Dứa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dứa
AnanasComosusOnPlant.jpg
Quả và cây dứa
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Monocots
(không phân hạng) Commelinids
Bộ (ordo) Poales
Họ (familia) Bromeliaceae
Phân họ (subfamilia) Bromelioideae
Chi (genus) Ananas
Loài (species) A. comosus
Danh pháp hai phần
Ananas comosus
(L.) Merr.
Danh pháp đồng nghĩa
Ananas sativus

Dứa là cách gọi chung của người miền Bắc cho 2 loại thơm , khóm,ở miền Nam gọi chuẩn xác hơn do trái thơm,trái khóm khác nhau (có nơi gọi là khớm) hoặc trái huyền nương,hình kèm trong bài không thấy trái thơm chỉ có khóm, tên khoa học Ananas comosus, là một loại trái nhiệt đới. Khóm là cây bản địa của Paraguay và miền nam Brasil[1].

Trái khóm thực ra là trục của bông hoa và các lá bắc mọng nước tụ hợp lại. Còn quả thật là các "mắt dứa"[2],[3]. Trái khóm được ăn tươi hoặc đóng hộp dưới dạng khoanh, miếng hoặc đồ hộp nước khóm, hoặc nước trái hỗn hợp.

Dinh dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Quả dứa
Giá trị dinh dưỡng 100 g (3,5 oz)
Năng lượng 202 kJ (48 kcal)
Cacbohydrat 12.63 g
Đường 9.26 g
Chất xơ thực phẩm 1.4 g
Chất béo 0.12 g
Protein 0.54 g
Thiamin (Vit. B1) 0.079 mg (6%)
Riboflavin (Vit. B2) 0.031 mg (2%)
Niacin (Vit. B3) 0.489 mg (3%)
Axit pantothenic (Vit. B5) 0.205 mg (4%)
Vitamin B6 0.110 mg (8%)
Axit folic (Vit. B9) 15 μg (4%)
Vitamin C 36.2 mg (60%)
Canxi 13 mg (1%)
Sắt 0.28 mg (2%)
Magie 12 mg (3%)
Phospho 8 mg (1%)
Kali 115 mg (2%)
Kẽm 0.10 mg (1%)
Tỷ lệ phần trăm theo lượng hấp thụ hàng ngày của người lớn.
Nguồn: Cơ sở dữ liệu USDA

Trái khóm có hàm lượng axit hữu cơ cao (axit malicaxit xitric).

Khóm là nguồn cung cấp mangan dồi dào cũng như có hàm lượng Vitamin CVitamin B1 khá cao[4].

Một tài liệu khác cho biết: Trong 100g phần ăn được cho 25 kcal, 0,03 mg caroten, 0,08 mg vitamin B1, 0,02 mg vitamin B2, 16 mg vitamin C (dứa tây). Các chất khoáng: 16 mg ca, 11 mg phospho, 0,3 mg Fe, 0,07 mg Cu, 0,4g protein, 0,2g lipit, 13,7g hydrat cacbon, 85,3g nước, 0,4g xơ.[5].

Trong quả khóm có chứa enzym bromelain, có thể phân huỷ protein. Do vậy, trái khóm được sử dụng trong chế biến một số món ăn như thịt bò xào, thịt vịt xào để giúp thịt nhanh mềm và tạo hương vị đặc trưng.

Đặc tính của cây khóm[sửa | sửa mã nguồn]

Khóm có các lá gai mọc thành cụm hình hoa thị. Các lá dài và có hình dạng giống mũi mác và có mép lá với răng cưa hay gai. Bông mọc từ phần trung tâm của cụm lá hình bông thị, mỗi bông có các đài bông riêng của nó. Chúng mọc thành cụm hình đầu rắn chắc trên thân cây ngắn và mập. Các đài bông trở thành mập và chứa nhiều nước và phát triển thành một dạng phức hợp được biết đến như là trái khóm (quả giả), mọc ở phía trên cụm lá hình bông thị[5].

Trồng khóm tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Sản lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam ( chủ yếu các tỉnh miền Tây nam bộ) khóm được trồng khá phổ biến, phân bố từ Phú Thọ đến Kiên Giang. Tiền Giang là tỉnh có sản lượng khóm đứng đầu cả nước. Năm 2007, sản lượng khóm của tỉnh Tiền Giang đạt 260.300 tấn. Tiếp theo là Kiên Giang (85.000 tấn), Ninh Bình (47.400 tấn), Nghệ An (16.600 tấn), Long An (47.000 tấn), Hà Nam (23.400 tấn), Thanh Hoá (20.500 tấn). Tổng sản lượng cả nước năm 2007 đạt 529.100 tấn[6]. Nhiều địa phương xây dựng thương hiệu đặc sản trái khóm như khóm Đồng Giao (Tam Điệp - Ninh Bình), hoặc ở Kiên Giang, Tiền Giang đều có những nhà máy chuyên sản xuất, chế biến các thực phẩm từ trái khóm.

Các giống khóm và vùng trồng tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Một loại dứa được trồng tại Việt Nam

.Người miền Nam phân biệt rõ ràng trái thơm,trái khóm khác nhau,còn miền Bắc gọi chung 2 loại là dứa,do đó khi mua rất khó phân biệt nếu không nhìn thấy hàng hóa.Hình bên chỉ là trái khóm.

  • Khóm Victoria (khóm tây, khóm hoa khác với thơm tây trong miền Nam) có các giống:
  • Khóm hoa Phú Thọ: thuộc nhóm Queen, trồng được nơi đất chua xấu. Lá có nhiều gai và cứng, quả nhỏ, thịt quả vàng đậm, thơm, ít nước, giòn[5].
  • Thơm Na hoa: lá ngắn và to, trái to hơn thơm hoa Phú Thọ, phẩm chất ngon, năng suất cao[5].
  • Thơm Cayen: lá chỉ có ít gai ở đầu mút lá, lá dài cong lòng máng, trái to, khi chưa chín trái màu xanh đen, khi chín chuyển màu da đồng. Trái nhiều nước, thịt vàng ngà, mắt thơm to và cạn, vỏ mỏng, thích hợp với đóng hộp[5].
  • Thơm ta thuộc nhóm Red Spanish: chịu bóng rợp, có thể trồng xen trong vườn cây ăn trái vườn cây lâm nghiệp[5]. Thơm Cayen trồng phổ biến ở Tam Điệp, Ninh Bình.
  • Thơm ta (Ananas comosus var spanish hay Ananas comosus sousvar - red spanish) là cây chịu bóng tốt, có thể trồng ở dưới tán cây khác. Trái to nhưng vị ít ngọt[5].
  • Thơm mật (Ananas comosus sousvar - Singapor spanish) có trái to, thơm, ngon, trồng nhiều ở Nghệ An[5] và Thanh Hóa[cần dẫn nguồn].
  • Khóm tây hay khóm hoa {khác thơm tây} (Ananas comosus queen) được du nhập từ 1931, trồng nhiều ở các đồi vùng Trung du. Trái nhỏ nhưng thơm, ngọt[5].
  • Thơm không gai (Ananas comosus cayenne) được trồng ở Nghệ An, Quảng Trị, Lạng Sơn. Cây không ưa bóng. Trái to hơn các giống trên[5].
Quả dứa bổ dọc

Trồng dứa[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Khóm thích ấm áp, nhiệt độ bình quân năm là 22-27 °C. Quá nóng và quá rét cây ngừng sinh trưởng. Rét 1-2 °C kéo dài cây dễ chết[5]. Cây dứa ưa ẩm nhưng không chịu được ngập úng, lượng mưa hàng năm 1200-1500mm là thích hợp. Ánh sáng ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất. Trồng dày, thiếu ánh sáng quả nhỏ, không ngọt[5].

Dứa xanh
Mắt dứa

Đất đai[sửa | sửa mã nguồn]

Cây khóm không kén đất, đất đồi dốc, tráng nắng, dễ thoát nước. Đất phèn nhẹ ở Đồng bằng sông Cửu Long đều có thể trồng được. Độ chua thích hợp pH 4,5-5,5. Dứa là cây chịu hạn, chịu phèn[5].

Nhân giống[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân giống bằng chồi, chọn những chồi nách ở những khóm dứa xanh tốt, quả to cân đối. Khi trồng bóc vỏ là vàng khô ở gốc, nhúng gốc vào dung dịch Aliette nồng độ 0,3% để trừ nấm; diệt rệp sáp bằng các loại thuốc Lindafor, Sevidol 26 hoặc Mocap 20C đều hiệu quả tốt. Thời gian ngâm trong dung dịch từ 1-3 phút. Sau đó lấy ra để sấp cả bó xuống[5].

Thời vụ trồng[sửa | sửa mã nguồn]

Thu hoạch[sửa | sửa mã nguồn]

Dứa ra hoa tự nhiên vào tháng 2-3 và thu hoạch vào tháng 4,5,6[5].

Tác dụng chữa bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Vitamin C trong dứa mang đến lợi ích bất ngờ cho làn da vì đặc tính chống oxy hóa, đồng thời giúp bảo vệ cơ thể bạn nhờ tăng sự đề kháng từ các gốc tự do. Nghiên cứu được công bố gần đây trên website của Hội Da liễu New Zealand, DermNet NZ cho biết, các loại kem dưỡng da chứa thành phần vitamin C có thể bảo vệ da chống lại những tác động lão hóa từ ánh nắng mặt trời, có tác dụng làm giảm nếp nhăn. Dứa không chỉ dùng làm món tráng miệng sau bữa ăn mà nước ép của trái dứa còn giúp giải nhiệt và giải khát rất tốt. Nước cốt trái dứa giúp giảm mệt mỏi vì nó có chứa vitamin A, C, canxi, mangan… giúp cơ thể tránh khỏi tác hại của quá trình oxy hóa. Vì vậy, uống nước ép từ trái dứa sẽ giúp giảm stress và làm việc hiệu quả hơn. Những ly sinh tố mát lạnh bổ dưỡng từ trái dứa sẽ làm cho mùa hè của bạn không còn nóng nực mà trở nên ngọt ngào, thơm mát. Chính nhờ tác dụng chống lại tác hại của quá trình oxy hóa nên ăn dứa hoặc uống nước dứa ép đều đặn còn đem đến cho bạn sự thanh xuân. Toàn bộ trái Dứa chứa bromelin hay bromelain. Các nghiên cứu vào các năm 1960 - 1970, đã xác định bromelin của trái dứa có đặc tính kháng phùkháng viêm. Từ đó, vài công ty dược đã đưa ra các thực phẩm bổ sung có chứa chất chiết từ Dứa để giải quyết viêm mô tế bào, để làm tan các cục mỡ nổi cộm. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào xác định Dứa có khả năng làm tan các khối mỡ không đẹp này[3].

Bromelin[sửa | sửa mã nguồn]

Đức, trẻ em bị viêm xoang thường được chữa trị bằng bromelin, chiết xuất từ khóm (Huyền Nương). Bromelin cho kết quả tốt, nó làm giảm thời gian bị bệnh (từ 8 ngày, còn 6 ngày). Bromelin là một enzym giúp thủy phân protein (có trong thịt cá) thành các axit amin có tác dụng tốt trong việc tiêu hóa và phân giải lượng calo thừa trong cơ thể (loại bỏ khỏi cơ thể gần 1/3 chất béo có trong khẩu phần ăn tương đương 510 calo/ ngày)... nên nó có tác dụng giảm cân tự nhiên, rất an toàn và vô cùng hiệu quả.[3].

Bromelin dùng làm thuốc tẩy giun[sửa | sửa mã nguồn]

Một loại giun nhỏ, thường gặp ở trẻ em. Qua nghiên cứu của Hordegen P., bromelin cũng cho kết quả tốt như Pyratel[3].

Dứa làm liền sẹo[sửa | sửa mã nguồn]

Một số enzym của trái khóm làm mau lành các vết thương ở da hay các vết phỏng[3]. Chuột bị phỏng, khi dùng chất chiết xuất từ khóm giúp tiến trình làm sạch một vết thương sau 4 giờ, lấy đi các vật lạ và mô chết để không còn trở ngại nào cho vết thương lành lại. Bromelin còn làm giảm hiện tượng phù nề, các vết bầm tím trên da và giảm đau nhức[3].

Bromelin giảm đau nhức do hư khớp[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Đức, trên thị trường có một sản phẩm chứa 90 mg bromelin, 48 mg trypsin (enzym nguồn động vật) và 100 mg rutin (một flavonoid bảo vệ mao mạch). Thử nghiệm nhằm so sánh sản phẩm này trong 6 tuần trên 90 người bị hư khớp háng với diclofenac (100 mg/ ngày), là một kháng viêm không steroid. Kết quả điều trị tốt như diclofenac về đau nhức do hư khớp, không có tác dụng phụ. Kết quả tốt đối với đau nhức ở các khớp khác[3].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]