Bán đảo Đông Dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Bán đảo Đông Dương

Indochina map 1886.jpg
Địa lý
Vị tríĐông Nam Á
Tọa độ14°B 102°Đ / 14°B 102°Đ / 14; 102Tọa độ: 14°B 102°Đ / 14°B 102°Đ / 14; 102
Diện tích2.151.688 km2 (830.771,4 mi2)
Đỉnh cao nhấtHkakabo Razi
Hành chính
Điểm dân cư lớn nhấtThành phố Hồ Chí Minh (8.990.300 người)
Điểm dân cư lớn nhấtViêng Chăn (800.000 người)
Điểm dân cư lớn nhấtPhnôm Pênh (2.904.566 người)
Điểm dân cư lớn nhấtBangkok (10.000.000 người)
Nhân khẩu học
Dân số269.700.000 người

Bán đảo Đông Dương, hoặc gọi bán đảo Ấn - Trung, Đông Nam Á đất liền, là một bán đảo ở vào Đông Nam Á, là một trong ba bán đảo lớn ở phía nam châu Á. Vì nguyên do vị trí địa lí sát gần Ấn ĐộTrung Quốc, và lại bị sự ảnh hưởng của Ấn ĐộTrung Quốc, cho nên trên quốc tế gọi là Indochina (chữ gốc Indo-China). Bán đảo Đông Dương bao gồm các nơi ngày nay như Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt NamMalaysia bán đảo (tức Tây Malaysia).

Bán đảo Đông Dương ở vào khoảng giữa Trung Quốcá lục địa Ấn Độ, phía tây giáp vịnh Bengal, biển Andamaneo biển Malacca, phía đông giáp biển Đông của Thái Bình Dương, là cầu bắc giữa đất liền Đông Áquần đảo Mã Lai. Khí hậu bán đảo Đông Dương nóng ẩm, thảm thực vật rậm rạp tốt tươi, dòng sôngmạch núi chủ yếu ở bán đảo là kéo dài từ Trung Quốc qua, cho nên có người lập luận ngắn gọn rằng "núi cùng dãy, nước cùng nguồn, đất liền nhau, người thương nhau", bán đảo Đông Dương có văn minh lịch sử lâu dài, ngôn ngữ cực kì đa dạng hoá.

Giới thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Bán đảo Đông Dương ở vào khoảng giữa Trung Quốcá lục địa Ấn Độ, phía tây giáp vịnh Bengal, biển Andamaneo biển Malacca, phía đông giáp biển Đông của Thái Bình Dương, là cầu bắc giữa đất liền Đông Áquần đảo Mã Lai.

Bán đảo Đông Dương bao gồm năm nước Việt Nam, Lào, Campuchia, MyanmarThái Lan cùng với Malaysia bán đảo, là bán đảo lớn thứ hai trên thế giới. Diện tích chừng 2,1 triệu kilômét vuông, chiếm 46% diện tích Đông Nam Á. Đường bờ biển dài 11.700 kilômét, có nhiều vịnh cảng trọng yếu. Địa thế phía bắc cao phía nam thấp, phần nhiều đất đồi núi và cao nguyên. Vùng đất phía bắc là cao nguyên Shan cao lớn cổ xưa, chiều cao từ 1.500 đến 2.000 mét so với mực nước biển. Nhiều dãy núi kéo dài từ nam lên bắc hiện ra hình dạng quạt, hình thành kết cấu địa hình cao nguyên Shan và sự phân bố xen kẽ núi với lũng sông.

Dãy núi chủ yếu từ tây sang đông theo thứ tự là dãy núi Naga, dãy núi Arakan; dãy núi Daen Lao, dãy núi Tenasserim, dãy núi Bilauktaung; dãy núi Trường Sơn. Dòng sông ở giữa ba thứ tự núi lớn là sông Irrawaddy, sông Salween, sông Chao Phraya, sông Mê Kôngsông Hồng, chảy xiết dâng vọt từ bắc xuống nam, đầu nguồn rất xa, dòng nước rất dài. Thượng du dòng sông phần nhiều chảy xuyên qua cao nguyên Shan, lũng sông cắt sâu đem cao nguyên chia làm mấy khối, thí dụ cao nguyên Đông Miến ở giữa sông Irrawaddysông Salween, cao nguyên Chiang Mai ở giữa sông Salweensông Mê Kông, các cao nguyên Lào ở giữa sông Mê Kôngsông Hồng, là sự xen lẫn núi và sông điển hình, phân bố hàng dọc. Đồng bằng lòng chảo ở trung và hạ dụ của một số dòng sông và tam giác châu cửa sông của mỗi sông là khu nông nghiệp chủ yếu và vùng tập trung nhân khẩu.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Bán đảo Ấn - Trung, hoặc gọi bán đảo Trung Nam, bán đảo Ấn Độ - Chi Na, tất cả đều là tên gọi phiên dịch chữ Hán từ chữ gốc chữ Pháp "Indochine", từ đơn tiếng Pháp đó ý nghĩa là "văn hoá Trung Quốc bị Ấn Độ hoá", lấy đó để xưng hô khu vực ở giữa Ấn ĐộTrung Quốc và lại bị văn hoá hai nước ảnh hưởng.

Từ sau khi Chiến tranh Trung – Nhật lần thứ hai bùng nổ đột ngột, chính phủ Trung Quốc đem chữ "Chi Na" coi là từ ngữ kì thị nhằm giễu cợt và hạ thấp giá trị Trung Quốc. Dưới đề xướng kiến nghị của Vu Hữu Nhậm, sáng lập lời từ mới "bán đảo Trung Nam" để thay thế "Ấn Độ - Chi Na". Ý nghĩa của chữ "bán đảo Trung Nam" là "bán đảo ở về phía nam Trung Quốc". Hiện nay hai tên gọi phiên dịch bán đảo Trung Nam, bán đảo Ấn Độ - Chi Na sử dụng đồng thời, nhưng mà phương tiện truyền thông thuộc nhà nước Trung Quốc vẫn không thống nhất đối với tên gọi phiên dịch của nó, hoặc dịch "Ấn Độ - Chi Na", hoặc dịch "bán đảo Trung Nam". Tuy nhiên, trên bản đồsách bản đồ do Trung Quốc đại lục xuất bản nghiêng về sử dụng "bán đảo Trung Nam". Giới địa lí học, địa chất học và các phương diện nghiên cứu lịch sử ở trong lĩnh vực học thuật, đối với danh từ học thuật mà chứa đựng chữ "Indo-China", vẫn nghiêng về chọn dùng dịch âm "Ấn Độ - Chi Na", thí dụ chữ "Ấn Độ - Chi Na" trong thời kì kiến tạo Ấn Độ - Chi Na - thuật ngữ địa chất do nhà địa chất học quốc tịch Pháp Gromaget nêu ra.

Người Việt dùng tên gọi Đông Dương chỉ biển Đông, Tây Dương chỉ châu Âu, Tiểu Tây Dương chỉ bán đảo Ấn Độ, Nam Dương chỉ quần đảo Mã Lai.

Văn hoá lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn từ mảng địa lí có phạm vi lớn hơn, đèo Khyber ở Afghanistan, là đường giao thông duy nhất từ Trung Á đến Nam Á; hành lang Wakhan là đường giao thông di chuyển tiện lợi từ Tân Cương thông đến Afghanistan; đèo Keriya ở huyện Vu Điền, là đường giao thông duy nhất từ Tân Cương thông đến Tây Tạng. Thị trấn nhỏ Ledo, bang Assam là thành phố biên giới giữa Ấn ĐộMyanmar, là con đường ắt phải đi qua từ Ấn Độ đi Myanmar, Đông Nam ÁTrung Quốc, cùng với thuyền tàu thương mại ở khu vực duyên hải Trung Quốc.

Bắt đầu từ trước thế kỉ II, hai nền văn minh Trung QuốcẤn Độ bắt đầu tiến hành trao đổi mua bán đi qua nhiều nơi. Ở thời kì cổ đại khả năng có bốn con đường từ Trung Quốc đến Ấn Độ:[1][2]

Trong đó hai đường bộ trước đi Ấn Độ hoàn toàn hiểm trở, cho nên đại đa số người đi buôn bán chọn dùng hai đường đi sau, nhất là đường biển. Bởi vì hai đường đi sau đều cần phải đi qua các nước Ấn Độ - Chi Na, khu vực này hoặc các nước này bị chính trị và văn hoá của Trung QuốcẤn Độ ảnh hưởng.

Từ giữa thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX, khu vực này trừ Thái Lan bảo toàn độc lập ra, liên tục đều bị thực dân PhápAnh thống trị. Trong đó, Việt Nam, CampuchiaLào bị Pháp thống trị, gọi là "Đông Dương thuộc Pháp". Myanmar, Malaysia bán đảoSingapore bị Anh Quốc thống trị. Người Pháp kiến lập Liên bang Đông Dương đầu tiên vào năm 1893, Nhật Bản chiếm cứ Đông Dương thuộc Pháp vào năm 1940, Nhật Bản chiếm cứ toàn biên giới bán đảo Đông Dương trừ Thái Lan ra vào năm 1942. Sau khi Đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc vào năm 1945, sự độc lập của các thuộc địa thuộc Anh ở bán đảo Đông Dương khá là hoà bình, năm 1948 Myanmar độc lập, năm 1956 Malaysia bán đảo tự trị, năm 1957 Liên bang Malaya độc lập, năm 1963 Malaysia thành lập, năm 1965 Singapore thoát li độc lập từ Malaysia. Các thuộc địa thuộc Pháp khá là gian khổ, Việt Nam liền triển khai chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất từ sau khi Đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc, sau Hội nghị Genève năm 1954, các nước Đông Dương thuộc Pháp mới giành được độc lập. Năm 1960, Hoa Kỳ vì mục đích ngăn cấm, cản trở mở rộng chủ nghĩa cộng sản nên chen chân, nhúng tay vào, tiến hành can dự nội chiến Việt Nam. Năm 1975, quân đội Mĩ rút lui rời khỏi Việt Nam, Việt Nam thống nhất. Về sau, nước Cộng hoà Nhân dân Trung HoaLiên minh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô-viết có mở rộng ảnh hưởng ở bán đảo Đông Dương, ba nước Đông Dương bị chiến tranh Việt Nam ảnh hưởng trong khoảng thời gian dài, chính trị chỗ đó hoàn toàn bất ổn, sau đó vì nguyên do Việt Nam xâm nhập Campuchia đánh tan vỡ chính quyền Khmer Đỏ, và lại có ý đồ chống đỡ thế lực thân Việt, dẫn đến chiến tranh biên giới Việt Nam - Campuchia, năm 1979 phát sinh chiến tranh biên giới Việt Nam – Trung Quốc, cục thế chính trị chỗ đó trước năm 1989 hoàn toàn rối loạn. Đến niên đại 90, ba nước Đông Dương thuộc Pháp cũ ở bán đảo Đông Dương mới thực hiện hoà bình.

Địa mạo địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Địa thế phía bắc cao phía nam thấp, phần nhiều là đất đồi núi và cao nguyên. Vùng đất phía bắc là cao nguyên Shan cao lớn cổ xưa, chiều cao từ 1.500 đến 2.000 mét so với mực nước biển. Nhiều dãy núi kéo dài từ nam lên bắc hiện ra hình dạng quạt, hình thành kết cấu địa hình cao nguyên Shan và sự phân bố xen kẽ núi với lũng sông. Dãy núi chủ yếu từ tây sang đông theo thứ tự là dãy núi Naga, dãy núi Arakan; dãy núi Daen Lao, dãy núi Tenasserim, dãy núi Bilauktaung; dãy núi Trường Sơn.

Bán đảo Đông Dương có đủ ba đặc trưng khá rõ ràng. Đầu tiên, địa thế của nó xét tổng thể phía bắc cao phía nam thấp, phần nhiều là đất đồi núi và cao nguyên, núi sông xét tổng thể đi theo hướng nam bắc, hơn nữa núi và sông xếp đặt xen lẫn nhau, địa thế bán đảo giống như hình dạng lòng bàn tay. Thứ hai, địa thế của nó lâu ngày đã xói mòn cho nên hiện ra hình dạng nửa đồng bằng, địa hình các-xtơ sinh sôi, trong vận động tạo núikỉ Đệ Tam địa khối Ấn Độ - Mã Lai cũng có hiện tượng nhô lên và đứt gãy. Thứ ba, đồng bằng phần nhiều phân bố ở khu vực duyên hải phía đông nam, chủ yếu là đồng bằng bồi tíchtam giác châu ở hạ du sông cả có diện tích rộng lớn.

Mạch núicao nguyên ở bán đảo Đông Dương chủ yếu có mạch núi Naga, mạch núi Arakan ở phía tây, là mạch núi hình vòng cung nhô ra hướng về phía tây, phần lớn chiều cao so với mức mặt biển là từ 1.800 mét trở lên, chiều dài chừng 1.100 kilômét, bao gồm rất nhiều mạch núi song song, là bộ phận kéo dài nối tiếp của phía nam mạch núi Himalaya, và tiếp tục duỗi dài mở rộng hướng về phía nam. Vùng đất phía đông có mạch núi Trường Sơn dài liên tiếp hơn 1.000 kilômét, đi theo hướng nam bắc, ranh giới của Việt Nam, LàoCampuchia, dốc tây của mạch núi khá thoải, rồi dần dần chuyển tiếp đến cao nguyên ở bên trong nước LàoCampuchia, thí dụ cao nguyên Xiêng Khoảng, cao nguyên Hủa Phăn, cao nguyên Khăm Muộn và cao nguyên Bolaven; dốc đông mạch núi khá dốc gần như thẳng đứng, sát gần bờ biển, hình thành rất nhiều vách núi cao chót vót và mũi đất lấn ra biển. Phía giữa là bộ phận kéo dài nối tiếp của phía nam mạch núi Hoành Đoạn, có núi Daen Lao, mạch núi Tenasserim và núi Bilauktaung ở biên giới MyanmarThái Lan, duỗi dài về phía nam đến bán đảo Mã Lai, khối núi ở trong nước Myanmar vừa rộng vừa cao, trở thành cao nguyên có diện tích lớn nhất ở Đông Nam Á - cao nguyên Shan, ở phía đông Thái Lancao nguyên Khồ Rát.

Đất đồi núi và cao nguyên ở bán đảo Đông Dương đã xói mòn trong khoảng thời gian dài, phần lớn đỉnh núi hiện ra hình tròn, bề mặt xói mòn của cao nguyên sinh sôi. Bán đảo Mã Lai và bán đảo Đông Dương thông thường lấy eo đất Kra làm biên giới. Về phương diện địa thế kiến tạo, bán đảo Mã Lai là một phần của địa khối Ấn Độ - Mã Lai, đất đồi núi ở khoảng giữa, xuống thấp hướng về hai phía đông tây, bán đảo Đông Dương bao gồm 8 dãy núi về tổng thể song song với nhau, chạy dọc theo hướng nam bắc, vì nguyên do đã xói mòn lâu ngày nên chiều cao không lớn, làm lộ ra đá phần nhiều là đá hoa cương, đá phiến mađá vôi, đỉnh núi cao nhất của núi Tahan chỉ có 2.187 mét. Chiều cao so với mức mặt biển của cao nguyên Shan là từ 1.000 - 1.300 mét, chủ yếu do tầng đá vôiĐại Cổ sinhĐại Trung sinh tạo thành, lại còn có thể xâm nhập của đá hoa cương. Trên mặt cao nguyên có rất nhiều hẻm núi cắt sâu và đỉnh núi cao vượt 800 đến 900 mét so với mặt đất. Dãy núi và rãnh suối đan chéo lẫn nhau, mặt đất bị xói mòn dữ dội, vùng đất phía tây có một đứt gãy lớn dài 600 đến 700 kilômét theo hướng nam bắc. Cao nguyên Khồ Rát ở phía đông Thái Lan, phần lớn có chiều cao so với mức mặt biển là từ 150 đến 300 mét, do sa thạch đỏ hợp thành, địa thế nghiêng theo chiều hướng từ tây lên đông, mặt đất vì vậy lên xuống không bằng phẳng. Ở cao nguyên Shan cùng với vùng đất phía bắc của Việt NamLào, phân bố địa thế các-xtơ, là khu phong cảnh nổi tiếng.

Dãy núi Naga và dãy núi Rakhine có chiều cao chừng 3.000 mét so với mức mặt biển, dài 1.100 kilômét, là bức vách ngăn cách giữa Myanmar, Ấn ĐộBangladesh, giữa núi có một ít col núi là đường giao thông lớn mà các dân tộc cổ đại thiên cư. Núi Daen Lao, dãy núi Tenasserim và dãy núi Bilauktaung chạy dọc biên giới MyanmarThái Lan, có vài col núi nổi tiếng ở giữa núi là cửa ải hiểm yếu của việc hành quân tác chiến giữa MyanmarThái Lan về phương diện lịch sử. Núi Luangprabang, núi Dong Phaya Yen và núi Sankamphaeng chạy dọc phía giữa bán đảo, là chỗ phân chia cảnh quan khác nhau của hai bộ phận đông và tây của bán đảo. Dãy núi Trường Sơn ở phía đông có chiều cao thông thường không đạt tới 1.500 mét so với mức mặt biển, kéo dài liên tục hơn 1.000 kilômét, là mạch núi phân giới ba nước Việt - Lào - Cam, đường đèo ở vùng núi Hoành Đoạn là đường tắt thông suốt giữa bờ biển Đông và các hẻm núi sông Mê Kông ở trong nước Trung Quốc. Giữa các núi có rất nhiều cao nguyên, nổi tiếng nhất có cao nguyên Shan, cao nguyên Xiêng Khoảng, cao nguyên Hủa Phăn, cao nguyên Khăm Muộn, cao nguyên Bolaven và cao nguyên Đắk Lắk, tất cả đều có sẵn ý nghĩa đặc thù ở các phương diện như địa mạo, khí hậu, lịch sử, sắc tộc, giao thông và sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc.

Đặc trưng khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyệt đại bộ phận bán đảo Đông Dương ở vào giữa 10° - 20° vĩ bắc, thuộc khí hậu gió mùa nhiệt đới điển hình. Từ tháng 3 đến tháng 5 mỗi năm là mùa nóng, gió mùa mùa đông và mùa hạ suy giảm, khí hậu nóng nực, nhiệt độ trung bình tháng đạt tới 25 - 30℃; một năm chia thành hai mùa mùa khô và mùa mưa, từ tháng 6 đến tháng 10 là mùa mưa, thịnh hành gió mùa Tây Nam, giáng thuỷ dồi dào; từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau là mùa khô, thời tiết khô ráo ít mưa. Đặc trưng khí hậu: nhiệt độ cao cả năm, giáng thuỷ phân bố tập trung vào mùa hè.

Khí hậu gió mùa nhiệt đới phân bố ở các nơi như Nam Á và bán đảo Đông Dương, đặc điểm của nó là nhiệt độ cao cả năm, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất cũng từ 18℃ trở lên, giáng thuỷ có quan hệ mật thiết với hướng gió, mùa đông thịnh hành gió mùa Đông Bắc đến từ đất liền. giáng thuỷ ít, mùa hạ thịnh hành gió mùa Tây Nam đến từ Ấn Độ Dương, giáng thuỷ dồi dào, lượng giáng thuỷ hằng năm là 1.500 đến 2.000 milimét ở phần lớn khu vực, nhưng mà có một ít khu vực còn nhiều và dài hơn số đó. Lượng giáng thuỷ hằng năm bị địa mạo ảnh hưởng, ở dốc đón gió đạt tới 5.000 milimét, nhưng mà ở dốc trái gió thì không đến 2.000 milimét. Một số dốc đón gió cá biệt và khu vực bán đảo Mã Lai hình thành được cảnh quan rừng mưa nhiệt đới, số ít đồng bằng và lũng sông ở bên trong thì hình thành thảo nguyên nhiệt đới.

Thuỷ văn[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng sông chủ yếu có sông Irrawaddy, sông Salween, sông Chao Phraya, sông Mê Kôngsông Hồng, chảy xiết dâng vọt từ bắc xuống nam, đầu nguồn rất xa, dòng nước rất dài. Thượng du dòng sông phần nhiều chảy xuyên qua cao nguyên Shan, lũng sông cắt sâu đem cao nguyên chia làm mấy khối, thí dụ cao nguyên Đông Miến ở giữa sông Irrawaddysông Salween, cao nguyên Chiang Mai ở giữa sông Salweensông Mê Kông, các cao nguyên Lào ở giữa sông Mê Kôngsông Hồng, là sự xen lẫn núi và sông điển hình, phân bố hàng dọc. Đồng bằng lòng chảo ở trung và hạ dụ của một số dòng sông và tam giác châu cửa sông của mỗi sông là khu nông nghiệp chủ yếu và vùng tập trung nhân khẩu.

Ở giữa đồi núi và cao nguyên, các sông cả ở Nam Á xuôi theo địa thế từ bắc vào nam tuôn chảy vào biển, từ đông sang tây có sông Hồng, sông Mê Kông, sông Chao Phraya, sông Salweensông Irrawaddy. Trong số sông cả này, dòng sông chảy qua nhiều nước nhất là sông Mê Kông, cuối cùng đổ vào biển - đại dương ở Việt Nam. Có nhiều tam giác châu ở bán đảo Đông Dương, nổi tiếng có tam giác châu sông Mê Kông, tam giác châu sông Irrawaddy, tam giác châu sông Hồng và tam giác châu sông Chao Phraya. NHững tam giác châu này do sông cả bồi tích mà thành, diện tích rộng lớn, địa thế bằng phẳng, mạng lưới sông trong tam giác châu tụ tập dày đặc, nhiều ao đầm, tốc độ mở rộng hướng biển mau.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực hạ du sông Irrawaddy ở bán đảo Đông Dương, đã có người Môn cư trú vào trước và sau Công nguyên. Lúc đó người Ấn Độ đem khu vực này gọi là "Suvarnabhumi", nghĩa là "đất vàng kim". Nhiều người cho biết người Ấn Độ tiến vào Myanmar, chỉ giới hạn ở khu vực duyên hải và khu vực đồng bằng trung bộ Myanmar, duy nhất căn cứ "Quốc chí Hoa Dương" vào thế kỉ IV, người Ấn Độ cũng từng men theo một khu vực miền núi ở thị trấn nhỏ Ledo, bang Assam, vượt qua núi và rừng rậm để tiến vào đường giao thông ở phía bắc Myanmar, đi sâu vào Myanmar ở phía bắc - chỗ biên giới giữa Myanmar và Trung Quốc, do đó Myanmar bị văn hoá Ấn Độ ảnh hưởng rất sâu.

Đúng như học giả phương tây nói cái khiến người ta lấy làm lạ chính là, Myanmar - nước phát sinh quan hệ thương mại và ngoại giao mật thiết với Trung Quốc từ nửa đầu Công nguyên, bất luận nhất cử nhất động hay không hoàn toàn không bị ảnh hưởng của Trung Quốc về phương diện văn hoá. Thực ra đây là kết quả của hoạt động văn hoá Trung Quốc và Ấn Độ đã sản sinh ảnh hưởng khác nhau quá rõ ràng đối với Myanmar.

Bản thổ Trung Quốc chỉ có hai loại tôn giáo có thể được gọi là tôn giáo khai thuỷ, một loại là Nho giáo - trực tiếp kế thừa có hệ thống lễ nhạc cúng bái của Nho gia hoá, môn sinh đem bảo bối đó của Nho giáo chỉ đồng ý trao cho khu vực không dị biệt với văn hoá Trung Hoa hoặc từng là vùng đất thuộc bộ phận Trung Quốc, kiên quyết không truyền bá tuỳ tiện. Một loại là Đạo giáo - lưu truyền việc cúng bái trong dân gian của Đạo gia hoá, học giả trước đây cho biết cơ cấu tổ chức Đạo giáo (về phương diện tôn giáo chỉ cấu trúc tôn giáo hoàn chính và lại có hệ thống) là vào thời kì Vương Trùng Dương, bây giờ suy luận là vào thời kì Lục triều theo sách vở văn chương khai quật ở Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, nhưng mà lúc đó các tôn giáo Ấn Độ về cơ bản đã lan truyền rộng khắp đến các bộ lạc hoặc đất nước ở các khu vực như Nam Á, Trung Á, Đông ÁĐông Nam Á, thiết nghĩ việc truyền vào là rất khó khăn, đây là bởi vì phương thức xâm nhập từ từ tôn giáo nhằm tiến hành truyền bá văn hoá.

Vào thời kì vương triều cổ đại ở bán đảo Đông Dương, quan hệ giữa vùng đất trung tâm (vương triều trung ương) với vùng đất biên cương xa xôi (tỉnh ngoại biên hoặc thuộc quốc) là một loại quan hệ "mạn-đồ-la" rời rạc. Loại kết cấu chính trị này là kết cấu rời rạc có lực ngưng tụ quần thể rất thấp.

Sau khi tiến hành khảo sát và nghiên cứu đối với bối cảnh văn hoá và mô thức lịch sử của sự phát triển chính trị Đông Nam Á vào thời kì đầu, học giả Anh Quốc Oliver William Wolters đã nêu ra một loại lí luận "Cái vòng vây quanh vua" (Circles of Kings), hoặc gọi là "Lí luận mạn-đồ-la". Wolters cho biết, "sự tồn tại kết cấu chính trị "vòng vây quanh vua" là một hiện tượng phổ biến trong lịch sử thời kì đầu ở Đông Nam Á", "bản đồ chính trị vào thời kì đầu ở Đông Nam Á là đền từ sự phát triển tổ chức kiểu mạng của nhóm người định cư vào thời kì tiền sử, hơn nữa trong ghi chép lịch sử hiện ra tình hình một bộ phận mạn-đồ-la chồng chất lên nhau hoặc sự ghép vá "cái vòng vây quanh vua". Bên trong mỗi mạn-đồ-la, có một quốc vương, có đủ quyền uy của thần thánh và vũ trụ. Ông tuyên bố quyền uy của mình vượt lên trên bạn đồng minh và những người thống trị khác được phong quân phong thần mà đã hàng phục ông về mặt danh nghĩa ở bên trong quốc vương".

Trong nội hàm của "Lí luận mạn-đồ-la" có hai điểm quan trọng cơ bản: một là, về phương diện tôn giáo, người thống trị chia sẻ quyền uy thần thánh, thông qua nghi thức tôn giáo khiến bản thân thần thánh hoá, thu hút người theo sau; hai là, về phương diện chính trị, "cái vòng vây quanh vua" đã đại biểu một loại tình hình chính trị đặc thù, không ổn định ở bên trong một khu vực địa lí không có biên giới cố định, nhiều trung tâm quyền lực bên trong "cái vòng vây quanh vua" nương tựa vào mối quan hệ cậy nhờ tư nhân mà kết thành một "mạng lưới trung thành chính trị". Trong tình hình này, vai trò thực tế của người thống trị tối cao không phải là người độc tài (người chuyên chế), mà là người trung gian có thể ảnh hưởng và giữ gìn hoà bình, đồng thời động viên rất nhiều đoàn thể khác nhau (thành bang). Do đó quyền điều khiển hành chính của người thống trị trong "cái vòng vây quanh vua" thường thường chỉ giới hạn ở lãnh thổ đặt dưới ảnh hưởng trực tiếp của ông. Điều này khiến cho việc ảnh hưởng chính trị của vương quyền trung ương trong "cái vòng vây quanh vua" rất ít khả năng liên tục không ngừng trong khoảng thời gian dài, hay phát sinh biến hoá đi cùng với sự chuyển giao quyền uy tinh thần và quyền lực chính trị, từ đó dẫn đến tổ chức lại liên tục không gian chính trị".

Tình hình giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Mũi phía nam ở bán đảo Đông Dương khống chế yết hầu của biển Đông, eo biển Singaporeeo biển Malacca, là đường giao thông quan trọng của ngành vận tải hàng hải quốc tế, có ý nghĩa trọng yếu về chiến lược và giao thông.

Nhiều thành phố trọng yếu phân bố ven sông, ven biển, cửa cảng chủ yếu có cảng Hải Phòng, cảng Đà Nẵng, cảng Nha Trang, cảng Sài Gòn, cảng Sihanoukville, cảng Sattahip, cảng Băng Cốc, cảng Singapore, cảng Port Klang, cảng Penang, cảng Mawlamyine, cảng Myeik và cảng Yangon. Mỗi nước ở bán đảo đều có sẵn quan hệ lịch sử và văn hoá mật thiết với Trung QuốcẤn Độ, cho nên bán đảo Đông Dương cũng gọi là "bán đảo Ấn - Trung".

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ O. W. Wolters. "Lịch sử, văn hoá và khu vực trong tầm nhìn Đông Nam Á".
  2. ^ Anthony Reid. "Thời đại mua bán ở Đông Nam Á".

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]