Sinh vật đáng sợ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Sinh vật đáng sợ (Fearsome critters) là những sinh vật (hầu hết là động vật) trong những câu chuyện hư cấu và thường được đem ra để đùa giỡn, bỡn cợt rằng đây là những con vật cao lớn, dễ sợ sống trong vùng hoang dã nhằm hù họa hay chỉ để tán gẫu chuyện phiếm. Trong văn hóa dân gian Bắc Mỹ, những sinh vật kiểu này thường được hư cấu sống xung quanh các trại khai thác gỗ, đặc biệt là ở vùng Hồ Lớn (Ngũ Đại Hồ). Ngày nay, thuật ngữ sinh vật đáng sợ cũng có thể được chỉ về những sinh vật huyền thoại hay những sinh vật kỳ bí.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Những sinh vật đáng sợ là một phần không thể thiếu trong truyền thống những câu chuyện truyền miệng ở các trại khai thác gỗ ở Bắc Mỹ vào đầu thế kỷ XX, chủ yếu là một cách để tán gẫu, giết thời gian (chẳng hạn như trong các câu chuyện cổ tích) hoặc như một trò đùa để hù dọa những người mới đến. Những người khai thác gỗ, những tiều phu (Lumberjacks) thường xuyên đi lại giữa các trại, sẽ dừng lại để kể cho nhau nghe các câu chuyện, cuối cùng đã phổ biến những huyền thoại này trên khắp lục địa. Nhiều sinh vật đáng sợ chỉ đơn giản là sản phẩm của sự phóng đại thuần túy; tuy nhiên, một số được sử dụng để đùa cợt hoặc nghiêm túc như những lời giải thích cho cả hiện tượng tự nhiên và không giải thích được

Ví dụ, khu ẩn náu được dùng để giải thích cho những người khai thác gỗ không quay trở lại trại, trong khi câu chuyện cây biết nói đưa ra lời biện minh cho những tiếng động lạ nghe thấy trong rừng. Một số ít mô tả được phản chiếu có chủ ý hay vô tình về động vật có thực, chẵng hạn như cá killifish trong rừng ngập mặn (Kryptolebias marmoratus) trú ẩn trong những cành cây mục nát sau khi rời khỏi mặt nước, thể hiện những nét tương đồng với cá hồi vùng cao, một loài cá huyền thoại có mục đích làm tổ trên cây. Ngoài ra, câu chuyện về con sếu thần thoại bay ngược có thể được lấy cảm hứng từ những quan sát của con hạc gỗ, một loài chim đã được chứng kiến có thể bay lùi trong một lúc theo cách này. Trong các trường hợp cụ thể, các cuộc tranh cãi phức tạp hơn được tạo ra bằng cách sử dụng thú nhồi bông hoặc Hiệu ứng đặc biệt của những bức ảnh.

Đặc trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Bản thân tính cách của những sinh vật đáng sợ thường hài hước hơn là đáng sợ. Thông thường, người ta chú trọng nhiều hơn đến các đặc điểm hành vi mà ít hoặc không có chi tiết nào được đề cập đến về ngoại hình của chúng, một số sinh vật đáng sợ như flitterick hoặc chim Goofus dường như là những động vật bình thường có hành vi khác thường. Những sinh vật được nhấn mạnh hơn về mặt vật lý và không thể xảy ra dường như được phân biệt bởi người kể chuyện có thể đẩy ranh giới của cơ sinh học đi xa đến đâu.

Trong khi phần lớn tài liệu viết về chủ đề này lặp lại quan điểm của nhà tự nhiên học, thường chỉ rõ một loạt các phân bố, thói quen hành vi và ngoại hình, nhiều huyền thoại trong số này chưa bao giờ phổ biến như những huyền thoại khác. Do đó, người ta thường tìm thấy sự thiếu đồng thuận về một sinh vật đáng sợ cụ thể, nếu không phải là những mâu thuẫn rõ ràng. Để minh họa, mèo Wampus rất khác nhau về ngoại hình tùy theo khu vực. Xu hướng mô tả hành vi mà không có hình ảnh được Manly Wade Wellman sử dụng để tạo hiệu ứng văn học khi sử dụng một số loài sinh vật đáng sợ trong câu chuyện dân gian khoa học viễn tưởng năm 1952 "The Desrick on Yandro".

Danh sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Agropelter một con quái thú tự gây cười bằng cách ném cành cây và cành cây vào người qua đường (nó cũng tương tự như những con khỉ nghịch ngợm hay ném cành cây xuống người đi được để trêu chọc, phá rối)
  • Chó săn Axehandle, một con chó mặt rìu được đề cập trong Jorge Luis Borges 'Sách về những sinh vật tưởng tượng' '.
  • Mèo đuôi bóng (Ball-tailed cat), một loài mèo tương tự như sư tử núi, ngoại trừ chiếc đuôi dài với đầu hình củ, quả bóng dùng để tấn công con mồi giống như những cái chùy giây.
  • Mèo Cactus, một loài mèo ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ với những chiếc gai như lông nhím, tự say xỉn khi uống nước từ cây xương rồng.
  • Dungavenhooter, một sinh vật giống cá sấu không có miệng, thay vào đó có lỗ mũi rất lớn. Sử dụng đuôi của nó để đập những người khai thác gỗ thành một loại khí, sau đó nó hít vào để nuôi dưỡng.
  • Glawackus, một kẻ vũ phu hung dữ giống như sự kết hợp của một con báo, sư tử và một con gấu.
  • Gumberoo, một sinh vật giống gấu không lông hiếm có với làn da gần như bất khả xâm phạm, nó sẽ đẩy lùi mọi cuộc tấn công ngoại trừ lửa sẽ khiến Gumberoo bốc cháy trong một vụ nổ lớn.
  • Hidebehind (kẻ ẩn máu), một kẻ vũ phu sẽ bắt những người thợ rừng không cẩn thận và nuốt chửng họ, và được cho là nhanh đến mức có thể trốn sau cái cây gần nhất trước khi một người đàn ông quay lại.
  • Hodag một loài có hại ưa thích của đầm lầy Wisconsin với sừng và gai, được kèm thêm một nụ cười điên cuồng.
  • Hugag một loài động vật tương tự như nai sừng tấm, với hai chân cứng cáp dài lêu khêu, không có khớp và môi trên lớn quá trề ra khiến nó không thể gặm cỏ. Phạm vi sinh sống của nó bao gồm phía tây Wisconsin, phía bắc Minnesota và về phía bắc đến Canada về phía Vịnh Hudson.
  • Jackalope, một con thỏ có gạc của linh dương hoặc hươu.
  • Quái vật Jersey hay Ác quỷ Jersey, một sinh vật săn mồi được cho là đã khủng bố gia súc ở các trang trại ở Nam New Jersey. Thường được mô tả là sinh vật có cánh và có hai chân, và đôi khi được kết nối với phép phù thủythờ cúng ma quỷ.
  • Sidehill gouger, một con quái thú đi trên sườn đồi có chân ở bên này cao hơn chân bên kia, do đó luôn di chuyển theo đường tròn
  • Splintercat, một con mèo huyền thoại ở Tây Bắc Thái Bình Dương sử dụng tốc độ đáng kinh ngạc và cái trán cứng rắn của nó để bạng vào những cái cây lớn, hất đổ cành cây và làm thân cây khô héo.
  • Squonk, sinh vật u sầu nhất, do vẻ mặt dị dạng, nó từ chối tiếp xúc với mọi sự sống và sẽ tự tan biến trong nước mắt nếu được nhìn thấy.
  • Teakettler, một con sâu bọ nhỏ phát ra tiếng ồn như tiếng ấm pha trà.
  • Mèo ma cà rồng (Wampus cat) một con báo ma lớn mà một số người nói rằng báo trước cái chết bằng tiếng gọi của nó.
  • Belling buzzard, một con kền kền gà tây có gắn một chiếc chuông, tiếng chuông của nó được coi là điềm báo của thảm họa.
  • Chim Gillygaloo, một loài chim đẻ trứng vuông nên chúng không lăn.
  • Chim Goofus, một loài chim bay ngược và xây tổ lộn ngược.
  • Cá mọc lông, một loài cá hồi mọc bộ lông dày để giữ ấm trong khí hậu lạnh giá.
  • Rắn Hoop, một con rắn cắn vào đuôi để có thể lăn như bánh xe.
  • Rắn khớp (Joint snake) một con rắn có thể tự tập hợp lại sau khi bị cắt thành nhiều mảnh hoặc vỡ ra khi bị vật gì đó va đập.
  • Snallygaster, một con thú giống rồng được cho là sống trên những ngọn đồi xung quanh các Hạt Washington và Frederick của Maryland
  • Con rắn tuyết, một loài rắn chỉ hoạt động trong những tháng mùa đông.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Boatright, Mody C. (1934). Tall Tales from Texas Cow Camps. Dallas, Texas: The Southwest Press.
  • Botkin, B.A. biên tập (1955). A Treasury of American Folklore. New York, NY: Crown Publishers.
  • The American People: Stories, Legends, Tales, Traditions, and Songs. New Jersey: Transaction Publishers. 1977.
  • Davidson, Levette Jay; Blake, Forrester biên tập (1947). Rocky Mountain Tales. Tulsa, Oklahoma: University of Oklahoma Press.
  • Leach, Maria biên tập (1972). Funk & Wagnall's Standard Dictionary of Folklore, Mythology and Legend. New York, NY: Harper & Row.
  • MacDougall, Curtis D. (1958). Hoaxes. New York, NY: Dover Publications, Inc.
  • Cohen, Daniel (1975). Monsters, Giants, and Little Men from Mars: An Unnatural History of the Americas. New York, NY: Doubleday.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]