Vladimir Vladimirovich Mayakovsky

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vladimir Mayakovsky
Mayakovsky in 1924
Sinh Vladimir Vladimirovich Mayakovsky
19 tháng 7, 1893(1893-07-19)
Baghdati, Kutaisi, Đế quốc Nga
Mất 14 tháng 4, 1930 (36 tuổi)
Moskva, Liên Xô
Quốc tịch Đế quốc Nga, Liên Xô
Bằng cấp Trường Nghệ thuật Moskva
Giai đoạn sáng tác 1912—1930
Trào lưu Phái Vị lai


Vladimir Vladimirovich Mayakovsky (tiếng Nga: Влади́мир Влади́мирович Маяко́вский; 19 tháng 7 năm 1893 — 14 tháng 4 năm 1930) là một nhà thơ người Nga, một đại diện tiêu biểu nhất của trường phái thơ vị lai của thế kỉ 20.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mayakovsky sinh tại làng Baghdati, tỉnh Kutaisy, Gruzia trong một gia đình kiểm lâm. Vì sinh vào ngày sinh của bố nên được đặt tên trùng với tên bố. Cả bố và mẹ đều là những người có dòng dõi quý tộc. Lên 6 tuổi đã ham mê sách vở và thích đọc nhiều loại sách. Năm 1906, sau cái chết đột ngột của người cha, cả gia đình chuyển về Moskva. Năm 1908 ông vào Đảng Công nhân Dân chủ Xã hội Nga và tham gia hoạt động bí mật nên bỏ học từ lớp 5. Ông đã ba lần bị bắt giam, 11 tháng ngồi tù vì tội hoạt động cách mạng bí mật.

Năm 1911 Mayakovsky học hội họa, điêu khắc và kiến trúc ở Trường Nghệ thuật Moskva. Tại đây ông làm quen với David Davidovich Burliuk – một trong những thủ lĩnh của nhóm Vị lai. Burlyuk đánh giá cao tài thơ của Mayakovsky và khuyên nên tiếp tục sáng tác. Mayakovsky thường xuyên tham dự vào các buổi sinh hoạt văn nghệ và đọc thơ. Thời kỳ sau cách mạng Mayakovsky vẫn tích cực đi đọc thơ ở nhiều nơi. Được công chúng đánh giá là người đọc thơ hay tuyệt vời, giọng ngân vang và mạnh mẽ, là người biết truyền đạt đến người nghe những chi tiết của cả âm thanh lẫn sắc màu.

Từng có một thời trong các sách giáo khoa ở Liên Xô người ta gọi Mayakovsky là "lá cờ đầu của thơ ca Tháng Mười", "sự thể hiện sống động của một kiểu nhà thơ mới – người chiến sĩ tích cực đấu tranh cho tương lai tươi sáng của dân tộc"... Sau khi Liên Xô sụp đổ một số người lại đòi vứt Mayakovsky khỏi "Con tàu Hiện đại" như ngày nào Mayakovsky, cùng với một số người, đã ký tên vào bản tuyên ngôn của nhóm Vị lai: "vứt Pushkin, Dostoevsky, Tolstoy... khỏi Con tàu Hiện đại".

Di sản thi ca của Mayakovsky rất đồ sộ và sự cách tân hình thức thơ của ông đã có ảnh hưởng không chỉ đến thơ ca Nga mà thơ ca cả thế giới. Trường ca Đám mây mặc quần (Облако в штанах) được coi là một kiệt tác của Mayakovsky. Bài thơ tình với cảm xúc mãnh liệt đến mức hoang dại. Nhà thơ tạo nên một hình thức mới, một hơi thở mới cho thơ ca Nga bằng việc cắt đứt vần điệu, trộn lẫn ngôn ngữ nói, cách thức biểu đạt thô thiển với những câu thơ mềm mại. Người ta vẫn thường so sánh Mayakovsky với T. S. Eliot.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Vladimir Mayakovsky và người tình Lilya
  • Ночь (Đêm, 1912), thơ
  • Владимир Маяковский (Vladimir Maiakovsky, 1914), bi kịch
  • Облако в штанах (Đám mây mặc quần, 1915), trường ca
  • Флейта-позвоночник (Cây sáo-cột sống, 1916), trường ca
  • Человек (Con người, 1916—1917), trường ca
  • Все сочиненное Владимиром Маяковским (Tuyển tập Vladimir Maikovsky, 1919)
  • 150000000 (1921), trường ca
  • Владимир Ильич Ленин (Vladimir Ilich Lenin, 1924), trường ca
  • Хорошо! (Tốt lắm!, 1927), trường ca
  • Письмо Татьяне Яковлевой (Bức thư gửi Tatyana Yakovleva, 1928), thơ
  • Клоп (Con rệp, 1929), kịch
  • Баня (Nhà tắm, 1930), kịch

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Гейнеобразное
 
Молнию метнула глазами:
"Я видела -
с тобой другая.
Ты самый низкий,
ты подлый самый..." -
И пошла,
и пошла,
и пошла, ругая.
Я ученый малый, милая,
громыханья оставьте ваши,
Если молния меня не убила -
то гром мне,
ей-богу, не страшен.
 
Отношение к барышне
 
Этот вечер решал —
не в любовники выйти ль нам?—
темно,
никто не увидит нас.
Я наклонился действительно,
и действительно
я,
наклонясь,
сказал ей,
как добрый родитель:
«Страсти крут обрыв —
будьте добры,
отойдите.
Отойдите,
будьте добры».
 
Послушайте!
 
Послушайте!
Ведь, если звезды зажигают -
значит - это кому-нибудь нужно?
Значит - кто-то хочет, чтобы они были?
Значит - кто-то называет эти плевочки
жемчужиной?
И, надрываясь
в метелях полуденной пыли,
врывается к богу,
боится, что опоздал,
плачет,
целует ему жилистую руку,
просит -
чтоб обязательно была звезда! -
клянется -
не перенесет эту беззвездную муку!
А после
ходит тревожный,
но спокойный наружно.
Говорит кому-то:
"Ведь теперь тебе ничего?
Не страшно?
Да?!"
Послушайте!
Ведь, если звезды
зажигают -
значит - это кому-нибудь нужно?
Значит - это необходимо,
чтобы каждый вечер
над крышами
загоралась хоть одна звезда?!
Phong cách Heine
 
Đôi mắt em bừng lên như tia chớp
em nói rằng em đã nhìn
thấy anh đi cùng cô gái khác.
Rằng anh là người đê tiện nhất
rằng anh là kẻ thấp hèn.
Và em bước
đi trên đường
em vừa đi vừa rủa.
Anh chỉ là nhà bác học tầm thường, em yêu ạ
những tiếng sấm kia em hãy giữ cho mình.
Nếu như tia chớp đã không giết được anh
thì tiếng sấm rền
nói có trời, anh không sợ.
 
Cư xử với cô nương
 
Buổi chiều này đã quyết
còn anh và em có là người tình?
Trời tối đen
không ai nhìn thấy hết.
Và anh đã quỳ xuống thật
quả thật
là anh
trong khi cúi mình
nói với em
như người cha tốt bụng:
"Dục tình như vách dựng đứng
con làm ơn
đứng tránh ra bên đường.
Tránh ra bên đường
con nhé".
 
Hãy nghe đây!
 
Hãy nghe đây!
Vì rằng, nếu những ngôi sao sáng rực
nghĩa là – điều này có ai đó cần?
Nghĩa là – có ai đó muốn cho chúng cháy lên?
Nghĩa là – có ai đó gọi những cục đờm là
châu ngọc?
Và ai đó đang đau xót
trong cơn lốc của bụi buổi trưa
rồi hắn gọi Đức Chúa Trời
lo sợ rằng đã muộn
rồi khóc rống
rồi hôn cánh tay của Chúa nổi gân xanh
và hắn cầu xin
để cho ngôi sao không tắt!
Và thề thốt
không di dời nỗi đau khổ thiếu sao!
Còn sau đấy
bước đi trong phiền muộn lo âu
nhưng bề ngoài có vẻ yên lắm vậy.
Rồi nói cùng ai đấy:
"Bây giờ mi bình thường?
Không có gì sợ hãi
Có phải vậy?!"
Hãy nghe đây!
Vì rằng, nếu những ngôi sao
sáng rực
nghĩa là – điều này có ai cần thiết?
nghĩa là – điều này cần thiết cho ai
để cứ mỗi buổi chiều
trên những mái nhà
dù chỉ một ngôi sao đang cháy?!
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Thơ về V. Mayakovsky[sửa | sửa mã nguồn]

Марина Цветаева
Выстрел—в самую душу,
Как только что по врагам.
Богоборцем разрушен
Сегодня последний храм.
 
Еще раз не осекся,
И, в точку попав—усоп.
Было стало быть сердце,
Коль выстрелу следом—стоп.
 
(Зарубежье, встречаясь:
"Ну, казус! Каков фугас!
Значит -- тоже сердца есть?
И с той же, что и у нас?")
 
Выстрел—в самую точку,
Как в ярмарочную цель.
(Часто—левую мочку
Отбривши—с женой в постель.)
 
Молодец! Не прошибся!
А женщины ради—что ж!
И Елену паршивкой
-- Подумавши—назовешь.
 
Лишь одним, зато знатно,
Нас лефовец удивил:
Только вправо и знавший
Палить-то, а тут—словил.
 
Кабы в правую—свeрк бы
Ланцетик—и здрав ваш шеф.
Выстрел в левую створку:
Ну в самый-те Центропев!
 
Много храмов разрушил,
А этот—ценней всего.
Упокой, Господи, душу усопшего врага твоего.
 
Анна Ахматова.
Я тебя в твоей не знала славе,
Помню только бурный твой расцвет,
Но, быть может, я сегодня вправе
Вспомнить день тех отдаленных лет.
 
Как в стихах твоих крепчали звуки,
Новые роились голоса...
Не ленились молодые руки,
Грозные ты возводил леса.
 
Все, чего касался ты, казалось
Не таким, как было до тех пор,
То, что разрушал ты,- разрушалось,
В каждом слове бился приговор.
 
и часто недоволен,
С нетерпеньем торопил судьбу,
Знал, что скоро выйдешь весел, волен
На свою великую борьбу.
 
И уже отзывный гул прилива
Слышался, когда ты нам читал,
Дождь косил свои глаза гневливо,
С городом ты в буйный спор вступал.
 
И еще не слышанное имя
Молнией влетело в душный зал,
Чтобы ныне, всей страной хранимо,
Зазвучать, как боевой сигнал.
Marina Tsvetaeva
Phát súng bắn vào giữa ngực
Như chỉ để bắn kẻ thù thôi.
Người từng đánh vật với Đức Chúa Trời
Ngôi đền cuối cùng hôm nay phá nốt.
 
Lại một lần nữa không bị tắc
Viên đạn xuyên – người ấy lìa trần.
Đã từng có một con tim
Sau phát súng – thế là chấm hết.
 
(Ở nước ngoài người ta đón gặp:
"Quả là thật rắc rối, lung tung
Nghĩa là họ – cũng có tấm lòng?
Như ở bên ta, không khác?")
 
Phát súng vào ngay giữa ngực
Như vào đích của chợ phiên.
(Thường vào thái dương bên trái, vứt
Như với người vợ trên giường.)
 
Anh giỏi lắm! Và đã không nhầm
Quả là chết vì phụ nữ!
Và nàng Elena xấu xa tồi tệ[1]
Có từng nghĩ – là sẽ gọi tên.
 
Chỉ một điều, nhưng mà rất quý tộc
Người phái tả làm cho ta ngạc nhiên:
Chỉ về phía hữu và đã biết rằng
Thiêu trụi lông, còn ở đây – bắt được.
 
Giá như vào bên phải – thì cần xem lại
Sếp của anh – người ta sẽ kiểm tra.
Còn đây phát súng bắn vào cánh trái
Thì nghĩa là tâm điểm những bài ca!
 
Đã từng phá rất nhiều ngôi đền
Nhưng ngôi đền này – quý hơn tất cả.
Cầu Chúa cho kẻ thù của Người, đã chết được bình yên!
 
Anna Akhmatova
Tôi đã không biết anh trong vinh quang của mình
Chỉ nhớ rằng anh dồi dào sinh lực
Nhưng có thể, ngày hôm nay, quả thực
Tôi nhớ về những ngày tháng xa xăm.
 
Trong thơ anh mạnh mẽ những tiếng vang
Những giọng nói rất chi là mới mẻ
Không hề lười biếng những bàn tay trẻ
Anh xây nên khủng khiếp những cánh rừng.
 
Cứ ngỡ rằng những gì thuộc về anh
Không như những gì có từ trước đó
Những gì anh đả phá – đều sụp đổ
Trong mỗi lời một bản án vang lên.
 
Anh cô độc và thường không bằng lòng
Anh sốt ruột và hối thúc phận số
Anh biết rằng sắp tới đời vui vẻ
Anh kiên cường trong một cuộc đấu tranh.
 
Và tiếng dội về của nước triều lên
Nghe rõ ràng mỗi khi mà anh đọc
Mưa giận dữ quất vào đôi con mắt
Với mọi người anh tranh luận rất hăng.
 
Và khi hãy còn một cái tên chưa quen
Tia chớp lóe lên trong phòng oi ả
Để bây giờ cả nước còn gìn giữ
Lời vang lên như hiệu lệnh đấu tranh.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Elena – là ám chỉ phụ nữ nói chung (tiếng Nga: Elena; tiếng Anh: Helen; tiếng Pháp: Hélène). Thời cổ đại Helen of Troja được thừa nhận là người có sắc đẹp thiên thần mà sự bắt cóc nàng đã trở thành nguyên nhân của cuộc chiến Tơ-roa đẫm máu.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]