởng sâu sắc về văn hóa và đặc biệt là tôn giáo. Nhiều vùng lãnh thổ không có sự phân bố của sư tử nhưng chúng vẫn được coi là chúa Sơn lâm, dã thú chi vương trong tâm thức và các hình thức văn hóa chẳng hạn như ở Trung Quốc, Việt Nam (trong quan niệm thông thường), trong khi đó ở những vùng Lưỡng Hà, Ba Tư, cao nguyên Iran nơi từng ghi nhận sự phân bố tập trung của loài hổ nhưng hổ vẫn không để lại nhiều trong văn hóa nơi đây và hoàn toàn mờ nhạt trước hình tượng của sư tử.
  • Tại châu Mỹ: Đối với quan niệm của thổ dân bản địa, Đại bànggấu đôi khi là báo đốmbáo sư tử trong những khu vực có sự hiện diện của chúng được coi là Vua của các loài thú một cách không chính thức. Ở Bắc Mỹ, loài động vật ăn thịt to lớn nhất chính là các loài trong họ nhà gấu còn ở Nam Mỹ, loài ăn thịt to lớn nhất và mạnh nhất chính là báo đốm, nhưng Đại bàng là loài được ngưỡng mộ nhất và gắn liền với danh hiệu "Chúa tể của bầu trời". Sau này, do ảnh hưởng của văn hóa phương Tây từ Âu châu, nơi ngươi ta đề cao vị trí độc tôn của Sư tử, dần lấn át văn hóa bản địa, sư tử tuy không tồn tại ở đây nhưng cũng được thừa nhận về mặt văn hóa là Chúa tể muôn loài.
  • Tại châu Úc: Không có biểu tượng Vua của muôn thú một cách rõ ràng. Động vật ăn thịt lớn nhất ở châu Úc chính là loài cá sấu, động vật ăn thịt lớn nhất trên cạn chính là chó hoang Dingo nhưng hai loài này không được xem là vị vua nơi chúng hiện hiện. Trong tâm thức những người dân di cư và do ảnh hưởng của Văn hóa phương Tây thì Sư tử cũng được công nhận là vua của muôn thú, mặc dù chúng chưa bao giờ hiện diện ở đây.

Theo loài[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ được tôn thờ nhiều nơi ở châu Á

Hổ cũng là loài vật được tôn xưng là Chúa Sơn lâm. Những nơi hổ được coi là vị vua của muôn thú đến từ các nước phương ĐôngĐông Nam của châu Á, nơi mà người ta chưa từng chứng kiến có sư tử hiện diện. Hổ là loài thú mạnh nhất trong rừng xanh ở nơi đây, biểu tượng cho sức mạnh của tự nhiên thủa còn sơ khai, từ đó đã đi vào tâm thức và văn hóa dân gian như một loài thú mạnh nhất của núi rừng, miền sơn cước.

Phạm vi[sửa | sửa mã nguồn]

Những vùng lãnh thổ, quốc gia, dân tộc tôn sùng hổ có thể kể đến là Tây Bá Lợi Á, Hàn Quốc, Trung Quốc, Việt Nam, Mã Lai… Ở Tây Bá Lợi Á, hổ được gọi với danh xưng tôn kính là Amba và còn được tôn xưng là Chúa tể rừng Taiga hay Sa hoàng rừng Taiga. Ngoài ra nhiều quốc gia có sự đan xem giữa vương quyền của hai loài này chẳng hạn như trên biểu tượng quốc kỳ của Singapore có biểu tượng song song của sư tử và hổ. Trung Quốc và cả Việt Nam là xứ sở không có sư tử do đó, trong lịch sử xa xưa thì hổ hay còn gọi là cọp được tôn làm con vật thượng thủ của loài thú, thay vì sư tử như các xứ có sư tử[4].

Hổ được coi là biểu tượng quốc gia chính thức ở các nước Hàn Quốc, Ấn Độ, BangladeshMalaixia và biểu tượng cho một số vùng miền, tổ chức ở châu Á, một số nơi hổ còn là biểu tượng quốc gia một cách không chính thức. Theo cách nhìn phương Tây thì trong văn hóa châu Á, hổ chỉ đóng vai trò thay thế sư tử để trở thành vua của muôn thú (King of the Beasts) khi sư tử luôn là biểu tượng của hoàng gia, biểu tượng của sức mạnh.

Trong quan niệm của người Trung Quốc, hổ chính là vua muôn thú, những sọc ngang trên trán của hổ liên tưởng tới chữ Vương và người Trung Quốc cho rằng khi sinh ra, hổ là vua của muôn thú. Ở Việt Nam, trong dân gian, nhất là ở những miền đồi núi, sơn cước, hổ chính và vì vua của muôn thú, là vị chúa trong khu rừng nơi chúng sinh sống (rừng nào cọp nấy), người ta thường lập bàn thờ, miếu thờ hổ ở khắp nơi, có thể ghi nhận như ở vùng Rùng núi Bắc Bộ, miền Trung như Thanh Hóa và đặc biệt là những vùng sông nước miền Tây nơi còn ghi dấu nhiều truyền thuyết, những câu chuyện dân gian về loài hổ trong quá trình khai hoang mở cõi khi Nam tiến. Tuy vậy, sức mạnh của loài hổ ở châu Á còn bị giới hạn bởi hình tượng con rồng, một sinh vật thần thoại biểu tượng cho sức mạnh siêu nhiên, sức mạnh của đất trời và vương quyền, thiên tử.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Makari's Whiskers edit2.jpg

Các triều đại phong kiến ở các nước Phương Đông coi hổ cùng với rồng là biểu trưng cho vương quyền, trong quân sự, võ học và cho những thành đạt trong khoa cử. Trong tâm thức người dân phương Đông thì hổ vẫn là một ác thú, nó hung hãn nhất trong 12 con giáp, trong 12 con thú, hổ hội đủ các đặc chất như dũng mãnh, can trường, hiên ngang, dám tấn công cả những con thú to khỏe hơn nó. Nhờ những đặc chất ấy mà cọp là một trong những loài trở thành biểu tượng của sự hùng cường và sức mạnh vô song. Trong rừng, không có một con vật nào sao chép được sự uy dũng của Hổ, đó chính là Hổ xú hùng tâm tại tức là, khi con Hổ về già xấu xí nằm yên một chỗ nhưng hùng tâm của Hổ vẫn còn, chẳng một con vật nào dám qua mặt.

Với người phương Bắc thì hổ còn là biểu tượng cho quyền uy, sự dũng mãnh nơi chiến địa và hổ trắng là hình ảnh của đấng minh quân đồng thời tượng trưng cho sức mạnh, uy quyền của vị tướng quân dũng mãnh, can trường. Ở Việt Nam, theo quan niệm thông tục, người ta cho rằng, hổ là chúa tể của muôn loài muông thú, thậm chí uy lực của hổ còn trấn ngự được cả những linh hồn người đã chết do nó ăn thịt, Từ rất lâu trong tín ngưỡng dân gian Việt, hổ được coi là con vật linh thiêng. Trong tín ngưỡng dân gian của nhiều dân tộc, vùng miền hổ là loài vật được tôn thờ và sùng bái thông qua tập tục thờ hổ, hổ còn đóng vai trò là thần giám hộ của quốc gia, sự ngưỡng mộ loài hổ còn thể hiện thông qua danh xưng, đặt tên, làm linh vật, biểu tượng.

Trong tiềm thức dân gian Việt Nam, hổ hay ông ba mươi là tên gọi đầy uy linh, quyền kính trong những gian thờ, đình, chùa, miếu mạo. Ở Việt Nam, hổ được xếp vào nhóm hộ môn thú (những con thú canh gác nhà cửa, lăng mộ, đình, chùa, miếu mạo), là một trong những con vật được tạc trong các khu lăng mộ người Việt. Người Việt không sử dụng các tượng đá sư tử để trấn yểm và để tạo nên sự thiêng liêng, hùng tráng cho không gian này. Nếu cần có một con vật hung dữ, người Việt nghĩ ngay đến hổ/cọp và hầu như trong suốt lịch sử phát triển của lăng miếu của họ, hổ là con vật oai phong nhất, không gì thay thế được.

Mê tín[sửa | sửa mã nguồn]

Sự sùng bái đến mức mê tín hoang đường còn thể hiện qua việc người ta thường làm chiếc nanh hoặc vuốt hổ, hoặc răng hổ bịt vàng bạc hoặc chiếc vuốt làm bằng sứ, kim loại cho trẻ con đeo để trừ tà ma, hoặc người lớn cũng đeo cho đẹp và tỏ ra oai vệ, người Campuchia khi giết hổ thường lấy nanh hổ đánh bóng bán làm vật trừ tà. Ngay cả việc đi săn hổ, người ta cũng phải cúng để cầu phù hộ, thậm chí nấu nồi cao hổ có những chuyện ly kỳ và chủ yếu là do người ta thần thánh hóa. Xuất phát từ việc hổ là con vật được coi là chúa sơn lâm và được nhiều nơi người dân đưa vào đền, miếu để thờ. Do đó khi dùng hổ làm thuốc trị bệnh cứu người thì cũng phải được sự đồng ý của vong hồn Ông Hổ. Vì vậy, trước khi mang xương hổ đi làm sạch, người chủ nấu cao phải để bộ xương của hổ xếp theo đúng hình hài trên một chiếc bàn phủ vải điều và bày ở giữa sân. Lễ vật dâng lên cho hổ gồm có một chiếc thủ lợn, đuôi lợn để sống và có hương nến cẩn thận.

Hội họa[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ được thể hiện trong nền hội họa của phương Đông lẫn phương Tây, rất nhiều bức tranh vẽ về loài hổ. Với biểu tượng về sức mạnh, không chỉ ở phương Đông, rất nhiều nơi trên thế giới có đại hội sơn lâm và theo quan niệm ở châu Á, với tư cách là chúa tể, hổ đóng vai trò của quyền uy thống trị, có vai trò điều phối, chia khu vực sơn lâm cho các dã thú khác. Đó là vai trò anh hùng. Đến khi có chủ nghĩa anh hùng phong kiến thì hổ (cùng với đại bàng) là biểu tượng của anh hùng độc lập. Có thể thấy điều này qua những bức tranh cổ vẽ cảnh hổ đang gầm mặt trời. Lúc này, hổ là anh hùng giang hồ chống phá lại thể chế, không bị hàng phục dưới bất kỳ một chính thể tập quyền nào.

Sư tử[sửa | sửa mã nguồn]

Sư tử được coi là vị vua của muôn loài, biểu tượng của Hoàng gia, Vương quyền, sự thống trị, sự can đảm và cao quý, biểu tượng trong nhiều tôn giáo lớn trên thế giới

Sư tử là một động vật có ảnh hưởng mãnh mẽ tới nhiều nền văn hóa nhất với tư cách là biểu tượng của uy lực[5]. Các nhà động vật học qua thực nghiệm đã khẳng định về trọng lượng cơ thể, sức mạnh cơ bắp, khả năng tấn công đối phương, sư tử xếp sau hổvoi, nhưng với ý nghĩa là biểu tượng của uy lực và sức mạnh, sư tử đã thực sự gắn bó chặt chẽ với vương quyềnthần quyền của nhiều nền văn hóa, nhiều quốc gia[5].

Khái yếu[sửa | sửa mã nguồn]

Hình tượng sư tử xuất hiện trong không gian thờ phụng của nhiều tôn giáo, trên quốc kỳquốc huy, huy hiệu, biểu tượng, logo, được mô tả phổ biến trong văn học nghệ thuật từ cổ chí kim ở nhiều quốc gia hơn bất cứ động vật nào khác. Sử tử còn là loại động vật thống trị và cao quý nhất trong muôn loài trong các tôn giáo lớn trên thế giới. Là con vật thượng thủ trong các loài thú, sư tử chính là hiện thân của quyền lực, của hiền minh và chân lý nên cũng khiến nó là biểu tượng của các bậc tôn quý. Tại nhiều nơi trên thế giới, sư tử là một biểu tượng của hoàng gia và hiệp sĩ, tượng trưng cho sức mạnh, sự kiêu hãnh và thống trị.

Xét về thị giác và ngoại hình, sư tử đặc biệt là các con sư tử đực với bộ lông bờm dày, ức và hông nở, săn chắc, răng sắc, móng nhọn, thân vàng óng, lực lưỡng, to đô, cơ bắp cuồn cuộn có thể cho thấy sư tử hơn hẳn voihổ[5]. Sư tử đực còn có dáng vẽ và bước đi oai vệ, kiêu hãnh luôn di chuyển trong tư thế tư thế ngẩng cao đầu từ đó, sư tử đã được hình dung chính là Chúa tể của muôn loài.

Vua Sư tử (Lion King) hay Sư vương với những ý niệm về loài vật mang quyền uy tối thượng, sự tôn nghiêm khiến muôn loài phải phủ phục khi nó bước qua, với thân hình khôi vĩ, dáng vẻ đường bệ và trở thành biểu tượng cho sức mạnh, lòng dũng cảm, khí chất cao quý, sự kiêu hãnh, thống trị. Nó còn tượng trưng cho vị vua, vua của muôn vua, tượng trung cho hiệp sĩ bởi lòng quả cảm và chiến binh với khả năng chiến đấu tuyệt vời. Sư tử là biểu tượng của hoàng gia Anh và nhiều nước châu Âu, nhiều quốc gia với hình tượng con sư tử đội vương miện hay sư tử có cánh, nhiều sự kiện quan trọng đều lấy sư tử làm linh vật.

Trong tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Có thể thấy rõ trong các tôn giáo lớn trên thế giới như Thiên chúa giáo, Phật giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo sư tử đã trở thành một biểu tượng có tính tôn nghiêm không thể thiếu của các tôn giáo trên. Trong Thiên chúa giáoHồi giáo, Sư tử (Aslan) là biểu tượng cho ý chí của Chúa trời. Trong Phật giáo, sư tử (Simha) biểu tượng cho sức mạnh, oai linh nhưng tuân phục, trợ giúp cho Phật pháp, nó là một linh vật biểu trưng cho sức mạnh Phật giáo[6]. Nó tượng trưng cho sức mạnh của giáo lý chánh pháp, nên trong kinh phật có rất nhiều câu chuyện về sư tử chúa[7].

Trong Phật giáo, Phật Thích Ca Mâu Ni được tôn là Pháp vương, giống như sư tử là vua của loài thú lời thuyết pháp của Phật được gọi là Sư tử hống (Simhanada) tức là tiếng rống của sư tử, biểu thị uy lực và diệu dụng của Phật pháp thu nhiếp được tất thảy chúng sinh. Cũng có dữ liệu cho rằng Phật là sư tử của dòng họ Sakya, và kinh, luận Phật giáo thường lấy sư tử dụ cho đức vô úy và sự vĩ đại của Đức Phật, tòa ngồi của Đức Phật gọi là Tòa sư tử (Simha-sana) ngoài ra còn có hình ảnh tượng Bồ-tát Văn Thù cưỡi sư tử thuộc quy phạm đồ tượng học truyền thống Phật giáo hay xa xưa hơn là biểu tượng Nara-simha (người sư tử), kẻ có sức mạnh và lòng dũng cảm diệt trừ cái ác và sự ngu muội và vô minh.

Trong Kinh Thánh, sư tử (Aslan) là biểu tượng cho ý chí của Chúa trời. Nếu chiêm bao thấy hình ảnh sư tử đực uy nghi, như hình ảnh của Khải Huyền (Khải-huyền 5:5), thì đó là quyền tể trị của Đấng Chúa trời. Trong Kinh Thánh, từ “sư tử” được đề cập khoảng 150 lần, những người viết nó đã rất quen thuộc với loài sư tử. Trong khi đó một số lời tường thuật thì nhắc đến việc chạm trán với sư tử thật. Chẳng hạn, Sam-sôn, Đa-vít và Bê-na-gia đã giết sư tử (Các Quan Xét 14:5, 6; 1 Sa-mu-ên 17:34, 35; 2 Sa-mu-ên 23:20). Những nhân vật khác thì bị sư tử sát hại (Các Vua 13:24; 2 Các Vua 17:25). Ngoài ra, hổ (láyísh), cũng được nhắc đến trong Kinh Thánh, tại cuốn Sách Job: iv, 11, nhưng nó lại chỉ về sư tử.

Trong Tân ước: sách Khải huyền, Trong sách cuối cùng của Tân ước, sách Khải Huyền của Thánh Gioan tông đồ, thị kiến của Ngôn sứ Ezechiel có bốn sinh vật bên ngai Thiên Chúa xuất hiện. Bốn con vật được Ezechiel viết lại trong sách Kinh Thánh, để diễn tả về ngai Thiên Chúa: Ở chính giữa, có cái gì tựa như bốn sinh vật. Mỗi sinh vật có bốn mặt và bốn cánh. Còn chân của chúng thì thẳng; bàn chân tựa bàn chân con bê, lấp lánh như đồng sáng loáng. Bên dưới cánh, có những bàn tay giống tay người quay về bốn phía; mặt và cánh của bốn sinh vật cũng đều như thế.

Chúng đều có mặt người, cả bốn đều có mặt sư tử bên phải, cả bốn đều có mặt bò rừng bên trái, cả bốn đều có mặt phượng hoàng (Ezechiel 1, 5-12). Người, sư tử, con bò và chim đại bàng còn có thể nói lên thang cấp của uy quyền (St 1,26). Sư tử là loài thú vật hoang dã, "con bò" là loài thú vật thực dụng cho con người, và "đại bàng“ là loài chim trời. Sách Ezechiel là bốn khuôn mặt: mặt người, mặt sư tử, mặt con bò và mặt chim đại bàng. Còn nơi sách Khải huyền là hình dạng sư tử, hình dạng con bò, hình dạng người, và hình dạng chim đại bàng.

Giêsu Kito được bốn khuôn mặt, bốn hình dạng của sinh vật loan báo, như Chúa Giêsu tỏ mình ra trong bốn phúc âm là người dũng lực qua hình ảnh con sư tử, là linh mục lo phần tế tự qua hình ảnh con bò, trở thành con người qua hình ảnh một người, và là thần linh hướng dẫn tâm linh con người qua hình ảnh con chim đại bàng. Giáo phụ Irenaeus sắp xếp hình ảnh Sư tử cho Thánh sử Gioan, con bò cho Thánh sử Luca, hình người cho Thánh sử Mattheo, và hình con chim đại bàng cho Thánh sử Marcô.

Hieronimo cũng sắp xếp thứ tự khác như Hình dạng con người là biểu tượng cho Mattheo. Hình dạng con sư tử là biểu tượng cho Marco. Vì phúc âm theo Thánh sử Marco ngay khởi đầu có tiếng lời kêu gọi của Thánh Gioan Tiền hô trong sa mạc như tiếng sư tử gầm thét kêu gọi ăn năn thống hối cải thiện đời sống dọn đường cho Chúa đến. Hình ảnh con sư tử biểu trưng cho sự sống lại của Chúa Giêsu, Thánh sử Marcô với hình con sư tử, Thánh sử Matthêu với hình một người, Thánh sử Luca với hình con bò, và Thánh sử Gioan với con chim đại bàng.

Trong tạo hình[sửa | sửa mã nguồn]

Sư tử theo phong cách Âu châu

Ngay từ thời kỳ Đồ đá sớm tại hang động ở LascauxChauvet tại Pháp, sư tử xuất hiện trong nhiều nền mỹ thuật của thế giới, ngay cả ở những khu vực không thuộc địa bàn cư trú của nó như Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á. Trong điêu khắcchâu ÂuTrung Quốc về sư tử đều hướng đến yếu tố tả chân, từ dáng vẻ lẫm liệt cho đến chi tiết lông, bờm bệ vệ, nanh nhọn, cơ bắp cương cứng và tạo hình thường giẫm ngọc, giẫm quả địa cầu dưới chân với tham vọng uy quyền[6] thể hiện ở tư thế sẵn sàng chiến đấu và hình tướng luôn có dáng vẻ đe dọa.

Việt Nam, Sư tử Việt thường có chữ vương trên trán, mình mập, tròn, đầu ngẩng lên, bờm xoắn lên hoặc dựng ra phía sau, động tác mô tả thì đang vươn lên để gầm, miệng ngậm ngọc, thân mình sư tử phủ kín loại vân xoáy, hay còn gọi là hình thức lôi văn[8] trong khi đó các tượng sư tử đá Trung Quốc cơ bắp cuồn cuộn, bờm râu dữ dằn, nhe răng đe dọa. Các loại sư tử này là biểu tượng của giới công quyền và thương gia, quyền lực và sự phồn vinh vật chất[9].

châu Á, sư tử vốn tồn tại khắp nơi trong giới hạn lịch sử của vùng Tây Nam Á (được gọi là Shir hay Shar), Trung Á và rồi cũng được xác tín là con vật canh giữ/bảo vệ trong văn hóa Trung Quốc vào thời nhà Hán, thông qua việc trao đổi văn hóa nhờ sự phát triển thương mại của Con đường tơ lụa nối các quốc gia cổ vùng Trung Á của người Sgdiana, SamarkandNguyệt Thị với Trung Quốc. Sư tử được đưa đến Trung Quốc hoặc là loại da sống hay vật sống dùng để cống tiến, biếu tặng cùng với những tích truyện về sư tử được các Tăng sĩ Phật giáo và những nhà du hành kể lại. Việc biếu tặng sư tử từ Trung Á được ghi chép nhiều lần trong Hậu Hán thư. Hình tượng sư tử từ Trung Quốc truyền sang Cao Ly, rồi Nhật Bản, Việt Nam, Đông Nam Á... và tín niệm ở từng quốc gia đó cũng đổi khác.

Sư tử đá Trung Quốc

Người Iran, người Ấn Độ thần thoại hóa con sư tử, người Tây Tạng thờ sư tử tuyết (snow lion), Hoàng gia Anh ngày nay vẫn dùng huy hiệu sư tử đội vương miện. Con thú này cũng là biểu tượng các đội rugby của Anh và Ireland. Trong ngôn ngữ thông tục của giới sưu tập cổ vật phương Tây, sư tử thường được gọi là "Phúc khuyển" hay "Phật khuyển" là do ảnh tượng sư tử luôn gắn với ảnh tượng Phật giáo, với chùa chiền Phật giáo. Cách gọi này trong văn hóa phương Tây, bắt nguồn từ cách người Nhật Bản gọi sư tử là "Cao Ly khuyển", hoặc từ cách người Trung Quốc gọi một loài chó xù của Trung Quốc là "sư tử cẩu".

Ngay cả con nghê và lân của vùng Đông Á đã hình thành qua sự vay mượn từ hình tượng sư tử có cánh (Shedu) trong thần thoại Iran. Và sư tử là con vật phổ biến nhất ở đền miếu ở châu Á, không chỉ ở Trung Quốc, tại Triều Tiên từ rất sớm đã xuất hiện hình tượng sư tử trong các lăng mộ và hình tượng con sư tử đá Trung Quốc còn tồn tại và chễm trệ nhiều nơi ở Việt Nam (bắt đầu từ thời nhà Lý có tượng sư tử, nhưng chủ yếu là sư tử đội bệ tượng phật) ảnh hưởng của con sư tử bắt nguồn từ Phật giáo. Ở Nhật Bản, loại sư tử-chó Komainu thường đặt cặp đôi để bảo vệ các đền thờ Thần Đạo, được coi là có nguồn gốc từ tượng sư tử trấn giữ Trung Quốc. Đôi khi Komainu cũng được thấy đặt ở chùa Phật và các tư dinh của tầng lớp quý tộc Nhật Bản. Komainu là cặp đôi có công năng trấn giữ, trừ tà.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc, ảnh hưởng của sư tử được xác định là có từ thế kỷ thứ III của Công Nguyên. Bị ảnh hưởng từ Trung ĐôngẤn Độ, Trung Hoa từ thời Tam Quốc về sau, ngày càng say mê sư tử, một loài vật dữ tợn nhất trong các loài vật. Trong thực tế, sư tử không xuất hiện trong danh mục đề tài mỹ thuật sơ kỳ của Trung Quốc. Hình tượng sư tử được du nhập theo sự truyền bá của Phật giáo. Sư tử đá xuất hiện khoảng 3.000 năm bắt nguồn từ người Ba Tư, thông qua việc các nước Tây Á cống nạp sư tử cho các triều đình phong kiến Trung Quốc. Từ đó, Trung Quốc du nhập sư tử đá vào lãnh thổ và biến nó thành linh vật để canh mộ[10].

Trong ngữ cảnh văn hóa Hán, sư tử là con vật thuần túy có tính biểu trưng, hình tướng cách điệu cao, thậm chí khó tìm thấy chi tiết nào giống như sư tử thật. Nó có công năng bảo hộ, chống lại các thế lực ác độc, tà mị và đồng thời cũng mang lại điều tốt lành, thịnh vượng. Sư tử được coi là một loại thú lành, có thể giải trừ được nhiều loại hình sát trước nhà, đồng thời còn có tác dụng tăng thêm uy phong của cơ quan, sư tử đá biểu trưng cho sự uy nghiêm, hóa giải tà khí và thu hút tài lộc, trấn phong thủy[11].

Trong khi đó, múa sư tử, một hình thức biểu diễn đã trở thành truyền thống trong dịp lễ Nguyên tiêu (rằm tháng Giêng) hàng năm vốn gốc từ vùng Tây Á du nhập vào Trung Quốc vào đời nhà Đường. Bấy giờ vũ công múa sư tử đeo mặt nạ sư tử làm bằng gỗ với mắt màu vàng kim, răng bạc trắng và đuôi tết bằng những sợi dây. Đến đời nhà Tống, sư tử được coi là chúa của muôn thú, giống như quan niệm của phương Tây và rồi trong các tiểu thuyết chương hồi thế kỷ XVII, sư tử được miêu tả như một linh thú, sư tử thành vật cưỡi đầy quyền năng của các nhân vật trong truyện Phong thần.

Quốc gia Ấn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Sư tử

Ở các quốc gia Ấn hóa, tình hình có phần đa tạp. Sách Gita cho hay Krishna là sư tử giữa các loài thú, Đức Phật là sư tử của dòng tộc Sakya, huy hiệu của Aśoka mang hình ba con sư tử tựa lưng trên một cái bệ hình bánh xe, với tiêu ngữ: Chân lý sẽ thắng. Do lòng sùng đạo của Aśoka, ba con sư tử có thể biểu trưng cho Tripitaka (Tạm tạng chân kinh của Phật giáo) và cũng có thể biểu trưng cho Tam bảo Phật-Pháp-Tăng. Những điển tích đó giải thích việc khắc chạm một cặp sư tử trên tọa cụ của Phật Thích Ca xuất hiện ngay thời Vô tượng kỳ khoảng 500 năm sau khi Phật Thích Ca nhập Niết-bàn.

Đây là nguồn cội của việc thể hiện vô số sư tử, cả điêu khắc lẫn hội họa trong mỹ thuật các quốc gia Viễn Đông. Sư tử thường được coi là vật bảo hộ cho đền chùa hay các ảnh tượng (có khắc vẽ sư tử trên đó). Với các nội dung biểu trưng nêu trên, sư tử từ Ấn Độ đã thâm nhập vào văn hóa của các cộng đồng, quốc gia Đông Nam Á. Một cách tổng quát, ở khu vực này, khá giống với Ấn Độ, đều tồn tại đồng thời hai loại sư tử một là, sư tử tự nhiên (simha) với sức mạnh thù thắng của chính nó, và hai là, loại sư tử thiêng, kết hợp sư tử với một số bộ phận của các con vật khác để tạo thành những loại linh vật - giống sư tử có tính chất siêu nhiên.

Ấn Độ, sư tử siêu nhiên phổ biến ở các đền thờ Ấn giáo là Yali (còn được gọi là Vyala, hay Sarabham, hoặc Vidala). Đây là mô típ mỹ thuật Ấn Độ, đặc biệt phổ biến ở Nam Ấn. Yali có kết hợp sư tử và các con vật khác nên được coi là có sức mạnh hơn sư tử/cọp hoặc voi... Yali có thân uyển chuyển giống mèo, nhưng đầu sư tử, có thêm ngà voi (gaja) và đuôi rắn. Loại sư tử kết hợp với voi được biết phổ biến và được định danh là gaja-simha (Sanskirt) hoặc gajasiha (Pali). Mặt khác, có loại Yali thân sư tử cách điệu và đầu là các con vật khác: phổ biến nhất là voi (gaja-vyala), kế đó là đầu sư tử (simha-vyala), ngựa (ashva-vyala), đầu người (nir-vyala) và đầu chó (shvana-vyala). Sự hiện diện của loại hình tượng sư tử thuần túy (simha) và các loại sư tử kết hợp với các con vật khác.

Chinthe

Loại sư tử thuần túy ở Thái Lan gọi là Singh (hay Rachasi) có công năng canh giữ cổng đầu tháp xuất hiện từ thời Lanna. Về hình tướng Singh tương đồng với Chinthe (Miến Điện) và Rêachsei (Khmer): Bờm có 3 lớp, cánh mọc ở vai, đứng xổm trên bệ, miệng há rộng. Đến thế kỷ XIX-XX, Singh Thái tích hợp những đặc trưng tạo hình của sư tử Trung Quốc tạo những biến tấu ngoạn mục. Loại sư tử kết hợp với voi (gajasimha) của Thái gọi là Kho-ta-chi (Kochasri). Loại này có thân và đầu sư tử, thêm vòi và ngà voi, đôi khi có cánh và có bờm.

Lại có loại Pancharup: thân sư tử, đầu voi, chân và móng ngựa, cánh đại bàng và đuôi cá. Đặc biệt loại hình tượng kết hợp sư tử và đầu người là loại Nora singh (Thái)/Munussiha (Miến Điện), thường là các sản phẩm ba chiều đặt ở góc chùa, tháp: hai thân sư tử thẳng góc nhau và đầu-ngực người nối tại cổ của hai đoạn thân sư tử. Đây được coi là các thần (Deva), cả nam lẫn nữ, bảo hộ cho các công trình kiến trúc.

Trong mỹ thuật Khmer phổ biến có hai loại sư tử. Một là, sư tử tự nhiên, được gọi là "Tao", có công năng canh gác cổng, bậc cấp các đền, tháp, chính điện thờ Phật và hai là loại "Rêachsei", được tạo hình cách điệu như Singh (Thái) và Chinthe (Miến Điện). Loại thứ hai này, cũng thấy đặt ở cổng, bậc cấp chùa tháp, song đặc biệt phổ biến là làm bệ đỡ cho chiếc ghế dành cho sư sãi thuyết pháp và Rêachseiđược coi là chúa của các loài thú ở rừng thiêng Hêmapiên (Himalaya). Sự khu biệt giữa Tao và Rêachsei này, có phần tương đồng với sự phân biệt giữa sư tử và nghê của người Việt. Ở Việt Nam thì nghê là loại sư tử có trong danh sách linh vật của Trung Quốc, nghê là sư tử được thiêng hóa, dưới cái nhìn tôn kính của nhà Phật[4].

Các loài khác[sửa | sửa mã nguồn]

Đại bàng[sửa | sửa mã nguồn]

Chim đại bàng biểu tượng cho sức mạnh, lòng can đảm, tầm nhìn xa và sự bất tử. Nếu như sư tử là chúa sơn lâm, cá mập là sát thủ của biển khơi thì loài đại bàng vàng từ lâu cũng được mệnh danh là chúa tể bầu trời với sức mạnh của mình[12]. Đại bàng còn được coi là vua của không trung và sứ giả của vị thần tối cao và xứng danh chúa tể bầu trời. Theo thần thoại Hy Lạp, người Hy Lạp coi đại bàng là biểu trưng của thần Zeus, những người La Mã coi đại bàng là biểu trưng của Jupiter, bởi các bộ lạc Đức thì coi nó là Odin và người theo Kitô giáo thì là biểu tượng của Thiên Chúa. Đại bàng được đánh giá là kẻ rất mạnh mẽ và hùng dũng. Vì thế, nó đã trở thành biểu tượng quân sự của nhiều nước tư bản và quân chủ, đặc biệt nó là biểu tượng cho sức mạnh của Không lực.

Từ những thế kỉ trước công nguyên, đế quốc La Mãđế quốc Babylon đã chọn loài đại bàng vàng làm biểu tượng cho quân đội của nước mình. Vào thời kì Trung CổPhục Hưng, đa số các quốc gia châu Âu đã chọn đại bàng làm biểu tượng cho quân đội. Các hình vẽ đại bàng trên khiên của binh lính đã được tìm thấy trong các di chỉ khảo cổ thời Phục Hưng, Trung Cổ, La Mã và trên những hình vẽ trong truyện cổ tích châu Âu được mô phỏng lại. Trong văn học cổ điển ở châu Âu, truyện phân chia ra các vương quốc do các loài vật đứng đầu là truyện thường thấy. Sư tử thì thường có vai trò làm vua của các vương quốc. Tuy nhiên, việc đại bàng làm vua của các nước được tưởng tượng này thì cũng không hiếm gặp. Ví dụ như trong truyện Con dơi hèn nhát thì đại bàng là kẻ thủ lĩnh của lũ chim. Hay trong truyện ngụ ngôn Châu Âu, những con đại bàng thường làm vua nhiều như sư tử. Ngoài vai trò làm hoàng đế trong các truyện cổ thì đại bàng đôi khi còn "thủ vai" của một kẻ được coi là lưu manh, độc ác.

Gấu[sửa | sửa mã nguồn]

Gấu, biểu tượng cho sức khỏe, đại lực sĩ

Trong số những người Đức và Scandinavi ở các tín ngưỡng dân gian Bắc Âu, những con gấu được cho là tượng trưng cho sức mạnh, lòng can đảm và bách chiến bách thắng của mình, được coi là vua của loài vật do những thuộc tính mạnh mẽ. Những chiến binh mạnh mẽ nhất thường khoác lên mình bộ áo da gấu trong đó đầu con gấu được trùm lên đầu của chiến binh được gọi là Berserk. Hình tượng gấu trong văn hóa thế giới được nhìn nhận dưới nhiều gốc độ khác nhau, tùy theo từng nền văn hóa. Như đối với người Celte, gấu là biểu trưng của giai cấp chiến binh[13]; đối với người AinuNhật Bản, gấutổ tiên, đối với văn hóa Trung Hoa, gấu hay còn gọi là hùng mang thể khí dương, thể hiện sức mạnh quyền lực (hùng bá, hùng cứ, xưng hùng xưng bá)... Gấu là một loài động vật to lớn, hung dữ và nguy hiểm, không được kiểm soát, như một sức mạnh nguyên thủy, theo truyền thống gấu là một biểu trưng của tính hung ác, dã man, tàn nhẫn. Gấu còn là biểu tượng cho sức lực, với hình ảnh của một đại lực sĩ to lớn.

Báo[sửa | sửa mã nguồn]

Một số loài báo được ưa chuộng hơn con sư tử là vua của loài động vật bởi một số bộ lạc châu Phi. Trong vương quốc Dahomey, quyền chủ được đặt tên là "Leopard" tức báo hoa mai và đeo da beo. Trong một số bộ tộc Bantu và đặc biệt là ở Congo - Kinshasa, các con báo đã được xem như là một con vật khôn ngoan, mạnh mẽ và bền bỉ. Đó là lý do tại sao Tổng thống Mobutu Sese Seko đã được mặc những chiếc mũ làm bằng da báo Mobutu Sese Seko được mệnh danh là Con báo xứ Kinshasa "The Leopard Kinshasa". Ở Nam Mỹ, Báo đốm chính là con dã thú mạnh nhất trong rừng rậm châu Mỹ, nó được người dân địa phương gọi nó là Jaguru có nghĩa là con thú có thể giết chết con mồi với chỉ một bước nhảy. Những chiến binh có đẳng cấp cao và mạnh nhất trong số các chiến binh là những Chiến binh báo đốm và được khoác lên mình bộ da của con báo đốm này.

Loài khác[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một số nền văn hóa châu Phi, những con voi đôi khi được coi là vua của loài thú, thay vì sư tử như nó dường như tượng trưng cho một vị cha già hơn đúng vị vua chuyên chế. Rất hiếm hoi loài tê giác được coi là vua của dã thú. Một câu chuyện từ thành phố Mapungubwe thế kỷ XIII có kể về cảnh trong cảnh hỗn loạn và hùng vĩ vườn quốc gia Matopos ở miền nam Zimbabwe, vua sư tử đã từ bỏ ngai vàng của mình cho con tê giác trắng, chúa tể thực sự của nơi này. Cá voi đôi khi cũng được coi là chúa tể của biển cả, tượng trưng cho Long vương, đại dương, một số người dân Việt Nam còn có tục thờ cá voi và người ta gọi cá voi là cá Ông.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Michel Pastoureau, L’Ours. Histoire d’un roi déchu, Paris, Seuil,‎ 2007, 430 p. (ISBN 978-2-02-021542-8)
  • Michaël Tangl, Die Briefe des heiligen Bonifatius und Lullus, Berlin,‎ 1916, p. 130
  • Robert Favreau, « Le thème iconographique du lion dans les inscriptions médiévales », Comptes-rendus des séances de l'Académie des inscriptions et belles-lettres, vol. 135, no 3,‎ 1991, p. 613-636
  • Marcel Brion, Les animaux, un grand thème de l'Art, Paris, Horizons de France,‎ 27 octobre 1955
  • Hilda Roderick Ellis Davidson, Myths and symbols in pagan Europe: early Scandinavian and Celtic religions, Manchester, Manchester University Press ND,‎ 1988, 268 p. (ISBN 9780719025792), p. 79-80
  • Christine et Michel Denis-Huot, Les princes de la savane: Léopards & Guépards, White Star,‎ septembre 2006, « L'ère des pards », p. 14-27.