Hồng xiêm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hồng xiêm
ManilZapot 070624 188 ckup.jpg
Lá và quả hồng xiêm
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Asterids
Bộ (ordo) Ericales
Họ (familia) Sapotaceae
Phân họ (subfamilia) Sapotoideae
Tông (tribus) Mimusopeae
Chi (genus) Manilkara
Loài (species) M. zapota
Danh pháp hai phần
Manilkara zapota
(L.) P. Royen, 1953
Hồng xiêm, chưa chế biến
Trái, bổ dọc
Giá trị dinh dưỡng 100 g (3,5 oz)
Năng lượng 347 kJ (83 kcal)
Cacbohydrat 19.96 g
Chất xơ thực phẩm 5.3 g
Chất béo 1.1 g
Protein 0.44 g
Riboflavin (Vit. B2) 0.02 mg (1%)
Niacin (Vit. B3) 0.2 mg (1%)
Axit pantothenic (Vit. B5) 0.252 mg (5%)
Vitamin B6 0.037 mg (3%)
Axit folic (Vit. B9) 14 μg (4%)
Vitamin C 14.7 mg (25%)
Canxi 21 mg (2%)
Sắt 0.8 mg (6%)
Magie 12 mg (3%)
Phospho 12 mg (2%)
Kali 193 mg (4%)
Natri 12 mg (1%)
Kẽm 0.1 mg (1%)
Link to USDA Database entry
Tỷ lệ phần trăm theo lượng hấp thụ hàng ngày của người lớn.
Nguồn: Cơ sở dữ liệu USDA

Hồng xiêm (danh pháp hai phần: Manilkara zapota), hay còn gọi là lồng mứt, xa pô chê hoặc sabôchê (từ tiếng Pháp sapotier), là một loài cây thân gỗ, sống lâu năm và thường xanh có nguồn gốc ở miền Nam Mexico, Trung MỹCaribbe.[1]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng xiêm có thể cao tới 30–40 m. Nó là loại cây có khả năng chống gió tốt và vỏ cây rất nhiều nhựa màu trắng, giống như gôm. Lá của chúng có màu xanh lục và bóng mặt. Lá mọc cách tập trung đầu cành, hình elip hay ôvan, dài 7–15 cm, với mép trơn. Hoa màu trắng, không dễ thấy, có hình dáng tương tự như quả chuông và có 6 tràng hoa hình thùy.

Quả là loại quả mọng, hình cầu hoặc hình quả trứng hoặc hình thon dài, đường kính 4–8 cm và chứa từ 2–10 hạt. Vỏ có màu nâu-vàng nhạt. Bên trong là lớp cùi thịt có màu nâu ánh đỏ với kết cấu hạt mịn hơi giống với ruột quả . Hạt của nó có màu đen.

Quả của nó chỉ nên ăn khi đã chín vì khi còn xanh nó chứa nhiều nhựa dính như latex. Để biết chắc chắn là nó đã chín người ta hay nắn vỏ xem còn cứng hay đã mềm vì màu vỏ gần như không thay đổi từ lúc mới tạo quả đến khi chín, một cách khác là người ta cạo thử một ít lớp vỏ nâu vàng, sẽ lộ ra lớp da, quả xanh, lớp da này có màu xanh lá cây, xanh đậm, khi quả già, lớp vỏ dần chuyển sang xanh lá mạ. Hương vị của nó tương tự như mùi đường đen.

Cây hồng xiêm ra quả hai lần trong năm, tuy nhiên hoa có thể ra cả năm, ngoại trừ những vùng có nhiệt độ về mùa đông xuống thấp dưới 15–17 °C. Nó được đưa từ Mexico vào Philipin trong thời gian người Tây Ban Nha chiếm đóng quốc gia này. Tại Việt Nam, nó là loài cây đưa vào từ Thái Lan, mà Thái Lan được biết đến với cái tên là nước Xiêm, ngoài ra do hình dáng giống như quả hồng (chi Diospyros) nên mới có tên gọi hồng xiêm.

Trước đây, hồng xiêm còn có tên khoa học là Achras sapota, nhưng hiện nay tên gọi này là sai. Tại Ấn Độ, nó được gọi là Chikoo hay Sapota, tại Philipintsiko, tại Indonesiasawu, tại Malaysiachikoo, tại Sri Lankasapodilla hay rata-mi, tại Thái LanCampuchialamoot, tại Venezuelaníspero và tại Tây Ấnnaseberry còn trong tiếng Anhsapodilla.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng xiêm được trồng để lấy quả ăn. Nhựa mủ, một dạng latex lấy từ vỏ cây cũng được dùng để làm chất cơ sở cho các loại kẹo cao su.

Khi chín, quả của nó ngọt và có mùi thơm dễ chịu.

Một giống hồng xiêm nổi tiếng ở miền bắc Việt Nam là hồng xiêm Xuân Đỉnh, có nguồn gốc từ xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, Hà Nội.

Thư viện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Quả hồng xiêm 
Quả hồng xiêm 
Quả hồng xiêm xanh cắt đôi
(bị chảy mủ) 
Hạt hồng xiêm 
Hồng xiêm bổ dọc, bổ ngang 

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Manilkara zapota (L.) P. Royen”. Germplasm Resources Information Network. United States Department of Agriculture. 16 tháng 11 năm 1995. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]