Đế quốc Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Những lãnh thổ trên thế giới đã từng là một phần của đế quốc Anh.

Đế quốc Anh (Tiếng Anh: British Empire) bao gồm những lãnh thổ tự trị, những thuộc địa, những quốc gia tự trị và nhiều lãnh thổ khác được điều hành và quản lý bởi liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland, đế quốc Anh khởi nguồn với những thuộc địa ngoại quốc và cảng giao thương được thành lập bởi Anh cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17.

Trong thời kỳ đỉnh cao, đây là đế quốc lớn nhất trong lịch sử, trong hơn một thế kỷ, Thực dân Anh là siêu cường hàng đầu trên thế giới.[1] Tính tới năm 1922, đế quốc Anh có dân số khoảng 458 triệu người, chiếm 1/8 dân số thế giới lúc đó[2] và bao phủ diện tích hơn 13,000,000 dặm vuông (33,000,000 km2): xấp xỉ một phần tư tổng diện tích toàn cầu.[3] Những di sản về văn hóa, ngôn ngữ của đế quốc Anh được truyền bá rộng rãi. Tại đỉnh cao của quyền lực, đế quốc Anh thường được ví với câu nói "mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Anh".

Trong suốt thời kỳ khai phá ở thế kỷ 15 và 16, Tây Ban NhaBồ Đào Nha đi tiên phong trong phong trào khai phá thuộc địa của châu Âu và trong quá trình đó đã xây dựng nên một đế chế rộng lớn. Chứng kiến sự thịnh vượng những đế quốc thực dân này giành được, Anh, Pháp và Hà Lan bắt đầu xây dựng thuộc địa và những mạng lưới giao thương tại châu Mỹ và châu Á.[4] Những cuộc chiến tranh với PhápHà Lan trong thế kỷ 17 và 18 đã giúp Anh trở thành một cường quốc thuộc địa thống trị ở Bắc MỹẤn Độ. Nhưng đồng thời, uy thế của Anh (và cả Pháp[5]) bị hạn chế ở châu Âu sau năm 1763, trước sự phát triển lớn mạnh của các cường quốc phía Đông như Phổ, ÁoNga.[6][7] Sau khi bị mất mười ba thuộc địa sau cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ năm 1783 đã giáng một đòn mạnh vào Anh Quốc, cuộc chiến đã tước đi của Anh Quốc phần lớn những thuộc đia đông dân nhất. Bất chấp bước thụt lùi, sự chú ý của Anh sau đó chuyển sang châu Phi, châu ÁThái Bình Dương. Sau thất bại của Napoléon Bonaparte năm 1815, Anh Quốc đã tận hưởng một thế kỷ thống trị không có đối thủ, đồng thời mở rộng phạm vi trên khắp toàn cầu. Nhiều thuộc địa của dân da trắng được trao quyền tự trị, một vài trong số đó được phân lại là quốc gia tự trị.

Sự phát triển lớn mạnh của ĐứcHoa Kỳ đã làm sói mòi sự dẫn đầu về kinh tế của Anh Quốc cuối thế kỷ 19. Sau đó những căng thẳng về kinh tế và chính trị giữa Đức và Anh là những nguyên nhân chính dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ nhất, trong đó Anh Quốc phải dựa chủ yếu vào đế chế của mình. Cuộc chiến đã tạo ra những khó khăn về tài chính cho Anh Quốc, và dù đế quốc Anh đã đạt được sự mở rộng lãnh thổ lớn nhất sau cuộc chiến, nhưng Anh Quốc không còn là một cường quốc số một về quân sự và công nghiệp. Chiến tranh thế giới lần hai chứng kiến việc các thuộc địa Anh ở Đông Nam Á bị quân phiệt Nhật Bản chiếm đóng, điều này đã làm tổn thương uy tín của Anh Quốc và đẩy nhanh quá trình sụp đổ của đế chế này. Trong vòng hai năm cuối cuộc chiến, Anh Quốc phải trao quyền độc lập cho thuộc địa đông dân và giá trị nhất là Ấn Độ.

Trong những năm còn lại của thế kỷ 20, phần lớn những thuộc địa của đế quốc Anh giành được độc lập như là một phần của phong trào phi thuộc địa hóa của các cường quốc châu Âu, kết thúc với việc trao trả Hồng Kông về cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997. Sau độc lập, nhiều quốc gia đã gia nhập Khối thịnh vượng chung Anh, một hiệp hội tự do của các quốc gia độc lập. 16 quốc gia có chung một lãnh đạo, đó là nữ hoàng Elizabeth II của Anh. 14 thuộc địa khác vẫn chịu sự quản lý của Anh, những thuộc địa đó được gọi là lãnh thổ hải ngoại Anh Quốc.

Nguồn gốc (1497-1583)[sửa | sửa mã nguồn]

Một bản sao của The Matthew, chiếc thuyền mà thuyền trưởng John Cabot đã dùng để đến Tân thế giới trong lần khàm phá thứ hai của mình

Nền tảng của Đế quốc Anh được đặt khi AnhScotland được phân thành hai vương quốc riêng biệt. Vào năm 1496 vua Henry VII của Anh, sau những thành công của Tây Ban NhaBồ Đào Nha trong việc thăm dò ở nước ngoài, hạ sĩ John Cabot đã dẫn đầu một chuyến đi để khám phá một tuyến đường tới châu Á thông qua Bắc Đại Tây Dương.[8] Cabot khởi hành năm 1497, năm năm sau khi phát hiện ra châu Mỹ và mặc dù thành công đổ bộ lên trên bờ biển của Newfoundland, nhưng lại không cố gắng để tìm một thuộc địa (nhầm tưởng như Christopher Columbus, rằng ông đã đạt đến châu Á) [9]. Cabot dẫn đầu một chuyến đi đến châu Mỹ vào năm sau đó nhưng không được nghe nói về tàu của mình lần nữa.[10]

Không có nỗ lực hơn nữa để thiết lập các thuộc địa Anh ở châu Mỹ cho đến khi nữ hoàng Elizabeth I trị vì, trong những thập niên cuối của thế kỷ 16.[11] Cuộc Cải Cách Tin Lành đã khiến Anh và Công Giáo Tây Ban Nha trở thành kẻ thù.[8] Năm 1562, Hoàng Gia Anh đã cho quyền John HawkinsFrancis Drake vì tham gia vào các cuộc tấn công nô lệ chống lại tàu Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ngoài khơi bờ biển Tây Phi [12] với mục tiêu đột nhập vào hệ thống thương mại Đại Tây Dương. Nỗ lực này bị đẩy lui và sau đó, khi cuộc chiến tranh Anh-Tây Ban Nha trở nên khốc liệt, Elizabeth đã ban phúc cho những nhóm dân sự tiếp tục tấn công các cảng Tây Ban Nha ở châu Mỹ và những tàu vận chuyển vượt Đại Tây Dương trở về, chất đầy kho báu của Tân thế giới.[13] Trong khi đó, những nhà văn có ảnh hưởng như Richard HakluytJohn Dee (những người đầu tiên sử dụng thuật ngữ "British Empire")[14] đã bắt đầu thúc dục cho việc thành lập một đế chế riêng của nước Anh. Đến thời điểm này, Tây Ban Nha đã củng cố địa vị mình ở châu Mỹ, Bồ Đào Nha đã thiết lập các cơ sở thương mại và các tiền đồn từ bờ biển châu PhiBrasil sang Trung Quốc, và Pháp đã bắt đầu giải quyết sông Saint Lawrence, sau này trở thành Tân Pháp.[15]

Thuộc địa hóa Ái Nhĩ Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù tới sau hơn so với Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trong việc thành lập các thuộc địa , nhưng Anh đã thành công trong việc chiếm đóng Ireland vào những năm cuối thế kỷ 16, tiếp nối cuộc xâm lăng Ai Len của nhà Norman vào năm 1169.[16][17] Nhiều người đã đóng góp vào công cuộc thuộc địa hóa Ireland và cũng đóng một phần trong các cuộc định cư đầu tiên ở Bắc Mỹ, đặc biệt là một nhóm được gọi là "những người đàn ông miền Tây", trong đó bao gồm Humphrey Gilbert, Walter Raleigh, Francis Drake, John Hawkins, Richard GrenvilleRalph Lane.[18]

"Đệ nhất đế chế" (1583-1783)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1578, Nữ hoàng Elizabeth I trao quyền cho Humphrey Gilbert trong việc khám phá và thăm dò ở nước ngoài.[19] Năm đó, Gilbert khởi hành đi vùng Caribe với ý định tham gia vào việc cướp biển và thiết lập một vài thuộc địa ở Bắc Mỹ, nhưng chuyến đi đã bị hủy bỏ trước khi nó vượt qua Đại Tây Dương.[20][21] Năm 1583 ông bắt tay vào một nỗ lực thứ hai, đã tới được đảo Newfoundland và tuyên bố chủ quyền cảng của đảo này thuộc về Anh Quốc, mặc dù không có để người định cư ở lại. Gilbert đột ngột qua đời trong chuyến đi trở về nước Anh. Sự nghiệp của ông được kế tục bởi người anh em trai cùng mẹ khác cha của mình, Walter Raleigh, người đã được Elizabeth I cấp giấy phép vào năm 1584. Cuối năm đó, Raleigh đã cho thiết lập một thuộc địa tại Roanoke trên bờ biển mà ngày nay thuộc Bắc Carolina, tuy nhiên do thiếu đồ dự trữ nên việc khai phá bị thất bại.[22]

Năm 1603, Vua James VI của Scotland lên ngôi vua nước Anh và một năm sau đó, ông đã đàm phán với người Tây Ban Nha ký vào Hiệp ước London, chấm dứt tình trạng thù địch bấy lâu nay. Vào thời điểm này việc hòa bình được phía Anh chú trọng, chuyển đổi từ các cuộc phá hoại những cơ sở hạ tầng thuộc địa của các quốc gia khác sang việc thành lập các thuộc địa ở nước ngoài bởi doanh nhân trong nước.[23] Đế chế Anh bắt đầu được hình thành trong những năm đầu thế kỷ 17, với việc Anh lập vài thuộc địa ở Bắc Mỹ và các đảo nhỏ trong vùng Caribbean, và thành lập những công ty tư nhân, đáng chú ý nhất là Công ty Đông Ấn Anh, để quản lý các thuộc địa và thương mại ở nước ngoài. Thời gian này, cho đến khi Mười ba thuộc địa bị mất sau khi cuộc chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ kết thúc vào cuối thế kỷ 18 được các sử gia gọi là "Đế chế Anh đầu tiên".[24]

Châu Mỹ, châu Phi và những cuộc thương mại nô lệ[sửa | sửa mã nguồn]

Caribbean ban đầu là thuộc địa quan trọng và sinh lợi nhất của Anh,[25] sau khi nhiều nỗ lực thuộc địa hóa vùng này bị thất bại. Một cố gắng để lập thuộc địa tại Guyana chỉ kéo dài trong vòng hai năm, và họ đã thất bại trong khi thực hiện mục tiêu chính là tìm vàng.[26] Thuộc địa ở St Lucia (1605) và Grenada (1609) cũng nhanh chóng bị hủy bỏ, nhưng khu định cư được thiết lập thành công tại St. Kitts (1624), Barbados (1627) và Nevis (1628).[27] Các thuộc địa chẳng bao lâu bắt chước hệ thống các đồn điền trồng mía do người Bồ Đào Nha đã làm rất thành công ở Brasil, tuy nhiên nó phụ thuộc vào sức lao động của nô lệ, và các tàu Hà Lan, mà đổi nô lệ và nhận lấy đường.[28] Để đảm bảo rằng, lợi nhuận thương mại vẫn nằm trong tay Anh, Quốc hội đã ra sắc lênh năm 1651 với việc chỉ có tàu Anh được đi lại trong vùng biển thuộc quyền kiểm soát của Anh. Điều này đã gây nên sự xích mích với Hà Lan, và một loạt những cuộc giao chiến đã diễn ra giữa hai cường quốc hàng hải, cuối cùng đã làm vững mạnh vị trí của Anh Quốc trong vùng này, gây thiệt thòi cho Hà Lan.[29] Năm 1655, Anh sáp nhập đảo Jamaica của Tây Ban Nha và thành công trong việc chinh phục Bahamas.[30]

Thuộc địa Anh tại Bắc Mỹ thế kỷ 18

Khu định cư đầu tiên của Anh tại châu Mỹ được thành lập tại Jamestown năm 1607, đứng đầu là thuyền trưởng John Smith và quản lý bởi công ty Virginia. Bermuda được Anh tuyên bố chủ quyền sau vụ đắm chiếc kỳ hạm của công ty và năm 1615 đã được chuyển giao sang công ty Somers Isles.[31] Đặc quyền của Công ty Virginia của đã bị thu hồi năm 1624 và quyền quản lý trực tiếp được nữ hoàng ủy nhiệm cho công ty Virginia, do đó đã thành lập thuộc địa Virginia.[32] Công ty London và Bristol đã được thành lập năm 1610 với mục đích lập ra một khu định cư lâu dài trên Newfoundland, nhưng phần lớn đều không thành công.[33] Năm 1620, Plymouth để làm nơi cư trú của những tín đồ Thanh giáo mà sau này được biết đến là những người Pilgrims.[34] Chạy trốn từ những cuộc đàn áp tôn giáo sẽ là động cơ cho nhiều cuộc vượt biển gian nan để đến tới vùng đất hứa: Maryland được thành lập năm 1634 để làm nơi cư ngụ của giáo dân Công giáo La Mã, Rhode Island (1636) được thành lập làm nơi cư trú khoan dung cho những người có đạo khác nhau, Connecticut (1639) được thành lập cho những người theo chủ nghĩa giáo đoàn (Congregationalists). Tỉnh Carolina được thành lập năm 1663. Với việc đồn Amsterdam đầu hàng năm 1634, Anh đã dành quyền kiểm soát thuộc địa Tân Hà Lan của Hà Lan và đổi tên thành New York. Điều này được chính thức hóa trong cuộc đàm phán sau cuộc chiến tranh Anh-Hà Lan lần thứ hai, đổi chác với Suriname.[35] Trong năm 1681, thuộc địa Pennsylvania đã được thành lập bởi William Penn. Các thuộc địa Mỹ có sức hút tài chính với thành công ít hơn so với những vùng biển Caribbean, nhưng có diện tích lớn, đất nông nghiệp tốt và thu hút số lượng lớn hơn của người di cư người Anh ưa thích khí hậu ôn đới của nó.[36]

Năm 1670, vua Charles II cấp một đặc quyền cho Công ty Vịnh Hudson, được độc quyền về thương mại lông thú tại một vùng sau đó đã được biết đến là đất của Rupert, một vùng lãnh thổ lớn so với lãnh thổ Canada ngày nay. Các đồn và các khu thương mại thành lập bởi Công ty thường xuyên bị tấn công bởi người Pháp, những người đã thành lập những khu vực trao đổi lông thú liền kề với Tân Pháp.[37]

Hai năm sau đó, Công ty Hoàng gia châu Phi đã được thành lập, được cấp giấy phép độc quyền từ vua Charles trong việc thương mại nô lệ cho các thuộc địa của Anh tại Caribbean. Ngay từ đầu, chế độ nô lệ là cơ sở của Đế chế Anh ở Tây Ấn. Cho đến khi bãi bỏ việc buôn bán nô lệ vào năm 1807, Anh chịu trách nhiệm cho việc vận chuyển 3,5 triệu nô lệ châu Phi đến châu Mỹ, 1/3 của tất cả các nô lệ vận chuyển qua Đại Tây Dương.[38] Để tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại này, nhiều pháo đài đã được thành lập trên bờ biển Tây Phi, chẳng hạn như James Island, Accra và Bunce Island. Tại vùng biển Caribbean thuộc Anh, tỷ lệ phần trăm của dân số người da đen đã tăng từ 25% năm 1650 lên khoảng 80% vào năm 1780, và trong 13 thuộc địa từ 10% đến 40% so với cùng kỳ (phần lớn ở các thuộc địa phía Nam).[39] Đối với các thương nhân, thương mại nô lệ cực kỳ có lợi nhuận, và đã trở thành một trụ cột kinh tế lớn cho các thành phố phía tây Anh là BristolLiverpool, hình thành các góc thứ ba của cái gọi là tam giác thương mại với châu Phi và châu Mỹ. Đối với các điều kiện vận chuyển, khắc nghiệt và không hợp vệ sinh trên tàu nô lệ và chế độ ăn uống nghèo nàn có nghĩa rằng tỷ lệ tử vong trung bình là cứ bảy người thì một người tử nạn.[40]

Trong năm 1695, quốc hội Scotland đã cấp một đặc quyền cho Công ty Scotland, được thành lập để giải quyết một vấn đề năm 1698 trên eo đất Panama, với việc xây dựng một kênh đào ở đó. Họ bị quân Tây Ban Nha láng giềng tại Tân Granada bao vây và bị ảnh hưởng bởi những cơn sốt rét king hoàng, thuộc địa này đã bị bỏ rơi trong hai năm sau đó. Đề án Darien là một thảm họa tài chính cho Scotland —1/4 vốn của Scotland— đã bị mất[41] trong khi các doanh nghiệp Scotland hy vọng thiết lập một đế chế ở nước ngoài. Nó cũng có hậu quả chính trị lớn, thuyết phục chính phủ của cả hai nước Anh và Scotland thành lập một liên minh, chứ không phải là hai vương quốc tách biệt.[42] Điều này đã được thực hiện năm 1707 với việc một hiệp ước liên minh được ký kết, thành lập nên Liên hiệp Anh.

Cuộc đối đầu với Hà Lan ở châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo đài St. George được thành lập tại Madras năm 1639

Vào cuối thế kỷ 16, Anh và Hà Lan bắt đầu thách thức sự độc quyền của Bồ Đào Nha trong việc thương mại với Á châu. Hình thành nên loại công ty cổ phần để tài trợ cho các chuyến đi, công ty Đông Ấn Anh sau này là Công ty Đông Ấn Anh QuốcCông ty Đông Ấn Hà Lan, được thành lập năm 1600, 1602. Mục đích của những công ty này là khai thác thượng mại gia vị[43], một nỗ lực tập trung chủ yếu vào quần đảo Đông Ấn, và đầu mối quan trọng trong mạng lưới thương mại, Ấn Độ. Tại đây, họ cạnh tranh quyền lực và thương mại tối cao với Bồ Đào Nha.[44] Mặc dù, cuối cùng, Anh sẽ làm lu mờ quyền lực thực dân của Hà Lan, nhưng trong thời gian đầu, Hà Lan đã tiến bộ hơn về hệ thống tài chính[45] và ba cuộc chiến tranh với Anh đã giúp họ đứng vững ở Á châu. Sự thù hằn chấm dứt sau cuộc Cách mạng Vinh quang năm 1688 khi William xứ Orange lên ngôi vua nước Anh, mang lại hòa bình giữa Anh và Hà Lan. Hai nước đã thỏa thuận giao việc buôn bán gia vị của quần đảo Đông Ấn cho Hà Lan và ngành công nghiệp dệt may của Ấn Độ cho Anh, nhưng lợi nhuận hàng dệt may sớm vượt qua các loại hàng gia vị, năm 1720, doanh số bán hàng của Anh đã vượt qua Hà Lan.[45]

Chiến tranh với Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Hòa bình giữa Anh và Hà Lan năm 1688 có nghĩa rằng hai nước bước sẽ bước vào cuộc chiến tranh Chín năm với tư cách là đồng minh. Cuộc xung đột ở châu Âu và ở các khu vực khác giữa liên minh Pháp-Tây Ban Nha và liên minh Anh-Hà Lan đã làm cho Anh Quốc có thế lực thực dân mạnh hơn là Hà Lan, mà phải để dành một tỷ lệ lớn ngân sách chi cho những hoạt động quân sự của mình trong các cuộc chiến tranh ở châu Âu.[46] Thế kỷ 18 sẽ nhìn thấy nước Anh (sau 1707, Anh Quốc) trở thành quốc gia thống trị quyền lực thế giới thuộc địa, và Pháp trở thành đối thủ chính trên sàn đấu.[47]

Hạm đội Pháp bị đánh chìm tại Québec năm 1759

Cái chết của Carlos II của Tây Ban Nha vào năm 1700 và người thừa kế Tây Ban Nha và đế quốc thực dân của ông là Philippe Anjou, một cháu trai của vua nước Pháp, đã nâng triển vọng về sự hợp nhất Pháp và Tây Ban Nha cũng như các thuộc địa của mình. Một khi điều này xảy ra, thì Pháp-Tây Ban Nha sẽ trở thành siêu cường hùng mạnh nhất thể giới, một thể chế mà Anh và các cường quốc khác ở châu Âu không thể chấp nhận được.[48] Năm 1701, Anh, Bồ Đào NhaHà Lan đứng về phía Thánh chế La Mã chống lại Tây Ban Nha và Pháp trong cuộc chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, kéo dài cho đến 1714. Sau khi Hiệp ước Utrecht được thông qua, Philip từ bỏ quyền mình và con cháu được lên ngôi vua của Pháp. Cùng với đó, Tây Ban Nha mất đi đế quốc của mình tại châu Âu khi phải bàn giao nhiều vùng đất cho Áo và đồng minh của họ.[48] Đế quốc Anh mở rộng lãnh thổ: từ Pháp, Anh đã chiếm được NewfoundlandAcadia, và Gibraltar, Minorca từ Tây Ban Nha. Gibraltar ngày nay vẫn còn là một lãnh thổ Anh, đã trở thành một căn cứ hải quân quan trọng và cho phép Anh để kiểm soát các tàu buồm đi từ Đại Tây Dương vào Địa Trung Hải. Minorca đã được trả lại cho Tây Ban Nha sau Hiệp ước Amiens năm 1802 được ký kết. Tây Ban Nha cũng nhượng lại quyền cho phép bán nô lệ ở các thuộc địa Tây Ban Nha ở châu Mỹ tới nước Anh.[49]

Bảy năm chiến tranh, bắt đầu từ năm 1756, là cuộc chiến đầu tiên được tiến hành trên một quy mô toàn cầu, diễn ra ở châu Âu, Ấn Độ, Bắc Mỹ, vùng Caribbean, Phi Luật Tân và ven biển châu Phi. Việc Hiệp ước Paris (1763) được ký kết đã có hậu quả quan trọng đối với tương lai của Đế chế Anh. Ở Bắc Mỹ, tương lai của người Pháp đã trở nên mù mịt và không bao giờ có thể khôi phục khi phải nhượng cho Anh các vùng đất trù phú như Rupert, và Tân Pháp (tất cả khu vực này đều chứa số lượng lớn cộng đồng nói tiếng Pháp). Trong khi đó, Tây Ban Nha nhượng lại Florida cho Anh. Tại Ấn Độ, Chiến tranh Carnatic khiến Pháp chấm dứt mộng làm bá chủ Ấn Độ.[50] Chiến thắng Anh trước Pháp trong Chiến tranh Bảy năm đã đưa Anh trở thành siêu cường hàng hải mạnh nhất thế giới.[51]

Sự nổi lên của "Đệ nhị đế chế"[sửa | sửa mã nguồn]

Robert Clive chiến thắng tại trận Plassey.

Công ty cai trị ở Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thế kỷ đầu tiên hoạt động, Công ty Đông Ấn Anh tập trung vào thương mại với tiểu lục địa Ấn Độ, vì đó không phải ở một vị trí để thách thức quyền lực với đế quốc Mogul,[52] đã cấp quyền thương mại năm 1617. Thay đổi này trong thế kỷ 18 đã làm giảm quyền lực của Mogul và Công ty Đông Ấn vật lộn với đối tác Pháp, Compagnie française des Indes Orientales, tại cuộc chiến tranh Carnatic trong thập niên 1740 và 1750. Trận Plassey năm 1757, người Anh, do Robert Clive, đã đánh bại Nawab của Bengal và đồng minh Pháp của mình, dẫn đến việc công ty kiểm soát Bengal và là sức mạnh quân sự và chính trị lớn ở Ấn Độ.[53] Trong những thập kỷ sau, nó dần dần tăng kích thước từ các vùng lãnh thổ cũ dưới sự kiểm soát của nó, hoặc cầm quyền trực tiếp hoặc thông qua nhà cầm quyền địa phương dưới sự đe dọa lực lượng quân đội Ấn Độ từ Anh, phần lớn được trấn áp bởi quân đội Anh-Ấn.[54] Ấn Độ thuộc Anh cuối cùng đã phát triển trở thành sở hữu có giá trị nhất của đế quốc, "viên ngọc gắn trên vương miện", bao gồm một lãnh thổ lớn hơn cả đế chế La Mã, nó là những nguồn cung quan trọng nhất cho sức mạnh của nước Anh, định rõ vị trí của nó như là một sức mạnh vĩ đại nhất thế giới.[55]

Cách mạng Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cách mạng Mỹ

Trong thập niên 1760 và 1770, mối quan hệ giữa Mười ba thuộc địa và Anh trở nên ngày càng căng thẳng, chủ yếu do của sự oán giận của các nỗ lực của Quốc hội Anh để quản lý và thuế thực dân mà không có sự đồng ý của dân tại đây, để tóm tắt tình hình vào thời điểm đó là khẩu hiệu "Không có thuế mà không cần đại diện ". Bất đồng về quyền thực dân tại Mỹ đảm bảo với người Anh trong cuộc Cách mạng Mỹ và sự bùng phát của cuộc Chiến tranh Độc lập Hoa Kỳ năm 1775. Năm sau, người dân thuộc địa tuyên bố độc lập thành lập Hoa Kỳ. Với sự hỗ trợ từ Pháp, Tây Ban Nha và Hà Lan, Hoa Kỳ giành chiến thắng trong cuộc chiến năm 1783.

Mất Mười ba thuộc địa là một cú đau rất lớn đối với Anh, đây là thuộc địa đông dân nhất vào thời bấy giờ, và theo nhiều nhà sử học, đây là giai đoạn chuyển đỗi giữa đế chế thứ nhất và thứ hai,[56] và Anh chuyển chú ý từ châu Mỹ đến châu Á, Thái Bình Dương và sau đó là châu Phi. Tác phẩm Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia của Adam Smith được xuất bản năm 1776 đã kết luân rằng, các thuộc địa đã dư thừa và rằng nên thay thế một chính sách là thương mại tự do mà đặc trưng là giai đoạn đầu tiên cua công cuộc khai phá thuộc địa, có niên đại giữa sự bảo hộ mậu dịch của Tây Ban NhaBồ Đào Nha.[51][57] Tốc độ tăng trưởng thương mại giữa quốc gia non trẻ Hoa Kỳ và Anh sau năm 1783 dường như để xác nhận cho Smith rằng, kiểm soát chính trị là không cần thiết đối với thành công kinh tế.[58][59] Căng thẳng giữa hai nước ngày càng leo thang trong cuộc chiến tranh Napoléon, khi Anh cố gắng cắt giảm thương mại giữa Hoa Kỳ và Pháp, và những cuộc cưỡng bách tòng quân từ tàu chiến Hoa Kỳ đã gây sự chú ý đến Anh. Hoa Kỳ tuyên bố chiến tranh, cuộc chiến tranh 1812 bắt đầu, cả hai bên cũng đều cố gắng giảm lợi nhuận của nhau, nhưng đều không thành công. Hiệp ước Ghent được phê chuẩn năm 1815 giữ ranh giới thời kỳ tiền chiến.[60]

Thăm dò Thái Bình Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệm vụ của James Cook là phải tìm lục địa Terra Australis ở phía Nam

Kể từ 1718, việc vận chuyển đến các thuộc địa Mỹ đã là một hình phạt cho nhiều tên tội phạm hình sự khác nhau ở Anh, với khoảng một ngàn người bị kết án vận chuyển mỗi năm trên Đại Tây Dương.[61] Cuộc cách mạng Mỹ đã đánh dấu sự kết thúc của 13 thuộc địa, một nhà nước mới được thành lập mà không còn là một thuộc địa của người Anh nữa. Buộc phải tìm một vị trí thay thế sau khi mất 13 thuộc địa, năm 1783, Chính phủ Anh quay sang việc phát hiện ra vùng đất mới ở Úc.[62] Những bờ biển phía tây của Úc đã được phát hiện do nhà thám hiểm Willem Jansz người Hà Lan năm 1606 và sau này được đặt theo tên của Công ty Đông Ấn Hà LanNew Holland,[63] nhưng không có cố gắng để tìm một thuộc địa. Năm 1770, James Cook phát hiện ra bờ biển phía đông của Úc, trong một chuyến đi đến Nam Thái Bình Dương, và tuyên bố đây lục địa của Anh, và đặt tên là New South Wales.[64] Những thuộc địa Úc đã trở thành nhà xuất khẩu có lợi nhuận từ lông cừu và vàng,[65] chủ yếu là do vàng từ các thuộc địa ở Victoria, làm cho Melbourne trở thành thành phố giàu nhất thế giới [66] và thành phố lớn nhất sau London của Đế quốc Anh.[67]

Trong suốt chuyến đi của mình, Cook cũng đã đến thăm New Zealand, nó đã được phát hiện bởi nhà thám hiểm Hà Lan Abel Tasman vào năm 1642, và được Hoàng Gia Anh tuyên bố chủ quyền ở cả hai đảo Bắc và Nam lần lượt vào năm 1769 và 1770. Ban đầu, tương tác giữa người bản địa Maori và người châu Âu đã được giới hạn trong việc kinh doanh hàng hoá. Tăng cường giải quyết châu Âu thông qua những thập kỷ đầu của thế kỷ 19, với việc thành lập nhiều trạm kinh doanh, đặc biệt là ở miền Bắc. Năm 1839, Công ty New Zealand công bố kế hoạch mua những vùng đất rộng lớn và thiết lập các thuộc địa ở New Zealand. Ngày 06 Tháng 2 năm 1840, Thuyền trưởng William Hobson và khoảng 40 tù trưởng Maori đã ký Hiệp ước Waitangi.[68] Hiệp ước này được xem là bởi nhiều người cho là của tài liệu sáng lập New Zealand,[69] nhưng khác nhau giữa cách diễn giải của người Maori và các phiên bản tiếng Anh[70] có nghĩa là nó tiếp tục là một nguồn tranh chấp.[71]

Chiến tranh với Napoléon[sửa | sửa mã nguồn]

Thử thách tiếp theo của Anh là phải đối đầu với nước Pháp của Napoléon Bonaparte, trong cuộc chiến không giống như cuộc chiến đã diễn ra trước đó, đại diện cho một cuộc thi ý thức hệ giữa hai nước. Đây không chỉ là trách nhiệm của mỗi mình nước Anh mà toàn thế giới: Napoléon từng đe dọa để xâm lược nước Anh, cũng giống như những gì quân đội của ông từng đã thực hiên với nhiều quốc gia trên lục địa châu Âu.[72]

Trận Waterloo đã kết thúc bằng thất bại của Napoléon

Các cuộc chiến tranh Napoléon khiến người Anh bắt buộc phải đầu tư một lượng vốn lớn và nguồn lực để giành chiến thắng. Hải quân Pháp bị phong tỏa bởi Hải quân Hoàng gia, sau khi giành được một chiến thắng quyết định trên một hạm đội Pháp-Tây Ban Nha tại Trafalgar năm 1805. Tất cả các thuộc địa ở nước ngoài cũng bị tấn công và chiếm đóng, bao gồm cả của Hà Lan, được sáp nhập bởi Napoléon năm 1810. Cuối cùng Pháp đã bị liên minh của quân đội châu Âu đánh bại vào năm 1815.[73] Anh là người thụ hưởng hiệp ước hòa bình. Pháp nhượng lại các quần đảo Ionian, Malta (mà họ đã chiếm đóng năm 1797, 1798), Mauritius, St Lucia, và Tobago, Tây Ban Nha phải nhượng lại Trinidad, Guyana thuộc Hà Lan, và Cape Colony. Anh trả Guadeloupe, Martinique, Guiana thuộc Pháp, và Réunion cho Pháp, và JavaSuriname Hà Lan, trong khi nắm quyền kiểm soát của Tích Lan (1795-1815).[74]

Bãi bỏ chế độ nô lệ[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới áp lực ngày càng tăng từ các phong trào bãi nô ở Anh, chính phủ Anh đã ban hành Đạo luật buôn bán nô lệ vào năm 1807, bãi bỏ việc buôn bán nô lệ trong đế quốc. Năm 1808, một thuộc địa của Anh, Sierra Leone đã chính thức giải phóng nô lệ.[75]Đạo luật xoá bỏ chế độ nô lệ được thông qua vào năm 1833, bãi bỏ chế độ nô lệ tại Đế quốc Anh vào ngày 1 tháng 8 năm 1834 (ngoại trừ St. Helena, Tích Lan và các vùng lãnh thổ được quản lý bởi Công ty Đông Ấn Anh, mặc dù những ngoại lệ đã bị bãi bỏ sau đó). Theo Đạo luật, nô lệ được trả tự do sau một khoảng thời gian từ 4 đến 6 năm "học nghề".[76]

"Thế kỷ đế chế" của Anh (1815-1914)[sửa | sửa mã nguồn]

Ấn Độ thuộc Anh, 1909
Bản đồ chi tiết Đế quốc Anh năm 1886, những lãnh thổ do Đế quốc Anh cai trị được tô màu trên bản đồ.

Giữa những năm từ 1815 đến 1914, khoảng thời gian mà theo một số sử gia là "thế kỷ đế chế" của nước Anh,[77][78] họ đã mở rộng lãnh thổ của mình lên tới [Chuyển đổi: Số không hợp lệ] và thêm khoảng 400 triệu người.[79] Chiến thắng trước Napoléon giúp nước Anh loại bỏ được cái gai, không còn bất kỳ đối thủ trên thế giới có thể cạnh tranh với họ, khác so với Nga ở Trung Á.[80] Không còn gặp thách thức trên biển, Anh đã thông qua vai trò là cảnh sát toàn cầu, về sau còn được gọi là Pax Britannica ("Thái bình Anh quốc"),[81] và chính sách "cách ly tuyệt vời" với nước ngoài. Cùng với việc kiểm soát chính thức, tác dụng lên trên các thuộc địa riêng, vị trí thống trị của Anh trong thương mại thế giới có nghĩa rằng đạt hiệu quả kiểm soát nền kinh tế của nhiều quốc gia, như Trung Quốc, ArgentinaXiêm La, mà một vài nhà sử học gọi là "đế chế không chính thức".[82][83]

Sức mạnh đế quốc Anh đã được củng cố bằng tàu hơi nướcđiện báo, những công nghệ mới phát minh ra trong nửa cuối của thế kỷ 19, cho phép nó để kiểm soát và giữ vững nền thịnh trị của đế chế. Đến năm 1902, đế quốc Anh đã được liên kết với nhau bởi một mạng lưới cáp điện báo, được gọi là All Red Line.[84]

Công ty Đông Ấn tại châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Raj thuộc Anh
Một tranh biếm họa chính trị của Benjamin Disraeli (1804–1881). Câu ghi chú là "New crowns for old ones!"

Công ty Đông Ấn mở rộng lãnh thổ của Đế chế Anh tại châu Á. Quân đội của Công ty đã gia nhập lực lượng Hải quân Hoàng gia trong Chiến tranh Bảy năm, và đã tầng tiếp tục hợp tác cùng nhau hai lần trên những chiến trường nằm ngoài Ấn Độ: Napoléon rút khỏi Ai Cập (1799), Chiếm đánh Java từ Hà Lan (1811), mua Singapore (1819) và Malacca (​​1824) và trong công cuộc đánh chiếm Miến Điện (1826).[80]

Từ trụ sở tại Ấn Độ, Công ty đã cho buôn bán thuốc phiện nhằm thúc đẩy thương mại xuất khẩu sang Trung Quốc kể từ thập niên 1730. Những cuộc giao thương này, trở thành bất hợp pháp kể từ khi nó bị nhà Thanh cấm vào năm 1729, việc này đã đảo ngược sự mất cân bằng thương mại do sự nhập khẩu trà của Anh, do bị lỗ rất nặng.[85] Năm 1839, chính quyền Trung Quốc tại Quảng Châu cho tịch thu hơn 2 vạn thùng thuốc phiện, dẫn đến việc Anh tấn công Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất và dẫn đến việc người Anh chiếm Hồng Kông, vào thời điểm màn nơi này chỉ là một khu định cư nhỏ.[86]

Công ty Đông Ấn Độ đã được giải thể ngay vào năm sau đó.[87]

Tại Ấn Độ, mùa màng thất bát nghiêm trọng liên tục vào cuối thế kỷ 19, dẫn đến nạn đói lan rộng, ước tính rằng có hơn 15 triệu người đã chết. Công ty Đông Ấn không thực hiện bất kỳ chính sách phối hợp nào để đối phó với nạn đói trong thời kỳ mà mình còn nắm quyền. Điều này đã được thay đổi vào thời Raj, nhiều ủy ban điều tra được thiết lập sau khi nạn đói tác loan, họ có nhiệm vụ điều tra nguyên nhân và thực hiện các chính sách mới, chính sách này có hiệu lực đến những năm đầu thập niên 1900.[88]

Suy yếu rồi tan rã[sửa | sửa mã nguồn]

Sự phát triển lớn mạnh của ĐứcHoa Kỳ đã làm sói mòi sự dẫn đầu về kinh tế của Anh Quốc cuối thế kỷ 19. Sau đó những căng thẳng về kinh tế và chính trị giữa Đức và Anh là những nguyên nhân chính dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ nhất, trong đó Anh Quốc phải dựa chủ yếu vào đế chế của mình. Cuộc chiến đã tạo ra những khó khăn về tài chính cho Anh Quốc, và dù đế quốc Anh đã đạt được sự mở rộng lãnh thổ lớn nhất sau cuộc chiến, nhưng Anh Quốc không còn là một cường quốc số một về quân sự và công nghiệp. Chiến tranh thế giới lần hai chứng kiến việc các thuộc địa Anh ở Đông Nam Á bị quân phiệt Nhật Bản chiếm đóng, điều này đã làm tổn thương uy tín của Anh Quốc và đẩy nhanh quá trình sụp đổ của đế chế này. Trong vòng hai năm cuối cuộc chiến, Anh Quốc phải trao quyền độc lập cho thuộc địa đông dân và giá trị nhất là Ấn Độ.

Trong những năm còn lại của thế kỷ 20, phần lớn những thuộc địa của đế quốc Anh giành được độc lập như là một phần của phong trào phi thuộc địa hóa của các cường quốc châu Âu, kết thúc với việc trao trả Hồng Kông về cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997. Sau độc lập, nhiều quốc gia đã gia nhập Khối thịnh vượng chung Anh, một hiệp hội tự do của các quốc gia độc lập. 16 quốc gia có chung một lãnh đạo, đó là nữ hoàng Elizabeth II của Anh. 14 thuộc địa khác vẫn chịu sự quản lý của Anh, những thuộc địa đó được gọi là lãnh thổ hải ngoại Anh Quốc.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ferguson, Niall (2004). Empire, The rise and demise of the British world order and the lessons for global power. Basic Books. tr. ix. ISBN 0-465-02328-2. 
  2. ^ Maddison 2001, các trang. 98, 242.
  3. ^ Ferguson 2004, p. 15.
  4. ^ Niall Ferguson, The rise and demise of the British world order and the lessons for global power, trang 2.
  5. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 257
  6. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 224
  7. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 1
  8. ^ a ă Ferguson 2004, tr. 3.
  9. ^ Andrews 1985, tr. 45.
  10. ^ Ferguson 2004, tr. 4.
  11. ^ Canny, tr. 35.
  12. ^ Thomas, các trang 155–158
  13. ^ Ferguson 2004, tr. 7.
  14. ^ Canny, tr. 62.
  15. ^ Lloyd, các trang 4–8.
  16. ^ Canny, tr. 7.
  17. ^ Kenny, tr. 5.
  18. ^ Taylor, tr. 119,123.
  19. ^ Andrews, trang. 187.
  20. ^ Andrews, trang. 188.
  21. ^ Canny, trang. 63.
  22. ^ Canny, các trang. 63–64.
  23. ^ Canny, trang. 70.
  24. ^ Canny, trang. 34.
  25. ^ James, trang. 17.
  26. ^ Canny, trang. 71.
  27. ^ Canny, trang. 221.
  28. ^ Lloyd, các trang. 22–23.
  29. ^ Lloyd, trang. 32.
  30. ^ Lloyd, các trang. 33, 43.
  31. ^ Lloyd, các trang. 15–20.
  32. ^ Andrews, các trang. 316, 324–326.
  33. ^ Andrews, các trang. 20–22.
  34. ^ James, trang. 8.
  35. ^ Lloyd, trang. 40.
  36. ^ Ferguson 2004, các trang. 72–73.
  37. ^ Buckner, trang. 25.
  38. ^ Ferguson 2004, trang. 62.
  39. ^ Canny, trang. 228.
  40. ^ Marshall, các trang. 440–64.
  41. ^ Magnusson, trang. 531.
  42. ^ Macaulay, trang. 509.
  43. ^ Pagden, Anthony (2003):Peoples and Empires: A Short History of European Migration, Exploration, and Conquest, from Greece to the Present, trang 118
  44. ^ Lloyd: Empire: the history of the British Empire, trang 13
  45. ^ a ă Ferguson 2004, trang. 19.
  46. ^ Canny, trang. 441.
  47. ^ Pagden, trang. 90.
  48. ^ a ă Shennan, các trang. 11–17.
  49. ^ James, trang. 58.
  50. ^ Bandyopādhyāẏa, các trang. 49–52
  51. ^ a ă Pagden, trang. 91.
  52. ^ Canny, trang. 93.
  53. ^ Smith, trang. 17.
  54. ^ Smith, các trang. 18–19.
  55. ^ Brown, trang. 5.
  56. ^ Canny, trang. 92.
  57. ^ James, trang. 120.
  58. ^ James, trang. 119.
  59. ^ Marshall, trang. 585.
  60. ^ Latimer, các trang. 8, 30–34, 389–92.
  61. ^ Smith, tr. 20.
  62. ^ Smith, các trang. 20–21.
  63. ^ Mulligan & Hill, các trang. 20–23.
  64. ^ Brittain and the Dominions, t. 159.
  65. ^ Fieldhouse, các trang. 145–149
  66. ^ Cervero, Robert B. (1998). The Transit Metropolis: A Global Inquiry. Chicago: Island Press. tr. 320. ISBN 1-55963-591-6. 
  67. ^ Statesmen's Year Book 1889
  68. ^ Smith, tr. 45.
  69. ^ “Waitangi Day”. History Group, New Zealand Ministry for Culture and Heritage. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2008. 
  70. ^ Porter, tr. 579.
  71. ^ Mein Smith, tr. 49.
  72. ^ James, p. 152.
  73. ^ Lloyd, các trang. 115–118.
  74. ^ James, tr. 165.
  75. ^ Porter, tr. 14.
  76. ^ Hinks, tr. 129.
  77. ^ Hyam, tr. 1.
  78. ^ Smith, tr. 71.
  79. ^ Parsons, tr. 3.
  80. ^ a ă Porter, tr. 401.
  81. ^ Porter, tr. 332.
  82. ^ Porter, tr. 8.
  83. ^ Marshall, các trang. 156–57.
  84. ^ Dalziel, các trang. 88–91.
  85. ^ Martin, tr. 146–148.
  86. ^ Janin, tr. 28.
  87. ^ Smith, các trang. 50–57.
  88. ^ Marshall, các trang. 133–34.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]