Dưa hấu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Dưa hấu
Citrullus lanatus5SHSU.jpg
Dưa hấu (Citrullus lanatus)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Cucurbitales
Họ (familia) Cucurbitaceae
Chi (genus) Citrullus
Loài (species) C. lanatus
Danh pháp hai phần
Citrullus lanatus
(Thunb.) Matsum. & Nakai
Một ruộng dưa - tsamma trên sa mạc Kalahari
Dưa hấu được trồng ở Úc

Dưa hấu (tên khoa học: Citrullus lanatus) là một loài thực vật thuộc họ Cucurbitaceae, một loài thực vật có hoa giống như cây nho (scrambler và trailer) nguồn gốc từ Tây Phi. Nó được trồng để lấy quả. Các phân khu của loài này thành hai giống, dưa hấu (dưa hấu (Thunb.) Var. Lanatus)dưa citron (dưa hấu var. Citroides (LH Bailey) Mansf.), Bắt nguồn từ việc đặt tên sai lầm của Citrullus lanatus (Thunb.) Matsum. & Nakai và Citrullus Vulgaris Schrad. bởi LH Bailey năm 1930.[1] Dữ liệu phân tử bao gồm các chuỗi từ bộ sưu tập ban đầu của Thunberg và các loại vật liệu liên quan khác, cho thấy dưa hấu ngọt (Citrullus Vulgaris Schrad.) và dưa gang đắng Citrullus lanatus (Thunb.) Matsum. & Nakai không liên quan chặt chẽ với nhau.[2] Kể từ năm 1930, hàng ngàn tờ báo đã sử dụng sai tên Citrullus lanatus (Thunb.) Matsum. & Nakai cho dưa hấu, và một đề nghị bảo tồn tên với ý nghĩa này đã được chấp nhận bởi ủy ban danh pháp liên quan và được xác nhận tại Đại hội thực vật quốc tế ở Thâm Quyến.[3]

Loại dưa đắng Nam Phi đầu tiên được thu thập bởi Thunberg đã được nhập khẩu vào ở các vùng bán hoang mạc của một số lục địa và được chỉ định là "cây gây hại" ở các vùng của Tây Úc nơi chúng được gọi là dưa lợn.[4]

Dưa hấu (Citrullus lanatus) là một loài cây nho kéo dài trong họ thực vật có hoa Cucurbitaceae. Loài này được cho là có nguồn gốc từ miền nam châu Phi, nhưng điều này dựa trên sự đồng nhất sai lầm của LH Bailey (1930) của một loài Nam Phi với dưa hấu được trồng.[5] Lỗi đã trở nên rõ ràng khi so sánh DNA của vật liệu của dưa hấu được trồng và được đặt tên bởi Linnaeus và kiểu mẫu của các loài Nam Phi.[6] Có bằng chứng từ hạt giống dưa hấu trong các ngôi mộ Pharaoh ở Ai Cập cổ đại. Dưa hấu được trồng ở vùng nhiệt đớicận nhiệt đới khu vực trên toàn thế giới để lấy quả ăn, là một loại đặc biệt của berry với một vỏ cứng và không có sự phân chia trong quả, thực vật học gọi là pepo. Thịt ngọt, mọng nước, thường có màu đỏ đậm đến hồng, với nhiều hạt màu đen, mặc dù các giống không hạt cũng đã được tạo ra. Trái cây có thể được ăn sống hoặc ngâm và vỏ có thể ăn được sau khi nấu.

Nỗ lực nuôi trồng đáng kể đã tạo ra các giống dưa hấu kháng bệnh. Nhiều giống cây dưa hấu có sẵn có thể tạo ra quả trưởng thành trong vòng 100 ngày kể từ khi trồng.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Dưa hấu rất đa dạng về hình dạng và màu sắc. có màu xanh nhạt và có những đường kẻ từ trên xuống dưới

Hình dạng được xem xét với mặt phẳng cắt ngang từ cuống trái đến đuôi trái dưa. Có các dạng chính sau: dạng thuôn dài, dạng trái oval, dạng trái tròn.

Hạt dưa cũng rất đa dạng về kích cỡ (lớn, trung bình, nhỏ). Màu hạt có màu đen.

Phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

Thuốc chữa bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Có khả năng dưỡng âm nhuận táo, sinh tân dịch và làm hết khát, tiêu phiền, giải độc. Với người bị viêm nhiễm, mụn nhọt, tăng huyết áp dùng rất hữu ích. Thanh nhiệt lợi niệu, làm khỏe thận, chống nôn và giải độc rượu.

Dinh dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem bảng số liệu bên phải.
Quả dưa hấu (phần ăn được)
Giá trị dinh dưỡng cho mỗi 100 g (3,5 oz)
Năng lượng 127 kJ (30 kcal)
7.55 g
Đường 6.2 g
Chất xơ 0.4 g
0.15 g
0.61 g
Vitamin
Vitamin A equiv.
(4%)
28 μg
Thiamine (B1)
(3%)
0.033 mg
Riboflavin (B2)
(2%)
0.021 mg
Niacin (B3)
(1%)
0.178 mg
Pantothenic acid (B5)
(4%)
0.221 mg
Vitamin B6
(3%)
0.045 mg
Folate (B9)
(1%)
3 μg
Vitamin C
(10%)
8.1 mg
Chất khoáng
Canxi
(1%)
7 mg
Sắt
(2%)
0.24 mg
Magiê
(3%)
10 mg
Phốt pho
(2%)
11 mg
Kali
(2%)
112 mg
Kẽm
(1%)
0.10 mg
Thành phần khác
Nước 91.45 g
Tỷ lệ phần trăm xấp xỉ gần đúng sử dụng lượng hấp thụ thực phẩm tham chiếu (Khuyến cáo của Hoa Kỳ) cho người trưởng thành.
Nguồn: CSDL Dinh dưỡng của USDA

Làm trang trí[sửa | sửa mã nguồn]

Dưa hấu không thể thiếu trên bàn thờ tổ tiên ông bà trong những ngày Tết. Là vật liệu cho các tài nhân khắc hình họa lên vỏ của dưa hấu

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bailey LH. 1930. Ba cuộc thảo luận trong Cucurbitaceae. Gentes Herbarum 2: 175 Từ186.
  2. ^ Chomicki, G.; S. S. Renner (2014). “Watermelon origin solved with molecular phylogenetics including Linnaean material: Another example of museomics”. New Phytologist 205 (2): 526–32. PMID 25358433. doi:10.1111/nph.13163. 
  3. ^ Renner, S. S.; G. Chomicki & W. Greuter (2014). “Proposal to conserve the name Momordica lanata (Citrullus lanatus) (watermelon, Cucurbitaceae), with a conserved type, against Citrullus battich. Taxon 63 (4): 941–942. doi:10.12705/634.29. 
  4. ^ Parsons, William Thomas; Cuthbertson, Eric George (2001). Noxious Weeds of Australia (ấn bản 2). Collingwood, Victoria: CSIRO Publishing. tr. 407–408. ISBN 978-0643065147. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  5. ^ LH Bailey, Ba cuộc thảo luận trong Cucurbitaceae (1930) Gentes Herbarum 2: 175 Phản186.
  6. ^
    SS Renner và G. Chomicki, Dưa hấu có nguồn gốc giải quyết với phát sinh chủng loài học phân tử bao gồm các tài liệu Linnaeus: Một ví dụ về museomics (2017) New Phytologist 205: 526-532.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]