Bước tới nội dung

Jorge Luis Borges

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Jorge Luis Borges
Borges năm 1951
Borges năm 1951
SinhJorge Francisco Isidoro Luis Borges
(1899-08-24)24 tháng 8 năm 1899
Buenos Aires, Argentina
Mất14 tháng 6 năm 1986(1986-06-14) (86 tuổi)
Geneva, Thụy Sĩ
Nghề nghiệp
  • nhà văn
  • nhà thơ
  • triết gia
  • dịch giả
  • biên tập viên
  • nhà phê bình
  • thủ thư
Ngôn ngữTiếng Tây Ban Nha
Tác phẩm nổi bật
Giải thưởng nổi bậtHuân chương Nghệ thuật và Văn chương Pháp hạng Chỉ huy (1962)[1]
Người thân
Chữ ký

Jorge Francisco Isidoro Luis Borges (/ˈbɔːrhɛs/ BOR-hess;[2] tiếng Tây Ban Nha: [ˈxoɾxe ˈlwis ˈboɾxes] ; 24 tháng 8 năm 1899 – 14 tháng 6 năm 1986) là một nhà văn viết truyện ngắn, tiểu luận gia, nhà thơ và dịch giả người Argentina, được xem là một nhân vật then chốt của văn chương tiếng Tây Ban Nha cũng như văn học quốc tế. Những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, Truyện Hư cấuAleph, xuất bản trong thập niên 1940, là các tuyển tập truyện ngắn khai thác những mô-típ như giấc mơ, mê cung, sự ngẫu nhiên, vô tận, kho lưu trữ, gương, các nhà văn hư cấu và thần thoại.[3] Tác phẩm của Borges có đóng góp đáng kể cho văn học triết học và thể loại kỳ ảo,[4][5] đồng thời có ảnh hưởng lớn đến trào lưu hiện thực huyền ảo trong văn học Mỹ Latinh thế kỷ 20.[6]

Sinh tại Buenos Aires, Borges sau đó chuyển cùng gia đình sang Thụy Sĩ vào năm 1914, nơi ông theo học tại Collège de Genève. Gia đình ông cũng đi lại nhiều nơi ở châu Âu, trong đó có Tây Ban Nha. Khi trở về Argentina năm 1921, Borges bắt đầu công bố thơ và tiểu luận của mình trên các tạp chí văn chương siêu thực. Ông cũng từng làm một số công việc khác như thủ thưdiễn giả trước công chúng.[7] Năm 1955, ông được bổ nhiệm làm giám đốc Thư viện Quốc gia Argentina và giáo sư Văn học Anh tại Đại học Buenos Aires. Ông bị mù hoàn toàn khi khoảng 55 tuổi. Giới học giả cho rằng chứng mù thậm chí đã giúp ông tạo ra những biểu tượng văn chương giàu tính sáng tạo hơn thông qua trí tưởng tượng.[Note 1] Đến thập niên 1960, tác phẩm của ông đã được dịch và xuất bản rộng rãi tại Hoa Kỳ và châu Âu. Bản thân Borges sử dụng thành thạo nhiều ngôn ngữ.

Năm 1961, Borges gây được sự chú ý từ quốc tế sau khi trao tặng Giải Formentor Quốc tế lần đầu tiên, giải thưởng mà ông chia sẻ với Samuel Beckett. Năm 1971, ông nhận tiếp Giải Jerusalem. Danh tiếng quốc tế của ông được củng cố trong thập niên 1960, nhờ số lượng bản dịch tiếng Anh ngày càng tăng, làn sóng bùng nổ văn học Mỹ Latinh và sự thành công của tác phẩm Trăm năm cô đơn của García Márquez.[8] Ông dành tặng tác phẩm cuối cùng của mình, The Conspirators, cho thành phố Geneva, Thụy Sĩ.[9] Nhà văn và tiểu luận gia J. M. Coetzee nhận xét về ông: “Ông, hơn bất kỳ ai, đã làm mới ngôn ngữ của văn xuôi hư cấu và nhờ đó mở đường cho cả một thế hệ tiểu thuyết gia Tây Ban Nha – Mỹ Latinh xuất sắc.”[10] David Foster Wallace viết: “Nói ngắn gọn, thật sự thì Borges có lẽ là chiếc cầu vĩ đại nối giữa chủ nghĩa hiện đạichủ nghĩa hậu hiện đại trong văn chương thế giới... Truyện của ông khép kín và huyền bí, kèm với đó là nỗi kinh hoàng mơ hồ của một trò chơi mà luật lệ thì không ai biết còn cái giá phải trả là tất cả.”[11]

Tiểu sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Thuở nhỏ và học vấn

[sửa | sửa mã nguồn]

Jorge Francisco Isidoro Luis Borges sinh ra trong một gia đình trung lưu có học thức vào ngày 24 tháng 8 năm 1899.[12] Gia đình ông sống ở Palermo, khi đó là một khu nghèo của Buenos Aires. Mẹ của Borges, Leonor Acevedo Suárez, làm nghề dịch giả và xuất thân từ một gia đình criollo (người gốc Tây Ban Nha bản địa). Gia đình bên ngoại của ông từng tham gia sâu đậm vào quá trình người châu Âu định cư ở Nam Mỹ và Chiến tranh giành độc lập Argentina, và bà thường kể lại cho ông những hành động anh dũng của họ trong thời kỳ này.[13]

Cuốn sách Cuaderno San Martín xuất bản năm 1929 của ông có bài thơ "Isidoro Acevedo", tưởng niệm người ông ngoại Isidoro de Acevedo Laprida, một binh sĩ trong quân đội Buenos Aires. Là hậu duệ của luật sư và chính khách Argentina Francisco Narciso de Laprida, Acevedo Laprida đã tham chiến trong các trận Cepeda năm 1859, Pavón năm 1861, và Los Corrales năm 1880. Acevedo Laprida qua đời vì sung huyết phổi trong chính ngôi nhà nơi cháu ngoại ông, Jorge Luis Borges, chào đời. Theo một nghiên cứu của Antonio Andrade, Jorge Luis Borges có tổ tiên người Bồ Đào Nha: cụ cố của ông, Francisco, sinh năm 1770 tại Bồ Đào Nha và sống ở Torre de Moncorvo miền bắc nước này trước khi di cư sang Argentina, nơi ông kết hôn với Carmen Lafinur.

Cha ruột của Borges, Jorge Guillermo Borges Haslam, là luật sư và đã viết tiểu thuyết El caudillo vào năm 1921. Borges Haslam sinh ra ở tỉnh Entre Ríos, mang trong mình dòng máu Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Anh, là con trai của Francisco Borges Lafinur, một đại tá, và Frances Ann Haslam, một phụ nữ Anh. Borges Haslam lớn lên nói tiếng Anh trong gia đình. Gia đình họ thường xuyên có những chuyến du lịch tới châu Âu. Borges Haslam về sau đã kết hôn với Leonor Acevedo Suárez vào năm 1898, và họ còn có với nhau người con khác là họa sĩ Norah Borges, em gái của Jorge Luis Borges.[13]

Năm mười tuổi, Jorge Luis Borges dịch tác phẩm Chàng hoàng tử hạnh phúc của Oscar Wilde sang tiếng Tây Ban Nha. Bản dịch được đăng trên một tờ tạp chí địa phương, nhưng bạn bè của Borges lại cứ tưởng rằng tác giả thực sự là cha ông.[14] Borges Haslam lúc ấy là một luật sư và giáo viên tâm lý học, đồng thời vẫn luôn ôm ấp hoài bão văn chương. Borges nói rằng cha mình "đã cố trở thành nhà văn và thất bại trong nỗ lực đó", bất chấp ông đã có một tác phẩm là El caudillo vào năm 1921. Jorge Luis Borges viết: "Vì phần lớn người nhà tôi từng là lính và tôi biết mình sẽ chẳng bao giờ như thế, nên khá sớm thôi, tôi đã cảm thấy xấu hổ khi mình là kiểu người chỉ gắn với sách vở chứ không phải một người hành động."[13]

Jorge Luis Borges được dạy học tại nhà cho đến năm 11 tuổi và sử dụng song ngữ tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh, đến năm mười hai tuổi ông đã đọc Shakespeare bằng tiếng Anh.[13] Gia đình ông sống trong một ngôi nhà lớn với một thư viện tiếng Anh với hơn một nghìn đầu sách, mà sau này Borges từng nhận xét rằng "nếu có ai bảo tôi nêu ra sự kiện quan trọng nhất trong đời mình, tôi sẽ nói đó là thư viện của cha tôi."[15]

Cha ông phải bỏ hành nghề luật vì thị lực suy giảm, căn bệnh mà sau này cũng sẽ ảnh hưởng tới chính Borges. Năm 1914, gia đình chuyển tới Geneva, Thụy Sĩ và dành thập niên tiếp theo ở châu Âu.[13] Tại Geneva, Borges Haslam được một bác sĩ chuyên khoa mắt điều trị, trong khi con trai và con gái ông đi học. Jorge Luis học tiếng Pháp, đọc Thomas Carlyle bằng tiếng Anh và bắt đầu đọc triết học bằng tiếng Đức. Năm 1917, khi mười tám tuổi, ông gặp nhà văn Maurice Abramowicz và bắt đầu một tình bạn văn chương kéo dài cho tới hết đời.[13] Ông nhận bằng tú tài tại Cao đẳng Genève vào năm 1918.[16][Note 2] Gia đình Borges quyết định ở lại Thụy Sĩ trong thời chiến vì tình hình bất ổn chính trị ở Argentina. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, gia đình ông sống ba năm ở nhiều thành phố khác nhau: Lugano, Barcelona, Mallorca, SevilleMadrid.[13] Họ ở lại châu Âu cho đến năm 1921.

Trong giai đoạn đó, Borges khám phá các trước tác của Arthur Schopenhauer và tiểu thuyết The Golem (1915) của Gustav Meyrink, những tác phẩm về sau có ảnh hưởng đáng kể đến sáng tác của ông. Tại Tây Ban Nha, Borges trở thành thành viên của phong trào văn học tiên phong chủ nghĩa Ultraist chống lại chủ nghĩa Modernismo, được truyền cảm hứng từ Guillaume ApollinaireFilippo Tommaso Marinetti, gần gũi với các nhà thơ hình tượng luận. Bài thơ đầu tay của ông, "Hymn to the Sea", được viết theo phong cách Walt Whitman, đăng trên tạp chí Grecia.[17] Trong thời gian ở Tây Ban Nha, ông gặp nhiều nhà văn Tây Ban Nha tên tuổi như Rafael Cansinos AssensRamón Gómez de la Serna.[18]

Borges năm 1921

Giai đoạn viết văn ban đầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1921, Borges cùng gia đình trở về Buenos Aires. Ông hầu như không có nền tảng giáo dục chính quy, không có bằng cấp và cũng ít bạn bè. Trong một lá thư viết cho bạn, ông đã nói rằng Buenos Aires "tràn ngập bọn mới phất, những chàng trai đứng đắn nhưng rỗng tuếch trong đầu, và các quý cô chỉ dùng để trang trí" (overrun by arrivistes, by correct youths lacking any mental equipment, and decorative young ladies).[13] Mang theo bên mình là thứ học thuyết Chủ nghĩa Ultraist sau thời gian sống tại châu Âu, Borges bắt đầu sự nghiệp văn chương bằng việc công bố những bài thơ và tiểu luận mang màu sắc siêu thực trên các tạp chí văn học. Năm 1923, Borges lần đầu xuất bản thơ, trong một tập mang tên Fervor de Buenos Aires, và cộng tác với tạp chí tiên phong Martín Fierro. Borges đồng sáng lập các tạp chí Prisma, một tờ in khổ lớn được phát hành chủ yếu bằng cách dán lên tường ở Buenos Aires, và Proa. Về sau, Borges tỏ ra hối tiếc về một số ấn phẩm buổi đầu này, ông đã cố gắng mua lại tất cả các bản còn được lưu hành để tiêu hủy.[19]

Đến giữa thập niên 1930, ông bắt đầu đào sâu vào các câu hỏi hiện sinh và thử sức với văn xuôi hư cấu. Phong cách của ông được nhà phê bình Argentina Ana María Barrenechea gọi là “phi hiện thực” (irreality). Bên cạnh ông, thời gian này, nhiều nhà văn Mỹ Latinh khác như Juan Rulfo, Juan José ArreolaAlejo Carpentier cũng đang tham gia các chủ đề tương tự, chịu ảnh hưởng từ hiện tượng học của HusserlHeidegger. Theo mạch đó, nhà viết tiểu sử Borges là Edwin Williamson nhấn mạnh sự nguy hiểm của việc suy diễn rằng nội dung hoặc giọng điệu trong một số tác phẩm của ông được gợi trực tiếp từ tiểu sử cá nhân: sách vở, triết học và trí tưởng tượng là nguồn cảm hứng “thực” cho Borges không kém, nếu không muốn nói là hơn, kinh nghiệm sống của chính ông.[13]

Adolfo Bioy Casares, Victoria Ocampo và Borges năm 1935

Ngay từ số đầu tiên, Borges đã là cộng tác viên thường xuyên của Sur, tạp chí do Victoria Ocampo sáng lập vào năm 1931. Khi ấy, đây là tạp chí văn học quan trọng nhất Argentina và nó đã giúp Borges gây dựng tên tuổi.[20] Ocampo giới thiệu Borges với Adolfo Bioy Casares, một gương mặt quen thuộc khác của văn học Argentina, người sau này trở thành cộng sự thường xuyên và bạn thân của ông. Họ cùng nhau viết nhiều tác phẩm, có tác phẩm ký dưới bút danh H. Bustos Domecq, trong đó có một loạt truyện trinh thám trào phúng và truyện kỳ ảo. Trong những năm này, một người bạn của gia đình, Macedonio Fernández, trở thành người có ảnh hưởng lớn đối với Borges. Cả hai thường chủ trì các cuộc tranh luận trong quán cà phê, ở những chốn nghỉ dưỡng ngoài thành phố, hoặc trong căn hộ nhỏ xíu của Fernández ở khu Balvanera. Ông xuất hiện dưới tên thật trong bài Dialogue about a Dialogue (Đối thoại về một cuộc đối thoại) của Borges,[21] trong đó hai người bàn về sự bất tử của linh hồn.

Năm 1933, Borges nhận công việc biên tập tại Revista Multicolor de los Sábados (phụ san văn học cuối tuần của nhật báo Crítica ở Buenos Aires), nơi ông lần đầu công bố những bài viết sau này được tập hợp thành Historia universal de la infamia (Một lịch sử phổ quát về sự ô nhục) năm 1935.[13] Cuốn sách bao gồm hai kiểu văn bản: kiểu thứ nhất nằm đâu đó giữa tiểu luận phi hư cấu và truyện ngắn, dùng kỹ thuật hư cấu để kể lại những câu chuyện về cơ bản là có thật. Kiểu thứ hai là những “giả bản văn học”, ban đầu được Borges giới thiệu như bản dịch từ các đoạn trích của những tác phẩm nổi tiếng nhưng ít người đọc.

Những năm tiếp theo, ông làm cố vấn văn học cho nhà xuất bản Emecé Editores, và từ 1936 đến 1939 viết chuyên mục hàng tuần cho El Hogar. Năm 1938, Borges tìm được việc làm phụ tá thứ nhất tại Thư viện Đô thị Miguel Cané. Đây là một khu lao động[22] và số lượng sách ở đó ít đến mức người ta bảo rằng nếu ông biên mục quá một trăm cuốn mỗi ngày thì sẽ chẳng còn việc gì cho các nhân viên khác làm, khiến họ trông như không làm việc. "Toàn bộ chức phận một nhân viên thư viện được tôi hoàn thành ngay trong giờ làm việc đầu tiên rồi tôi lẳng lặng xuống dưới hầm sách đọc hoặc viết năm sáu giờ liền. Các nam nhân viên thư viện khi đó chỉ mê theo dõi các cuộc đua ngựa, các trận bóng đá và các câu chuyện tục tằn. Một nữ bạn đọc đã bị hiếp khi đi vào phòng dành cho phụ nữ. Tất cả đều bảo rằng, chuyện này không thể không xảy ra một khi phòng dành cho phụ nữ ở cạnh phòng dành cho nam giới" - Ông nhớ lại. Thế nhưng cũng trong thời gian đó Borges đã sống như mọt sách và viết được hàng loạt những kiệt tác cho tương lai trong quãng thời gian ở tầng hầm thư viện, mặc dù lúc chúng mới xuất hiện, ít ai đánh giá được chân giá trị của chúng.[13]

Giai đoạn sự nghiệp về sau

[sửa | sửa mã nguồn]
Borges thập niên 1940

Cha của Borges qua đời năm 1938, ngay trước sinh nhật lần thứ 64 của ông. Vào Đêm Giáng Sinh năm đó, Borges bị một chấn thương nặng ở đầu; trong quá trình điều trị, ông suýt chết vì nhiễm trùng huyết.[23] Trong thời gian hồi phục sau tai nạn, Borges bắt đầu khai phá một lối viết mới, cũng chính là phong cách sau này làm nên tên tuổi của ông.[24] Truyện đầu tiên ông viết sau tai nạn, "Pierre Menard, tác giả của ''Quixote''", ra mắt tháng 5 năm 1939. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, "Menard", đã đưa ra một khảo sát về bản chất của tác giả, cũng như mối quan hệ giữa nhà văn và bối cảnh lịch sử của mình. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông, El jardín de senderos que se bifurcan (Khu vườn những lối rẽ), xuất bản năm 1941, gồm phần lớn các truyện đã in trước đó trên Sur.[13]

Truyện nhan đề cùng tên xoay quanh một giáo sư người Hoa tại Anh, tiến sĩ Yu Tsun, làm gián điệp cho Đức trong Thế chiến thứ nhất, nhằm chứng minh với giới chức rằng một người châu Á cũng có thể lấy được những tin tức họ cần. Vừa là sách vừa là mê lộ, nó có thể được đọc theo nhiều cách khác nhau. Thông qua tác phẩm này, có thể nói Borges đã phác ra hình thức tiểu thuyết siêu văn bản (hypertext), và từ đó triển khai một lý thuyết về vũ trụ dựa trên cấu trúc của kiểu tiểu thuyết đó.[25][26]

Tập sách, gồm những truyện chiếm hơn sáu mươi trang, nhìn chung được đón nhận tích cực, nhưng El jardín de senderos que se bifurcan lại không mang về cho ông những giải thưởng văn chương mà nhiều người quanh ông trông đợi.[27][28] Victoria Ocampo đã dành phần lớn số tháng 7 năm 1942 của Sur cho một chuyên đề "Đền bù cho Borges" (Reparation for Borges). Nhiều nhà văn và nhà phê bình hàng đầu từ Argentina và khắp thế giới nói tiếng Tây Ban Nha đã đóng góp bài viết cho “chiến dịch” đòi lại công bằng này.

Khi thị lực bắt đầu suy giảm từ những năm đầu ba mươi tuổi và không thể tự nuôi sống mình bằng nghề viết, Borges bước vào một giai đoạn nghề nghiệp mới với tư cách diễn giả trước công chúng.[Note 3][29][30] Ông dần trở thành một nhân vật công chúng ngày càng quen mặt, nhận các chức danh như chủ tịch Hội Nhà văn Argentina và giáo sư Văn học Anh–Mỹ tại Hiệp hội Văn hóa Anh ngữ Argentina. Truyện ngắn "Emma Zunz" của ông được chuyển thể thành phim (dưới nhan đề Días de odio, Những ngày căm hận, do Leopoldo Torre Nilsson đạo diễn vào năm 1954).[31] Cũng trong thời gian này, Borges bắt đầu viết kịch bản phim.

Tiểu thuyết gia Mỹ William Faulkner khi đó đã là một tên tuổi quen thuộc trong thế giới nói tiếng Tây Ban Nha khi Borges dịch tiểu thuyết The Wild Palms của ông năm 1940. Borges rất ngưỡng mộ Faulkner, nhưng nhiều khả năng việc ông chọn dịch một tiểu thuyết kém nổi tiếng hơn xuất phát từ cơ hội và nhu cầu mưu sinh. Cuốn tiểu thuyết này mới được xuất bản ở Mỹ năm 1939, và Borges có lẽ cần khoản tiền mà công việc dịch thuật mang lại. Dù vậy, bản dịch của ông đã tạo nên một nhịp cầu khó phai giữa văn học Mỹ Latinh đương thời và nhà văn miền Nam Hoa Kỳ. Trực giác ngôn ngữ sắc bén và khả năng chuyển tải phong cách Faulkner của Borges đã gây ảnh hưởng quan trọng lên thế hệ nhà văn sau này như Juan Rulfo, Mario Vargas LlosaGabriel García Márquez.[32][33]

Năm 1955, Borges trở thành giám đốc Thư viện Quốc gia Argentina. Đến cuối thập niên 1950, ông đã hoàn toàn mù. Bản thân Borges rất ý thức với sự trùng hợp trớ trêu trong việc một nhà văn lại trở nên mù lòa như vậy:[13]

Tập thơ về sau của ông, Elogio de la Sombra (In Praise of DarknessNgợi ca bóng tối),[35] tiếp tục triển khai chủ đề này. Năm 1956, Đại học Cuyo trao cho Borges tấm bằng tiến sĩ danh dự đầu tiên trong số nhiều bằng danh dự mà ông nhận được, và năm sau đó ông được Giải thưởng Văn học Quốc gia Argentina.[36] Từ 1956 đến 1970, Borges cũng giữ chức giáo sư văn học tại Đại học Buenos Aires và kiêm nhiệm một số vị trí giảng dạy tạm thời ở các đại học khác.[36] Năm 1964, ông được trao tước hiệp sĩ danh dự của Vương Quốc Anh.[37] Mùa thu năm 1967 và mùa xuân năm 1968, ông giảng loạt bài giảng Charles Eliot Norton tại Đại học Harvard.[38]

Khi thị lực suy giảm trầm trọng, Borges ngày càng dựa vào sự trợ giúp của mẹ mình.[36] Khi ông không còn có thể tự đọc và viết (ông chưa bao giờ học đọc chữ nổi Braille), người mẹ – vốn luôn thân thiết với ông – trở thành thư ký riêng.[36] Khi Juan Perón trở về từ lưu vong và tái đắc cử tổng thống năm 1973, Borges lập tức từ chức giám đốc Thư viện Quốc gia.[39]

Vinh quang muộn màng

[sửa | sửa mã nguồn]
Tập tin:Borges 001.JPG
Borges năm 1976.

Năm 1946 tại Argentina đã xác lập chế độ độc tài của Tổng thống Peron. Borges đã bị đuổi khỏi thư viện vì chế độ mới không hài lòng với những phát ngôn và sáng tác của ông. Như sau này ông nhớ lại, ông đã được nhắc nhở là ông được thăng chức từ nhân viên thư viện lên chức thanh tra về thương mại gia cầm ở các khu chợ thành phố. Và vì vậy, ông đã phải sống cảnh thất nghiệp từ năm 1946 tới năm 1955, khi chế độ độc tài bị lật đổ. Của đáng tội, năm 1950 dẫu sao ông cũng được bầu làm Chủ tịch Hội Nhà văn Argentina, một trong những tổ chức ít ỏi đối lập với chế độ độc tài nhưng chẳng được bao lâu, nó đã bị giải tán. Sau khi chế độ độc tài sụp đổ, Borges được cử làm Giám đốc Thư viện Quốc gia, đồng thời cũng là giáo sư văn học AnhMỹ tại Trường Đại học Tổng hợp Buenos Aires. Nhưng mọi sự đã là muộn màng, đúng như câu ngạn ngữ Pháp: "khi ta được chia quần, thì ta đã chẳng còn mông". Tới năm 1955, Borges đã hoàn toàn bị hỏng thị giác: "Vinh quang, cũng như sự mù loà, tới cùng tôi chậm rãi từng bước một. Tôi không bao giờ tìm kiếm nó cả". Nhưng tới những năm 50, Borges đã trở thành một nhà văn nổi tiếng thế giới và từ những năm 60, ông đã được đánh giá như một trưởng lão làng văn. Có lẽ niềm vinh quang bất ngờ tới cùng với Borges đã được phù trợ bởi thành công của trào lưu "Tân tiểu thuyết" mà nữ văn sĩ Nathalie Sarraute đã viết ra bản tuyên ngôn rộng mở "Kỷ nguyên thức tỉnh", được in vào đúng năm 1950: "... Khi nhà văn định kể một câu chuyện nào đó và hình dung ra việc mình sẽ phải viết "Hầu tước phu nhân đi ra vào lúc năm giờ" và cảnh độc giả sẽ mai mỉa thế nào khi nhìn vào cái đó, hẳn anh ta sẽ cảm thấy hoài nghi và không thể cất tay lên viết được...". Cộng thêm vào đó là sự thất vọng ở thực tế, và cảm giác chán ngán vì những thủ pháp miêu tả truyền thống... Những gì mà tiến trình phát triển của tiểu thuyết châu Âu mãi mới tới được đã có sẵn trong các tác phẩm mà Borges đã viết từ lâu. Không ngẫu nhiên mà giữa những năm 70, Borges đã được đề cử vào giải Nobel văn học. Nhưng mãi mà ông vẫn không được trao giải thưởng danh giá này. Cho tới lúc qua đời, Borges vẫn thích nhắc đi nhắc lại câu nói đùa nhưng không phải không có ẩn ý: "Tôi sung sướng vì là nhà văn lớn duy nhất đã không được nhận giải Nobel!". Năm 1974, Borges rời khỏi chức Giám đốc Thư viện Quốc gia Argentina và sống ẩn dật trong một căn hộ nhỏ ở Buenos Aires. Một cụ già cô đơn, khiêm nhường, từng được nhận rất nhiều giải thưởng văn học danh giá. Cho tới năm 1981, ông vẫn khẳng định: "Dù sao tôi vẫn không có cảm giác là tôi đã viết hết mọi điều rồi. Về một khía cạnh nào đó tôi vẫn thấy gần hơn với nhiệt huyết thanh xuân so với lúc tôi còn trẻ. Giờ tôi không cho là không thể đạt được hạnh phúc...". Năm 1986, Borges qua đời vì bệnh ung thư gan và được mai táng tại Geneva. Trước đó, năm 1982, trong bài giảng nhan đề "Sự mù lòa", Borges tuyên bố: "Nếu chúng ta cho bóng tối có thể là phúc lộc của trời, thì ai có thể "tự mình sống" hơn người khiếm thị và ai có thể hiểu về bản thân mình hơn người khiếm thị?"

Mộ phần của Borges tại nghĩa trang Plain Palais, Genève.

Năm 1971, ông được trao Giải Jerusalem, một giải thưởng dành cho các nhà văn có tác phẩm bàn về quyền tự do cá nhân trong xã hội.

Tác phẩm

[sửa | sửa mã nguồn]

Các cuốn sách nổi tiếng nhất của ông - Truyện hư cấu (1944) và The Aleph (1949) - là những tuyển tập truyện ngắn kết nối với nhau bởi các chủ đề phổ biến như những giấc mơ, mê cung, thư viện, động vật, nhà văn hư cấu, triết họctôn giáo. Tác phẩm của ông đã đóng góp cho thể loại khoa học viễn tưởng cũng như thể loại của chủ nghĩa hiện thực huyền diệu, một loại phản ứng chống lại chủ nghĩa hiện thực/tự nhiên của thế kỷ 19. Trong thực tế, nhà phê bình thiên thần Flores, đầu tiên sử dụng thuật ngữ, thiết lập đầu này chuyển động với Borges của Historia phổ de la infamia (1935). Các học giả cũng đã đề nghị rằng tiến bộ Borges của đã giúp anh ta để tạo ra biểu tượng sáng tạo văn học thông qua trí tưởng tượng của ông những bài thơ cuối đối thoại với các nhân vật văn hóa như Spinoza, Camões và Virgil.

Tác phẩm của Borges đóng góp cho văn chương triết học và cho thể loại tưởng tượng. Nhà phê bình Ángel Flores - người đầu tiên dùng thuật ngữ "chủ nghĩa hiện thực ma thuật" để định nghĩa một thể loại chống lại chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự nhiên đang thống trị thế kỷ 19 - xem sự mở đầu của trào lưu này bắt đầu với sự ra mắt của tác phẩm Historia universal de la infamia của Borges. Tuy nhiên, một số nhà phê bình xem Borges là một người đi trước và không thực sự là một người theo chủ nghĩa hiện thực ma thuật.

Uy tín quốc tế của ông càng được củng cố những năm 1960, nhờ các tác phẩm được dịch sang tiếng Anh, nhờ sự bùng nổ của văn học Mỹ Latinh và nhờ thành công của tác phẩm Trăm năm cô đơn của Gabriel García Márquez. Tác giả, nhà văn JM Coetzee nói về ông như sau:" Hơn ai hết, ông đã cải tổ ngôn ngữ văn chương hư cấu và do đó mở đường cho một thế hệ đáng chú ý gồm các tiểu thuyết gia người Mỹ gốc Tây Ban Nha".

Danh sách tác phẩm đã công bố

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Fervor de Buenos Aires, 1923
  • Luna de Enfrente, 1925
  • INQUISICIONES, 1925
  • EL TAMAÑO DE MI ESPERANZA, 1926
  • EL IDIOMA DE LOS ARGENTINOS, 1928
  • CUADERNOS SAN MARTÍN, 1929
  • EVARISTO CARRIEGO, 1930 - Evaristo Carriego: A Book about Old-Time Buenos Aires (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1984)
  • DISCUSIÓN, 1932
  • LAS KENNIGAR, 1933
  • HISTORIA UNIVERSAL DE LA INFAMIA, 1935 - A Universal History of Infamy (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1972) / A Universal History of Iniquity (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999; translated with an introduction by Andrew Hurley, 2004)
  • HISTORIA DE LA ETERNIDAD, 1936 - A History of Etenity (Lịch sử vĩnh cửu) (in Selected Non-Fictions, ed. Eliot Weinberger, 1999) - Ikuisuuden historia (teoksessa Haarautuvien polkujen puutarha, suom. Matti Rossi, 1969)
  • VIRGINIA WOOLF: UN CUARTO PROPIO, 1936 (translator)
  • VIRGINIA WOOLF: ORLANDO, 1937 (translator)
  • FRANZ KAFKA: LA METAMORFOSIS, 1938 (ed.)
  • WILLIAM FAULKNER: LAS PALMERAS SALVAJES, 1940 (translator)
  • EL JARDÍN DE SENDEROS QUE SE BIFURCAN, 1941 - The Garden of Forking Paths (Địa đàng quanh co) (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999) - Haarautuvien polkujen puutarha (suom. Matti Rossi, 1969)
  • SEIS PROBLEMAS PARA DON ISIDRO PARODI, 1942 (under the pseudonym H. Bustos Domecq, with Adolfo Bioy Cesares) - Six Problems for Don Isidro Parodi (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1981)
  • EL JARDIN DE SENDEROS QUE SE BIFURCAN, 1942
  • POEMAS (1922-1943), 1943
  • HERMAN MELVILLE: BARTLEBY, 1943 (translator)
  • FICCIONES (1935-1944), 1944 - Ficciones (Hư cấu) (edited and witrh an introd. by Anthony Kerrigan, 1962) / Ficciones (edited and introduced by Gordon Brotherston and Peter Hulme, 1976) / Fictions (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999) / The Library of Babel (engravings by Erik Desmazières, translated by Andrew Hurley, 2000)
  • DOS FANTASÍAS MEMORABLES, 1946 (under the pseudonym H. Bustos Domecq, with Adolfo Bioy Casares)
  • UN MODELO PARA LA MUERTE, 1946 (under the pseudonym B. Suárez Lynch, with Adolfo Bioy Cesares)
  • NUEVA REFUTACÍON DEL TIEMPO, 1947
  • EL ALEPH, 1949 - The Aleph and Other Stories (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1970) / The Aleps (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999) / The Aleph (including the prose fictions from The Maker, translated with an introduction by Andrew Hurley, 2004)
  • ASPECTOS DE LA LITERARA GAUCHESCA, 1950
  • LA MUERTE Y LA BRÚJULA, 1951
  • ANTIGUAS LITERATURAS GERMÁNICAS, 1951 (with Delia Ingenieros)
  • OTRAS INQUISICIONES 1937-1952, 1952 - Other Inquisitions 1937-1952 (tr. Ruth L.C. Simms, 1964)
  • EL "MARTIN FIERRO", 1953 (with Margarita Guerrero)
  • DÍAS DE ODIO, 1954 (screenplay, dir. Leopoldo Torre Nilsson)
  • LOS ORILLEROS, 1955
  • LEOPOLDO LUGONES, 1955 (with Betina Edelberg)
  • MANUAL DE ZOOLOGIA FANTASTICA, 1957 (rev. ed. EL LIBRO DE LOS SERES IMAGINARIOS, 1967) - The Book of Imaginary Beings (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1969) / The Imaginary Zoo (tr. Tim Reynolds, 1969) / The Book of Imaginary Beings (translated by Andrew Hurley, 2005) - Kuvitteellisten olentojen kirja (suom. Sari Selander, 2009)
  • OBRAS COMPLETAS, VIII 1954-60
  • LIBRO DEL CIELO Y DEL INFIERNO, 1960
  • EL HACEDOR, 1960 - The Dreamtigers (tr. Mildred Boyer and Harold Morland, 1964) / The Maker (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999) / Everything and nothing (tr. Donald A. Yates et al., 1999) - Unitiikerit (teoksessa Haarautuvien polkujen puutarha (suom. Matti Rossi, 1969)
  • ANTOLOGÍA PERSONAL, 1961 - A Personal Anthology (tr. Anthony Kerrigan, 1967)
  • Labyrinths; Selected Stories & Other Writings, 1962 (edited by Donald A. Yates & James E. Irby)
  • MACEDONIO FERNÁDEZ, 1963
  • EL OTRO, EL MISMO, 1964
  • OBRAS COMPLETAS III, 1964
  • PARA LAS SEIS CUERDAS, 1965
  • INTRODUCCIÓN A LA LITERATURA INGLESA, 1965 (with María Esther Vázquez) - An Introduction to English Literature (tr. L. Clark Keating and Robert O. Evans, 1974)
  • LITERATURAS GERMÁNICAS MEDIAVALES, 1966 (with María Esther Vásquez)
  • CRÓNICAS DE BUSTOS DOMECQ, 1967 (with Adolfo Bioy Casares) - Chronicles of Bustos Domecq (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1976)
  • LA NOCHE QUE EN EL SUR LO VELARON, 1967 - Deathwatch on the Southside (tr. Robert Fitzgerald, 1968)
  • INTRODUCCIÓN A LA LITERATURA NORTEAMERICANA, 1967 (with Esther Zemborain de Torres) - An Introduction to American Literature (tr. Clark Keating and Robert O. Evans, 1971)
  • MUEVA ANTOLOGÍA PERSONAL, 1968
  • ELOGIO DE LA SOMBRA, 1969 - In Praise of Darkness (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1974) / In Praise of Darkness (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999) / Brodie's Report: Including the Prose Fiction from In Praise of Darkness (translated with an introduction by Andrew Hurley, 2005)
  • EL OTRO, EL MISMO, 1969
  • INVASIÓN, 1969 (screenplay, with Adolfo Bioy Casares, Hugo Santiago, dir. Hugo Santiago)
  • EL INFORME DE BRODIE, 1970 - Dr. Brodie's Report (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1972) / Brodie's Report (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999) / Brodie's Report: Including the Prose Fiction from In Praise of Darkness (translated with an introduction by Andrew Hurley, 2005) - Hiekkakirja (suomentanut Pentti Saaritsa, 2003)
  • IL CONGRESSO DEL MONDO, 1972 - The Congress (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1974) / The Congress of the World (tr. Alberto Manguel, 1981)
  • EL ORO DE LOS TIGRES, 1972 - The Gold of Tigers (tr. Norman Thomas di Giovanni, in The Book of Sand, 1975) / The Gold of the Tigers: Selected Later Poems: A Bilingual Edition (translated by Alastair Reid, 1977)
  • Borges on Writing, 1973 (edited by Norman Thomas di Giovanni, Daniel Halpern, and Frank MacShane)
  • SIETE CONVERSACIONES CON JORGE LUIS BORGES, 1973 (with Fernand0 Sorrentino) - Seven Conversations with Jorge Luis Borges (tr. Clark M. Zlotchew, 1982)
  • OBRAS COMPLETAS, 1974 (ed. Carlos V. Frías)
  • EL LIBRO DE ARENA, 1975 - The Book of Sand (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1977) / The Book of Sand (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999) - Hiekkakirja (suomentanut Pentti Saaritsa, 2003)
  • LA ROSA PROFUNDA, 1975
  • PRÓLOGOS CON UN PRÓLOGO DE PRÓLOGOS, 1975
  • LA MONEDA DE HIERRO, 1976
  • LIBRO DE SUEÑOS, 1976
  • ANDROGUÉ, 1977
  • ASESINOS DE PAPEL, 1977
  • HISTORIA DE LA NOCHE, 1977
  • LA ROSA DE PARACELSO, 1977
  • NUEVOS CUENTOS DE BUSTOS DOMECQ, 1977 (with Adolfo Bioy Casares)
  • TIGRES AZULES, 1977
  • NORAH, 1977 (with Norah Borges)
  • OBRA POÉTICA, 1964-1978 (6 vols.)
  • OBRAS COMPLETAS EN COLABORARACIÓN, 1979
  • NARRACIONES, 1980 (ed. Marcos Ricardo Barnatán)
  • PROSA COMPLETA, 1980 (2 vols.)
  • SIETE NOCHES, 1980 - Seven Nights (tr. Eliot Weinberger, 1984)
  • LA CIFRA, 1981
  • NUEVE ENSAYOS DANTESCOS, 1982
  • VEINTICINCO AGOSTO DE 1983 Y OTROS CUENTOS, 1983 - Shakespeare's Memory (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999)
  • OBRA POETICA, 1923-1977, 1983
  • Y OTROS CUENTOS, 1983
  • ALTAS, 1984 (with María Kodoma) - Atlas (tr. Anthony Kerrigan, 1985)
  • LOS CONJURADOS, 1985
  • TEXTOS CAUTIVOS, 1986 (ed. Enrique Socerio-Gari and Emir Rodríguez Monegal)
  • EL ALEPH BORGIANO, 1987
  • BORGES, EL JUDAISMO E ISRAEL, 1988
  • PÁGINAS ESCOGIDAS, 1988 (ed. Roberto Fernández Retamar)
  • BIBLIOTECA PERSONAL: PRÓLOGOS, 1988
  • OBRAS COMPLETAS 1975-1985, 1989 - Shakespeare's Memory (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999)
  • Selected Poems, 1998 (edited by Alexander Coleman)
  • Collected Fictions, 1998 (tr. Andrew Hurley)
  • Selected Non-Fictions, 1999 (ed. Eliot Weinberger, tr. Esther Allen, Suzanne Jill Levine, Eliot Weinberger)
  • BORGES POR ÉL MISMO: POEMAS, 1999
  • CORRESPONDENCIA, 1922-1939, 2000 (ed. Carlos García)
  • This Craft Verse, 2000 (ed. Calin-Andrei Mihailescu)
  • TEXTOS RECOBRADOS, 2002
  • OBRAS COMPLETAS: EDICIÓN CRÍTICA. 1. 1923-1949, 2009 (ed. Rolando Costa Picazo)
  • OBRAS COMPLETAS: EDICIÓN CRÍTICA. 2. 1952-1972, 2010 (ed. Rolando Costa Picazo)
  1. ^ Nói ngắn gọn, chứng mù của Borges khiến ông thiên về thơ và những truyện ngắn hơn là tiểu thuyết. Ferriera, Eliane Fernanda C. "O (In)visível imaginado em Borges". In: Pedro Pires Bessa (ed.). Riqueza Cultural Ibero-Americana. Campus de Divinópolis-UEMG, 1996, pp. 313–14.
  2. ^ Edwin Williamson trong Borges (Viking, 2004), thì cho rằng Borges đã không hoàn tất kỳ thi tú tài (tr. 79–80): “hẳn ông chẳng mấy bận tâm đến tấm bằng tú tài, một phần vì ông ghét và sợ chuyện thi cử. (Thực tế là ông chưa bao giờ hoàn thành bậc trung học).”
  3. ^ "His was a particular kind of blindness, grown on him gradually since the age of thirty and settled in for good after his fifty-eighth birthday." From Manguel, Alberto (2006) With Borges. London: Telegram Books, pp. 15–16.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Troop Software Factory. "Jorge Luis Borges".
  2. ^ "Borges". Random House Webster's Unabridged Dictionary; truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2016.
  3. ^ David Wheatley (Director) (1983). Profile of a Writer: Borges and I (Feature Documentary). Arena.
  4. ^ "Jorge Luis Borges và cảm hứng sáng tác từ "Bờ bến khác" của thực tại". vanvn.vn. 2022.
  5. ^ Griffin, Clive (2013). ""Philosophy and Fiction"". The Cambridge Companion to Jorge Luis Borges. Cambridge University Press: 5–15.
  6. ^ Theo L. D'Haen (1995) "Magical Realism and Postmodernism: Decentering Privileged Centers", in: Louis P. Zamora and Wendy B. Faris, Magical Realism: Theory, History and Community. Duhan and London, Duke University Press, pp. 191–208.
  7. ^ di Giovanni, Thomas (2008). "Jorge Luis Borges: The Blind Librarian with Extraordinary Vision" (PDF). Dai hoc Hawai'i.
  8. ^ (bằng tiếng Bồ Đào Nha) Masina, Lea. (2001) "Murilo Rubião, o mágico do conto". In: O pirotécnico Zacarias e outros contos escolhidos. Porto Alegre: L & PM, pg. 5.
  9. ^ Borges on Life and Death, Interview by Amelia Barili.
  10. ^ Coetzee, J.M. "Borges' Dark Mirror", New York Review of Books, Volume 45, Number 16. 22 October 1998.
  11. ^ David Foster Wallace (ngày 7 tháng 11 năm 2004). "Borges on the Couch". The New York Times.
  12. ^ Bell-Villada, Gene (1999). Borges and His Fiction. United States of America: University of Texas Press. tr. 14. ISBN 0-292-70877-7.
  13. ^ a b c d e f g h i j k l m Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên LRB
  14. ^ Harold Bloom (2004) Jorge Luis Borges, Infobase Publishing. ISBN 978-950-07-1121-0
  15. ^ Borges, Jorge Luis, "Autobiographical Notes", The New Yorker, 19 September 1970.
  16. ^ Gene H. Bell-Villada,Borges and His Fiction: A Guide to His Mind and Art, University of Texas Press (1999), p. 16; ISBN 978-0-292-70878-5
  17. ^ Wilson, Jason (2006). Jorge Luis Borges. Reaktion Books. tr. 37. ISBN 1-86189-286-1.
  18. ^ Wilson, Jason (2006). Jorge Luis Borges. London: Reaktion. tr. 45–47. ISBN 1-86189-286-1. OCLC 65768057.
  19. ^ Borges: Other Inquisitions 1937–1952. Full introduction by James Irby. University of Texas, ISBN 978-0-292-76002-8; accessed 16 August 2010.
  20. ^ "Ivonne Bordelois, "The Sur Magazine" Villa Ocampo Website". Villaocampo.org. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2011.
  21. ^ Borges, Jorge Luis. Trans. Mildred Boyer and Harold Morland. Dreamtigers, University of Texas Press, 1985, p. 25.
  22. ^ Boldy (2009) p. 32
  23. ^ Castillo-Torres, S. A., et. al. (2021). "The books and the night", neurological perspective on Jorge Luis Borges’ blindness. Gaceta médica de México, 155(5). https://www.scielo.org.mx/scielo.php?pid=S0016-38132019000500516&script=sci_arttext&tlng=en
  24. ^ Toibin, C. (2006) Don't abandon me. Review of Borges: A Life by Edwin Williamson. London Review of Books, 28(9). https://www.lrb.co.uk/the-paper/v28/n09/colm-toibin/don-t-abandon-me
  25. ^ Bolter, Jay David; Joyce, Michael (1987). "Hypertext and Creative Writing". Hypertext '87 Papers. ACM. tr. 41–50.
  26. ^ Moulthrop, Stuart (1991). "Reading From the Map: Metonymy and Metaphor in the Fiction of 'Forking Paths'". Trong Delany, Paul; Landow, George P. (biên tập). Hypermedia and Literary Studies. Cambridge, Massachusetts and London, England: The MIT Press. ISBN 978-0-585-35444-6.
  27. ^ "Borges, Jorge Luis (Vol.32)". enotes. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2008.
  28. ^ Wardrip-Fruin, Noah & Montfort, Nick (2003). The New Media Reader. MIT Press.
  29. ^ Alberto Manguel (2006) With Borges, London: Telegram Books, pp. 15–16.
  30. ^ Woodall, J.: The Man in Mirror of the Book, A Life of Luis Borges, (1996), Hodder and Stoughton, pxxx.
  31. ^ "Days of Hate". Imdb. ngày 3 tháng 6 năm 1954. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2008.
  32. ^ Stavans, Ilan (2001). "Beyond Translation: Borges and Faulkner". Michigan Quarterly Review. XL (4). University of Michigan. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2025.
  33. ^ Day, Douglas (1980). "Borges, Faulkner, and The Wild Palms". Virginia Quarterly Review. 56 (1). University of Virginia.
  34. ^ Jorge Luis Borges (1984) Seven Nights, A New Directions Book pp 109–110.
  35. ^ Elogio de la Sombra, 1969, poetry. English title In Praise of Darkness, 1974; ISBN 0-525-03635-0.
  36. ^ a b c d Burgin (1988) p xvii
  37. ^ The American Hispanist (bằng tiếng Anh). American Hispanist. 1975. tr. 3.
  38. ^ "The Craft of Verse: The Norton Lectures, 1967–68". UbuWeb: Sound. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2014.
  39. ^ Borges, Jorge Luis (2013). Jorge Luis Borges: The Last Interview: and Other Conversations (The Last Interview Series). Melville House. ISBN 978-1-61219-204-8.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]