Động vật trong Hồi giáo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Một con của người Hồi giáo chuẩn bị cho Lễ hiến tế Eid al-Adha

Động vật trong Hồi giáo là quan điểm, giáo lý, giáo luật của Hồi giáo về các loài động vật. Mặc dù những tín đồ Hồi giáo không thực hành thờ phượng động vật nhưng những kinh sách của đạo Hồi cũng giảng giải về sự tôn trọng nhất định đối với một số loài động vật. Những nội dung này được nhà tiên tri Mohamed đề cập đến như là ý chỉ của Allah và được cụ thể hóa qua các kinh sách như kinh Quran (Koran), luật Halal, nhất là việc tuân thủ vấn đề tiêu thụ các sản phẩm từ động vật và việc giết mổ động vật. Đạo Hồi còn đặt nặng vấn đề đối xử nhân đạo đối với động vật thông qua quy trình giết mổ động vật.

Các quy định[sửa | sửa mã nguồn]

Do người Hồi giáo có những luật lệ rất phức tạp và nghiêm khắc nên việc ăn uống cũng rất khắt khe. Ở các nước theo đạo Hồi, thịt động vật Halal thì người Hồi giáo mới được phép tiêu thụ. Halal và haram là những thuật ngữ áp dụng cho tất cả các khía cạnh của cuộc sống người Hồi giáo. Thực phẩm Halal còn phải đựơc làm từ nguồn động vật được xử lý theo đúng phương pháp của đạo Hồi.

Quy định chung[sửa | sửa mã nguồn]

Những động vật và sản phẩm động vật được cho là hợp pháp (Halal) là: Sữa (từ bò, cừu, lạc đà và dê), Mật ong. Cá, Đồ tự nhiên tươi Động vật như bò, cừu, dê, hươu, nai, gà, chim, vịt... cũng Halal, nhưng chúng phải được giết mổ theo nghi thức Hồi giáo để phù hợp cho việc tiêu thụ. Từ Allah (nghĩa là chúa trời) phải được người mổ thịt nói trước khi mổ. Dụng cụ giết mổ phải được mài sắc bén để đảm bảo tính nhân đạo.

Động vật phải được giết ở khe cổ họng. Động vật phải còn sống trước khi bị mổ. Thịt của động vật bị chết hoặc bất tỉnh trước khi mổ không phải là thịt Halal. Thịt sau khi mổ phải được treo ngược lên để máu chảy ra hết. Thịt halal là thịt không dính máu. Việc giết mổ phải được thực hiện bởi người hồi giáo hoặc người Do thái. Động vật phải được cho ăn ở chế độ tự nhiên, không chứa các sản phẩm làm tự động vật khác.

Các loài động vật và sản phẩm động vật bị cấm (Hamram) theo Đạo Hồi là:

  • Lợn (heo), chó và những gì được làm hay chiết xuất ra từ chúng.
  • Động vật có móng vuốt và răng nanh như sư tử, hổ, gấu, rắn, khỉ và các loài động vật khác tương tự.
  • Loài chim săn mồi có móng vuốt như đại bàng, kền kền, và các loài chim tương tự khác.
  • Loài gây hại như chuột, rết, bọ cạp và động vật tương tự khác.
  • Động vật cấm bị giết trong đạo Hồi: kiến, ong, chim gõ kiến.
  • Động vật được coi là bẩn như chấy, ruồi, giòi và các động vật tương tự khác.
  • Động vật vừa sống trên đất liền vừa sống trong nước (động vật lưỡng cư) như ếch, cá sấu và các động vật tương tự khác.
  • Con la và con lừa nhà.
  • Tất cả các chất độc hại và loài thuỷ sản nguy hiểm .
  • Bất kỳ loài động vật khác không giết mổ theo luật Hồi giáo.
  • Động vật chết vì nghẹt thở, bị đập vào đầu, bị rơi, bị tấn công bởi động vật khác.
  • Máu.
  • Một phần bộ phận của cơ thể con người hoặc nhau thai
  • Bất kỳ chất lỏng hay rắn xuất ra từ người hoặc động vật như nước tiểu, phân, chất nôn và mủ.

Nguồn thịt[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn thịt được phép tiêu thụ phải tuân theo Luật Halal

Người theo đạo Hồi kiêng ăn thịt lợn, các loại gia cầm có thể bay, những động vật vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước (lưỡng cư). Trước khi giết mổ động vật, cần có nhiều người trong tôn giáo cầu nguyện Người hồi giáo không ăn thịt khi đã chết trước khi giết mổ hoặc giết mổ nhưng chưa được cầu nguyện. Tín đồ Hồi giáo bị cấm uống huyết (máu), ăn thịt lợn, thịt chó, hoặc bất kỳ con vật nào bị bệnh mà chết, hay bị một con vật khác giết, bị người giết để tế thần, thánh.

Theo Hồi giáo, thực phẩm từ động vật được quy định rất chặt chẽ, trong cách chọn loại thực phẩm này thì tín đồ Hồi giáo bắt buộc phải phân biệt được loài nào có Najis (những chất bẩn như: máu, mủ, rượu, nước tiểu, phân) và không có Najis. Thực phẩm, theo quy định của Hồi giáo, bao gồm những thực phẩm được phép ăn (gọi là Halal) và thực phẩm không được phép ăn (gọi là Haram). Theo luật Hồi giáo, nguyên liệu thực phẩm sản xuất từ động vật sau không được phép sử dụng[1]:

Các loài động vật mà theo luật Hồi giáo không được giết như: kiến, ong, chim gõ kiến, các loại động vật mà bản chất con người nói chung là ghét hoặc ngại tiếp xúc, các loài động vật vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước như: ếch, cá sấu và các loại khác tương tự, bất cứ loại động vật biển nào không có vây (loại gây hại và có chất độc). Bất cứ loài động vật nào không được giết thịt theo đúng luật Hồi giáo, tiết hay thực phẩm có lẫn tiết. Tất cả những loài vật ăn thịt loài vật khác như chó, mèo, cá sấu cùng với tiết động vật cũng thuộc danh sách không bao giờ đụng miệng[2].

Một số chất hỗ trợ có thể bắt nguồn từ động vật không Halal, một số chất béo thực vật được xử lý bởi cùng một máy móc thiết bị đã được sử dụng để xử lý các chất béo động vật không Halal hay một số bao bì có thể chứa mỡ động vật như mỡ heo. Nếu những vật liệu đóng gói này có tiếp xúc với chất Haram, nó sẽ làm cho những sản phẩm Haram, không thích hợp cho tín đồ Hồi giáo tiêu thụ[1]. Người Hồi giáo được phép ăn thịt bò, nhưng phải do chính người Hồi giáo giết mổ[2].

Luật giết mổ[sửa | sửa mã nguồn]

Giết mổ cừu theo lễ Qurban

Một động vật nằm trong chủng loài Halal thì mới được giết mổ theo cách Halal. Ngoài cách cắt cổ ít gây đau đớn và chết nhanh, động vật phải được nuôi, chuyên chở, bắt và giữ theo điều kiện nhân đạo. Vì thế cách đập đầu, chích điện để gây ngất trước khi cắt cổ sẽ không được chấp nhận. Đối với việc cắt cổ (dhabah): được xác định là phương pháp giết động vật với mục đích duy nhất là làm cho thịt chúng thích hợp cho con người sử dụng. Những điều kiện sau đây phải được thỏa mãn để Dhabh đạt được yêu cầu của luật Shariah. Người thao tác Dhabh (người cắt cổ) phải là người có tinh thần minh mẫn, và là người trưởng thành.

Nếu một người thiếu hoặc mất khả năng do say hay là thiểu năng lý trí thì người ấy phải ngừng công việc cắt cổ ngay. Phải có người khác vào thay thế vị trí Dhabh này. Những cái dao để thao tác Dhabh phải thật sự sắc bén để tạo điều kiện cắt da và mạch máu để máu thoát nhanh và tức thì, để cho xuất huyết nhanh và toàn bộ, không thể nói là cắt cổ nếu chỉ cắt da và các phần khác mà không cắt tĩnh mạch cảnh. Tiến trình được bắt đầu với vết cắt bằng con dao sắt như khuyến cáo đã rút ngắn toàn bộ thời gian cắt cổ, và có vẻ như con vật ít đau đớn hơn là gây ngất.

Con vật bị gây ngất trước khi bị giết, đôi khi con vật vẫn không hề bất tĩnh khi bị đánh một lần mà phải đánh thêm lần nữa. Phương pháp Dhabh cho phép con vật thoát máu nhanh và hiệu quả. Tim đập càng mạnh thì máu thoát ra càng nhiều, sự co giật không chủ động của con vật bị giết theo cách thức Dhabh nhiều hơn những con vật bị gây bất tỉnh. Các điều kiện sinh lý được diễn tả có hiệu lực đối với sự thoát máu của cơ thể con vật, nhưng nó chỉ hoạt động hết công suất nếu con vật bị cắt cổ trong lúc còn sống bằng cách cắt cuống họng và để lại phần cột sống mà không gây bất động cho bộ não của con vật. Không nên mài dao trước mặt động vật đang chuẩn bị cắt cổ. Nơi cắt được thực hiện trên cổ động vật ở một điểm ngay dưới thanh môn.

Theo truyền thống, lạc đà được cắt cổ bằng cách rạch một đường dao ở bất cứ nơi nào trên cổ, tiến trình này được gọi là Nahr. Với cách thức hạn chế hiện đại và cách gây ngất, tiến trình này không còn thích hợp. khí quản và thực quản phải được cắt cùng với động mạch cảnh và tĩnh mạch cảnh. Xương sống không phải cắt vì thế đầu động vật không hoàn toàn bị nghiêm trọng. Bằng phương pháp gây ngất hoặc gây sốc, con vật vẫn còn sống một vài phút sau đó. Vì lý do này mà một vài cơ sở giết mổ dùng gây ngất cho súc vật và dùng gây giật trong nước có điện cho gia cầm. Ở một số nước, gây ngất bằng cách đánh đã làm cho súc vật bị chết. Cũng vì lý do này mà một số tổ chức đã không cho phép gây ngất trong quy trình giết mổ Halal.

Hình ảnh quy trình giết cừu ở Hồi giáo trên thế giới

Một nghi thức quan trọng là phải cầu nguyện cho con vật bị giết theo nghi lễ Tasmiyah hoặc là lời cầu nguyện nghĩa là nhân danh Allah bằng lời Bismillah (nhân danh Allah) hoặc là Bismillah Allahuakbar (nhân danh Allah, Allah vĩ đại) trước khi cắt cổ động vật. Lời cầu nguyện còn khác tùy theo từng trường phái khác nhau. Nhưng lời cầu nhân danh Allah là phổ biến hơn cả và được cho là điều kiện quan trọng của Dhabh. Một số hành động bị cấm như:

  • Bắt con vật nằm xuống trước rồi sau đó mới mài dao là việc làm không được chấp nhận, vì lý do nhân đạo nên hành động mài dao trước mặt động vật trong lúc cắt cổ là không được chấp nhận.
  • Để cho dao cắt chạm vào tủy sống hoặc là cắt đứt cổ động vật là việc làm không được chấp nhận. Việc cắt đứt đầu, đánh vào đầu hoặc là đập đầu là việc làm đáng ghê tởm đối với cộng đồng Muslim nói chung.
  • Bẻ gãy cổ, lột da, cắt đứt từng phần hay là nhổ lông trong khi động vật vẫn chưa chết hẳn là không thể chấp nhận. Đôi khi trong các lò giết mổ công nghiệp, để đạt được tiến độ người ta đã tháo sừng, tai, chân trước trong khi con vật vẫn chưa chết hẳn. điều này đi ngược lại với nguyên tắc và yêu cầu của Dhabh và cần phải tránh.
  • Thao tác Dhabh với dụng cụ cắt đã cùn (không bén) là không được chấp nhận.
  • Không được cắt cổ con vật khi để con khác nhìn thấy cảnh đồng loại bị giết. Điều này đi ngược lại tiến trình giết mổ nhân đạo.

Lễ Hiến tế[sửa | sửa mã nguồn]

Những con vật được tập kết chuẩn bị cho lễ hiến tế

Lễ hội Eid al-Adha (hay còn được gọi là lễ tế sinh, lễ hiến sinh) kéo dài 3 ngày, là một trong những dịp lễ lớn nhất của người Hồi giáo nhằm tôn vinh việc Abraham đã sẵn lòng vâng lời Thượng đế mà hiến tế con trai Ishmael, trước khi Thượng đế can thiệp để cấp cho ông ta một con cừu làm vật hiến tế thay thế. Trước dịp lễ hội, người Muslim sẽ phải chuẩn bị sẵn những con vật hiến tế. Chúng phải là những con vật khỏe mạnh và sẽ được quyết định dựa theo điều kiện kinh tế của mỗi gia đình. Trong dịp này, những người Muslim (những người theo đạo Hồi) giết động vật mừng lễ hội Eid al-Adha.

Sau khi giết chết những con vật đáng thương, người dân sẽ chia thịt của chúng ra làm 3 phần: 1 phần mang về nhà thưởng thức, 1 phần khác tặng người thân và phần còn lại để chia cho những người nghèo. Eid Al-Adha nằm trong số ba lễ hội giết nhiều thú vật nhất trên thế giới tính theo số lượng thú vật bị "khai tử". Vào mỗi dịp lễ hội, có khoảng 100 triệu con vật bị giết bao gồm: cừu, dê, lạc đà. Riêng tại Pakistan, quốc gia này đã thống kê mỗi năm trong dịp lễ hội Eid Al-Adha ở nước này tiêu thụ khoảng 10 triệu vật nuôi, ước tính giá trị lên đến hơn 3 tỉ USD.

Một số loài[sửa | sửa mã nguồn]

Trong đạo Hồi, một số động vật được đề cập đến như:

Loài bò[sửa | sửa mã nguồn]

Những con bò đang chuẩn bị tập trung cho lễ Hajj

Cả Do Thái, Ki-tô và Hồi giáo đều khá tôn trọng bò và cho rằng có quan hệ với Đấng toàn năng với những cái tên khác nhau: Elohim (אֱלֹהִים‎ ’ĕlōhîm), Jehovah, Allah nhưng tất cả đều bắt nguồn từ thần EL. Các âm I trong tiếng Ả rập biến thành âm E trong tiếng Hebrew theo đó Il là El (אֵל) tức Bò thần. Trong ngôn ngữ Ả rập, người ta không gọi Thượng đế IL (tức El) trống không mà thường thêm mạo tự ‘Ah’ ở sau danh từ Il (ʾlh). Do đó, tên của Il trở thành Illah (Il+‘ah’). Do biến chuyển ngôn ngữ, Thần bò Il thành Illah trong tiếng Ả rập và Allah trong ngôn ngữ Tây phương.

Tên gọi Chân chủ là Allah có căn ngữ theo từ nguyên bắt nguồn từ Babylon. Chính cái căn ngữ này đã nối kết cả ba tôn giáo Do Thái, Ki tô và Hồi giáo[3]. Những người Ki tô giáo đầu tiên đã gọi Jesus là Emmanu-El có nghĩa là “Thượng đế El ở cùng chúng ta”. El trong tiếng Ả rập luôn đi theo với mạo tự “ah” trở thành Il-ah và cuối cùng khi chuyển sang Anh ngữ đã trở thành "Allah[4]. Con bò trong Kinh Coran được gọi là Al-Baqara hay Sūrat al-Baqarah (سورة البقرة‎‎) được nhắc đến một chương dài nhất trong kinh Koran[5].

Chính Do Thái giáo và Ki tô giáo đã vay mượn ý niệm do sự biến thể của “Allah” là El (Il) là Chân chủ của đa thần giáo Ả-rập: “Il-ah" hoặc Allah là Chân chủ tối cao của bán đảo Ả rập Đa thần giáo. Đối với những người Babylon thì Ngài là Il và sau đó Ngài được biết đến bởi người Do Thái với tên của Ngài là El. Những người ở miền Nam bán đảo Ả rập tôn thờ Ngài dưới danh hiệu Illah và người Bedouin lại gọi ngài là Allah. Thượng đế của Do thái giáo và Ki tô giáo đã phát sinh từ sự biến dạng của Allah (Il/El) tức Thượng đế của tất cả các đạo Độc thần. Muhammad và các tín đồ Hồi giáo chấp nhận danh từ Allah để gọi Thượng đế, mặc dầu danh từ này là biến thể của tên gọi Bò Thần El, Thượng đế đã hiện thân thành một con bò đực.

Muhammad đã chỉ trích người Do Thái trong kinh Koran tại chương 4, câu 153: “Những tín đồ của các sách Kinh thánh [tức dân Do thái] đòi hỏi phải đưa cho họ một cuốn sách mang từ trên nước trời xuống, nhưng rồi họ đã tôn thờ con bò vàng thay vì thờ Thượng đế. Những người của các sách Thánh kinh (Những tín đồ của Kinh Thánh) đã thờ con bò thay vì thờ Thiên Chúa, mặc dầu Thiên Chúa đã tỏ cho biết nhiều dấu hiệu về Ngài. Nhưng Chúa đã tha thứ cho họ tội này và đã ban cho Maisen thẩm quyền cai trị” (Kinh Koran 4:153/ Sutra 4, verse 153). Do chuyện trên trong Cựu Ước Do Thái, Muhammad đã kết tội dân Do Thái là những kẻ thờ bò thay vì thờ Chúa. Ông tôn trọng Maisen trong việc cấm thờ ảnh tượng và ông tin là Thượng đế đã cho Maisen thẩm quyền cai trị.

Sự việc thờ phượng của con Bê Vàng được thuật lại trong Kinh Qur'an và các văn học Hồi giáo khác. Kinh Qur'an kể rằng sau khi họ từ chối đi vào vùng đất hứa, Thiên Chúa đã ấn định rằng đó là hình phạt mà người Do Thái sẽ phải lang thang trong 40 năm. Trong thời gian này, Môise đã hướng dẫn người Israel rằng Aaron (Harun) đã dẫn dắt họ. Dân Do Thái đã trở nên bồn chồn, vì Môi-se đã không trở lại với họ, và sau ba mươi ngày, người Qur'an tên Samiri đã gây nghi ngờ trong người Do Thái. Samiri tuyên bố rằng Môise đã lìa bỏ dân Do Thái và ra lệnh cho những người theo ông trong số người Do Thái đốt lửa và mang cho ông tất cả đồ trang sức và đồ trang sức bằng vàng mà họ có[6] Samiri đã biến vàng thành một con bê vàng cùng với bụi mà thiên sứ Gabriel đã cướp đoạt, mà ông tuyên bố là Thiên Chúa của Môise và Thiên Chúa đã dẫn họ ra khỏi Ai Cập[7].

Giết mổ bò trong Korban ở Mã Lai

Có một sự tương phản rõ nét giữa Kinh Koran và các sách Kinh thánh về hành động của tiên tri A-rôn. Kinh Qur'an đề cập đến việc A-ron đã cố gắng hướng dẫn và cảnh báo mọi người thờ phụng Bê vàng. Tuy nhiên, người Do Thái từ chối ngừng lại cho đến khi Môi-Se đã trở lại[8]. Thiên Chúa đã báo tin cho Moses rằng Ngài đã thử những người Do thái khi ông vắng mặt và họ đã thất bại bằng cách thờ cúng con Bê vàng. Trở lại với dân Y-sơ-ra-ên trong cơn nóng giận dữ dội, Môi-se hỏi A-rôn rằng tại sao ông không ngăn cản người Do Thái khi ông nhìn thấy họ thờ cúng con Bê vàng.

Kinh Qur'an cho biết Aaron đã nói rằng anh ta đã không hành động vì sợ rằng Moses sẽ đổ lỗi cho anh ta vì đã gây chia rẽ trong số các người Do Thái. Moses nhận ra tình trạng bất lực của mình trong tình hình, và cả hai đều cầu nguyện với Chúa để được tha thứ (Kinh Koran 7: 150-151). Sau đó, Moses đã thẩm vấn Samiri về việc tạo ra con bê vàng. Samiri biện minh cho hành động của mình bằng cách đổ hô cho Gabriel đã gợi ý nó với ông. Moses thông báo với ông rằng ông sẽ bị trục xuất và họ sẽ đốt con bê vàng và quang tro bụi của nó xuống biển. Môi-se đã ra lệnh cho bảy mươi vị đại diện để ăn năn với Chúa và cầu nguyện cho sự tha thứ[9]

Đoàn lê dân đi cùng với Môsê đến Núi Sinai, nơi họ chứng kiến sự giao ước giữa ông và Đức Chúa Trời, nhưng không chịu tin cho đến khi họ chứng kiến trước mặt Đức Chúa Trời. Là hình phạt, Thiên Chúa đã tấn công các đại biểu bằng sét đánh và giết họ bằng một trận động đất mạnh[10]. Môi-se cầu nguyện với Đức Chúa Trời vì sự tha thứ của họ. Đức Chúa Trời tha thứ và phục sinh họ và họ tiếp tục hành trình. Theo quan điểm Hồi giáo, tội lỗi của những người thờ bò đã trốn tránh (tiếng Ả Rập: شرك) tội lỗi của sự thờ hình tượng hoặc chủ nghĩa đa thần. Điều này không phù hợp với sự chỉ dẫn của Thượng đế (Thánh Allah) thông qua những dấu hiệu của mình.

Tại Ấn Độ, vấn đề giết mổ bò rất phức tạp vì gây mâu thuẫn giữa cộng đồng Ấn Giáo và Hồi giáo ở đây, với lệnh cấm giết mổ trâu bò, Chính phủ muốn lấy lòng người Hindu và gây phiền toái cho tín đồ Hồi giáo. Tiểu bang Maharashtra miền Tây Ấn Độ, lệnh cấm tiêu thụ thịt bò bị những người liên quan đến ngành kinh doanh này, đa số là người Hồi giáo, đả kích kịch liệt cho rằng lệnh cấm sẽ làm cho hàng chục ngàn người thất nghiệp. Với những người theo đạo Hồi đang kiểm soát phần lớn ngành mua bán thịt bò, lệnh cấm có phần mang âm hưởng chính trị khi nó trở thành một vấn đề chia rẽ giữa các nhóm theo Ấn giáo và các nhóm theo Hồi giáo. Những người theo đạo Hindu tôn thờ bò nhưng không bị cấm ăn thịt lợn, trong khi cộng đồng Hồi giáo không thể ăn thịt lợn nhưng vẫn có thể tiêu thụ thịt bò.

Vào tháng 6 năm 2016, hai người đàn ông Hồi giáo đã bị một tổ chức bảo vệ loài bò của người Hindu bắt ăn phân bò như hình phạt dành cho hành vi bị cáo buộc là vận chuyển thịt bò do phạm tội vận chuyển thịt bò sang bang Haryana ở phía bắc. Ngay lập tức, cộng đồng Hồi giáo đã dậy sóng vì hành vi trên và tạo nên nhiều cuộc tranh cãi, xung đột về vai trò của loài bò trong xã hội Ấn Độ. Một người đàn ông theo đạo Hồi bị một đám đông đánh cho đến chết tại một thị trấn nhỏ cách New Delhi một tiếng chạy xe vì người ta đồn rằng anh đã giết và ăn thịt một con bò, họ tin rằng người này tham gia buôn lậu gia súc. Ba người chết chỉ trong vòng ba tuần. Một số cộng đồng, đặc biệt là người Hindu ở tầng lớp thấp cùng hàng triệu tín đồ Hồi giáo và Cơ đốc giáo, ăn thịt bò và trâu.

Loài ngựa[sửa | sửa mã nguồn]

Bạch mã Al-Buraq

Ngựa cũng được coi trọng trong đạo Hồi. Cư dân Hồi giáo ở Đông Nam Á có tục thờ ngựa, họ coi ngựa là con vật linh thiêng và có những quan niệm tốt đẹp về ngựa, họ coi ngựa là con vật linh thiêng của mỗi gia đình và có thờ ngựa. Trong đạo Hồi còn có nói đến con ngựa Al-Buraq theo truyền thuyết của đạo Hồi, Al-Buraq có lông màu trắng, đôi cánh mọc ở thân và đôi khi được mô tả mang khuôn mặt người, có đầu là khuôn mặt của một thanh niên đẹp trai, tuấn tú, và có đôi tai rất to, có thể nghe được âm thanh từ xa. Al-Buraq là chiến mã, là phương tiện di chuyển của các nhà tiên tri.

Cái tên Al-Buraq bắt nguồn từ tiếng Arab trong đó "buraq" có nghĩa là "tia chớp". Câu chuyện nổi tiếng nhất liên quan đến loài ngựa này được ghi chép trong kinh Quran. Nhà tiên tri Muhammad cùng với thiên thần Jibril (Grabiel) đã cưỡi chúng từ thánh địa Mecca tới Jerusalem, sau đó lên thiên đường chuyện trò với thánh Allah trong "Cuộc du hành ban đêm". Linh vật này rất được sùng bái tại khu vực Tây Nam Á (gồm vùng núi Caucasus, bán đảo Ả Rập, các sơn nguyên Tiểu Á, Armenia, Iran).

Loài cừu[sửa | sửa mã nguồn]

Một cái đầu cừu hiến tế

Cừu đóng một vai trò quan trọng trong tất cả các tôn giáo khởi thủy từ Abraham gắn liền với các nhân vật như Abraham, Isaac, Jacob, Moses, Đa-vít và các tiên tri Hồi giáo Muhammad là tất cả các mục đồng. Theo những câu chuyện Kinh Thánh về Isaac có một con cừu đực (cừu đực) như là sự hy sinh như một sự thế mạng cho Isaac sau khi một thiên thần giữ lấy tay của Abraham (điều này còn ảnh hưởng đến truyền thống Hồi giáo, Abraham sắp hy sinh Ishmael). Lễ hội Eid al-Adha là một lễ hội hàng năm lớn trong Hồi giáo trong đó cừu được hiến tế nhớ đến hành động này[11][12]. Cừu cũng đôi khi hy sinh để kỷ niệm sự kiện tôn giáo quan trọng trong nền văn hóa Hồi giáo[13].

Loài chó[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với con chó (كَـلـب‎‎), tại nhiều quốc gia theo Hồi giáo, việc giết chó làm thịt và ăn thịt chó bị coi là kinh tởm và bị cấm. Đạo Hồi biến con chó thành hình ảnh của tất cả những gì xấu xa đê tiện nhất trong thế gian. Theo Shabestari, quyến luyến với cõi trần thế, tức là tự đồng hoá mình với con chó ăn xác chết. Chó là biểu tượng của sự tham lam, sự phàm ăn; sự cùng tồn tại của chó và thiên thần là không thể có được.

Tuy nhiên, theo các truyền thuyết đạo Hồi, con chó có đến 52 thuộc tính, trong đó một nửa là thánh thiện, một nửa là quái ác. Chẳng hạn, nó thức tỉnh, nó kiên nhẫn, nó không cắn chủ hay sủa chống lại bọn thư lại. Tính trung thành của nó được ca ngợi: Khi không có anh em, chó là đứa em của người ấy. Trái tim chó đập hoà nhịp với trái tim chủ nó[14]. Một số giống chó được người Hồi giáo coi trọng như Saluki hay Slugi vì gắn bó với con người.

Loài khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mèo: Dù ở đạo Hồi tuy không có động vật thần thánh nào, nhưng một vài quyển sách đã ghi lại rằng thánh Muhammad có nuôi một con mèo cưng tên là Muezza[15] Thánh yêu mèo đến mức "Người thà không mặc áo khoác còn hơn là làm phiền một con mèo đang ngủ trên chiếc áo".[16].
  • Lợn bị coi là loài vật ô uế và bị cấm ăn trong Luật Hồi giáo, trong đạo Hồi đây là loại thức ăn cấm kị. Riêng việc cấm ăn thịt lợn, có nhiều cách giải thích khác nhau, tuy nhiên tín đồ Hồi giáo thường giải thích quy định này một cách khá đơn giản và dễ hiểu do lợn là động vật ăn tạp, ăn tất cả những gì người ta đổ vào máng, vì vậy lợn không thể có dòng máu trong sạch như những động vật ăn cỏ và ăn thịt lợn con người sẽ bị nhiễm bẩn[1].
  • Sư tử (asad/أَسـد‎‎): Trong Hồi giáo là biểu tượng cho ý chí của Chúa trời với câu cửa miệng "Asad Allah" (tiếng Ả rập: أَسـد الله‎‎, "Sư tử của Chúa Trời") và "Asad as-Sahara’" (tiếng Ả rập: أَسـد الـصّـحـراء‎‎, "Sư tử của sa mạc").
  • Bọ cạp bị người Hồi giáo coi là hiện thân của ma quỷ. Điều này xuất phát một phần từ các loài bọ cạp độc thường sống ở vùng Trung Đông, Bắc Phi thường xuyên gây ra những cái chết cho con người thông qua những cú chích đốt.
  • Sói (ذِئـب‎‎): Nhìn chung không phải là điềm tốt trong đạo Hồi nhưng Quốc huy của lực lượng ly khai ở Chechnya mang hình con chó sói, vì chó sói (borz) là Chechnya (hoặc Ichkerian) hiện thân quốc gia của quốc gia thế tục. Những người Hồi giáo đã gỡ bỏ nó và chế độ cầm quyền Nga gỡ bỏ nó hoàn toàn, nhưng chính phủ lưu vong vẫn sử dụng, nhưng những người Chechnya được cho là biểu tượng khác nhau về những truyền thuyết về tổ tiên của họ được nuôi dưỡng bởi một con sói mẹ. Dòng khẩu hiệu nổi tiếng nhất là các thành viên của dân tộc Chechnya là "tự do và bình đẳng như những con sói".

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Thực phẩm Halal của người Hồi giáo”. Truy cập 15 tháng 6 năm 2017. 
  2. ^ a ă “Chuyện ít biết về cộng đồng Hồi giáo tại Hà Nội”. VietNamNet. Truy cập 15 tháng 6 năm 2017. 
  3. ^ Glinert Modern Hebrew: An Essential Grammar Routledge p14 section 13 "(b) Agreement "
  4. ^ K. van der Toorn, Bob Becking, Pieter Willem van der Horst (eds), Dictionary of deities and demons in the Bible (revised 2nd edition, Brill, 1999) ISBN 90-04-11119-0, p. 274, 352-3
  5. ^ Salwa M. S. El - Awa, Introduction to Textual Relations in Qur'an, pg. 1. Part of the Routledge Studies in the Qur'an series. Luân Đôn: Routledge, 2005. ISBN 9781134227471
  6. ^ M. Th Houtsma. First encyclopaedia of Islam: 1913-1936. tr. 136. 
  7. ^ Abdul-Sahib Al-Hasani Al-'amili. The Prophets, Their Lives and Their Stories. tr. 354. 
  8. ^ IslamKotob, Sayyed Abul Hasan Ali Nadwi. Stories of the Prophets - قصص الانبياء. tr. 115. 
  9. ^ IslamKotob, Sayyed Abul Hasan Ali Nadwi. Stories of the Prophets - قصص الانبياء. tr. 113. 
  10. ^ Iftikhar Ahmed Mehar. Al-Islam: Inception to Conclusion. tr. 123. 
  11. ^ “Eid ul Adha (10 Dhul-Hijja) - the festival of sacrifice”. BBC. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2008. 
  12. ^ “Eid Festival Around The World - Graphic photos”. Sweetness & Light. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2008. 
  13. ^ Robertson, Cambpell (13 tháng 8 năm 0200). “Bloody Blessing Goes Unnoticed”. The New York Times. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  14. ^ Con chó trong các nền Văn hóa
  15. ^ Geyer, Georgie Anne (2004). When Cats Reigned Like Kings: On the Trail of the Sacred Cats. Kansas City, Missouri: Andrews McMeel. ISBN 0740746979. 
  16. ^ Minou Reeves (2000). Muhammad in Europe. New York University (NYU) Press. tr. 52. ISBN 0814775330. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]