Bước tới nội dung

Belize

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Belize
Tên bản ngữ

Tiêu ngữSub umbra floreo (tiếng Latinh)
"Under the shade I flourish"


Tổng quan
Thủ đôBelmopan
17°15′B 88°46′T / 17,25°B 88,767°T / 17.250; -88.767
Thành phố lớn nhấtThành phố Belize
17°29′B 88°11′T / 17,483°B 88,183°T / 17.483; -88.183
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Anh[1]
Ngôn ngữ nói
Sắc tộc
(2010)
Tôn giáo
(2022)[3]
Tên dân cưNgười Belize
Chính trị
Chính phủChế độ quân chủ lập hiến đại nghị đơn nhất
Charles III
Froyla Tzalam
Johnny Briceño
Lập phápQuốc hội
Thượng viện
Hạ viện
Lịch sử
Độc lập 
Tháng 1 năm 1964
• Độc lập
21 tháng 9 năm 1981
Địa lý
Diện tích 
• Tổng cộng
22.966 km2[5][6] (hạng 147)
8.867 mi2
• Mặt nước (%)
0,8
Dân số 
• Điều tra 2022
397.483[4]
17.31/km2
44,8/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2025
• Tổng số
Tăng 6,414 tỷ đô la Mỹ[7] (hạng 180)
Tăng 15.363 đô la Mỹ[7] (hạng 123)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2025
• Tổng số
Tăng 3,488 tỷ đô la Mỹ[7] (hạng 179)
• Bình quân đầu người
Tăng 8.355 đô la Mỹ[7] (hạng 98)
Đơn vị tiền tệĐô la Belize ($) (BZD)
Thông tin khác
Gini? (2013)53,1[8]
cao
HDI? (2023)Tăng 0.721[9]
cao · hạng 115
Múi giờUTC−06:00 (Múi giờ miền Trung (Bắc Mỹ))
Cách ghi ngày thángdd/mm/yyyy (AD)
Giao thông bênphải
Mã điện thoại+501
Mã ISO 3166BZ
Tên miền Internet.bz


Belize[a] là một quốc gia ở Trung Mỹ. Belize phía bắc giáp México, tây và nam giáp Guatemala, đông là Vịnh Honduras, một nhánh của biển Caribe. Belize là nước duy nhất ở Trung Mỹ dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức.

Nguồn gốc tên gọi

[sửa | sửa mã nguồn]

Belize nằm ở bắc Trung Mỹ, đông giáp biển Caribbean. Nguồn gốc tên nước có hai cách giải thích:

Tên nước và cố đô (Thành phố Belize cũng là thành phố lớn nhất Belize) đều lấy từ tên con sông chính Belize chảy trong lãnh thổ. Theo tiếng Pháp, "balise" mang nghĩa "tháp đèn" hay "phao nổi". Một thuyết khác cho rằng, thành phố được xây dựng trên sông Wallis, tên sông này lấy từ tên nhà thám hiểm Scotland là Peter Wallace chuyển thành, ông đến đây vào năm 1610 và muốn chiếm cả vùng này. Do trong tiếng Tây Ban Nha không có chữ cái "w", từ đó "Wallis" chuyển thành "Vallis", đọc ra thành "Balis" hay "Belice".

Năm 1638, một hải tặc ScotlandPeth Valiz đến và chiễm lĩnh vùng này. Về sau, người ta lấy tên của hải tặc này đặt cho vùng, từ đó chuyển thành tên nước là "Belize".

Cư dân đầu tiên ở đây là người Maya, thế kỷ 16, trở thành thuộc địa của Tây Ban Nha. Thế kỷ 17, người Anh xâm nhập vào. Năm 1862, Anh chính thức tuyên bố Belize là thuộc địa của mình, gọi là "Honduras". Ngày 1 tháng 1 năm 1964, thực hiện tự trị nội bộ, trở thành thành viên trong Khối Liên hiệp Anh. Năm 1973, đổi thành "Belize thuộc Anh". Ngày 21 tháng 9 năm 1981, giành độc lập.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ tộc Maya là nhóm người nguyên thủy sinh sống ở Belize thuở trước. Nền văn hóa Maya bắt đầu từ năm 1500 trước Công nguyên và phát triển rực rỡ ở Belize đến khoảng thế kỷ X thì tàn dần.

Đến thế kỷ 17 thì người Âu châu đến lập nghiệp khởi đầu với các nhóm cướp biển và thủy thủ gốc Anh.

Lợi dụng sự yếu kém của chính quyền thuộc địa Tây Ban Nha không kiểm soát được khu vực này, thị trấn Belize thành hình và dưới sự che chở của Hải quân Anh và nghiễm nhiên biến thành thuộc địa của Anh. Dân Anh tiến hành việc phá rừng đẵn gỗ, như gỗ nhạc ngựa (mahogany) cùng các lâm sản làm thuốc nhuộm để cung cấp thị trường Âu châu. Năm 1763, chính quyền Guatemala thuộc Tây Ban Nha nhượng bộ và thỏa hiệp cho phép người Anh khai thác lâm sản nhưng vẫn không chịu công nhận quyền định cư. Đây là mầm mống tranh chấp lãnh thổ giữa Belize và Guatemala cho đến nay. Năm 1871, thì Luân Đôn chính thức sáp nhập Belize dưới tên "British Honduras" là lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh.

Năm 1964, Luân Đôn ban cho British Honduras thể chế thuộc địa tự trị. Cũng vào thập niên 1960 sau trận bão Hattie tàn phá thủ phủ Belize, chính phủ xúc tiến việc thiên đô sâu vào nội địa. Belmopan ra đời và đến năm 1970 thì các công sở được chuyển về Belmopan, tức thủ đô mới. Năm 1973, chính phủ Anh mới đổi tên xứ British Honduras thành "Belize" và đến 21 tháng 9 năm 1981 thì trao độc lập cho xứ thuộc địa cuối cùng trên lục địa châu Mỹ này.

Ngay từ lúc đầu Belize đã phải đối diện vấn đề tranh chấp lãnh thổ với nước lân bang Guatemala. Nguyên là Guatemala không công nhận sự hiện hữu của Belize và đã từng tuyên bố chủ quyền trên một phần hay toàn phần lãnh thổ Belize. Xét đến năm 2007 vụ tranh chấp biên giới vẫn chưa giải quyết mặc dù đã có nhiều đợt hòa giải qua trung gian bởi các chính phủ Anh, chính phủ Hoa Kỳ, Cộng đồng Caribe, và Tổ chức các Quốc gia châu Mỹ. Vương quốc Anh vẫn duy trì lực lượng quân sự ở Belize theo thỉnh cầu của Belmopan.

Địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng duyên hải phía bắc của Belize là một bình nguyên thấp, nhiều nơi là bãi lầy, rừng rậm mọc kín. Lui về phía nam là rặng núi Maya với ngọn Doyle's Delight (1124 m) là cao nhất.[10] Hai trong ba con sông lớn nhất trong nước đều xuất phát từ rặng núi này; đó là sông Hondo ở miền bắc và sông Belize ở miền trung. Con sông lớn miền nam, sông Sarstún xuất phát từ Guatemala, chảy ra Vịnh Honduras và là biên giới giữa Guatemala và Belize. Rừng xanh phủ khoảng 60% diện tích quốc gia này nhưng với đà tăng dân số, diện tích rừng mỗi năm mỗi thu hẹp lại.

Great Blue Hole, gần Ambergris Caye.

Ngoài khơi Belize dọc bờ biển là một dải đảo, thổ ngữ gọi là "cayes" và Belize Barrier Reef, rạn san hô lớn nhất Tây Bán cầu.

Khí hậu

[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu Belize là khí hậu nhiệt đới: nóng và ẩm. Mùa mưa kéo dài từ Tháng Năm đến Tháng Mười Một, thường có bão thổi từ biển vào, gây lụt lội. Lịch sử Belize từng chứng kiến những trận bão tàn khốc: năm 1931 bão phá sập 2/3 nhà cửa trong Thành phố Belize và giết hơn 1.000 người. Năm 1955 bão Janet biến thị trấn Corozal thành bình địa. Sáu năm sau bão Hattie thổi vào miền trung Belize với sức gió hơn 300 km/h và triều cường gây thiệt hại sâu rộng. Sự kiện đó đã thúc đẩy chính phủ dời thủ đô đến Belmopan sâu trong đất liền.

Miền bắc Belize có vũ lượng trung bình khoảng 1350 mm, trong khi miền nam lượng mưa cao hơn, trung bình là 4500 mm. Vào mùa khô từ Tháng Giêng đến Tháng Tư ở miền bắc vũ lượng tụt xuống 400 mm. Mùa khô ở miền nam ngắn hơn, chỉ kéo dài khoảng ba tháng. Nhiệt độ tùy thuộc vào địa lý và cao độ. Vùng duyên hải vì có gió mậu dịch từ biển điều hòa nên mát hơn. Nhiệt độ trung bình vùng biển là 24 °C-27 °C. Lui vào đất liền nhiệt độ cao hơn đôi chút. Ngoại lệ là cao guyên Mountain Pine Ridge tương đối mát mẻ quanh năm. Nói chung thành phần thay đổi theo từng mùa không phải là nhiệt độ mà là vũ lượng và độ ẩm.

Chính trị

[sửa | sửa mã nguồn]
Tòa nhà Quốc hội tại Belmopan

Belize theo chế độ quân chủ lập hiến đại nghị dựa trên hệ thống Westminsterthông luật Anh. Hiến pháp Belize đảm bảo các quyền tự do ngôn luận, báo chí, tôn giáo, đi lại và lập hội. Quân chủ Belize là nguyên thủ quốc gia, hiện tại là Charles III. Toàn quyền là đại diện của quân chủ. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ và lãnh đạo Nội các. Nội các thực hiện quyền hành pháp và tư vấn cho toàn quyền. Thành viên Nội các là thành viên của đảng chiếm đa số trong Quốc hội và thông thường kiêm nhiệm nghị sĩ Quốc hội.

Quốc hội Belize là cơ quan lập pháp lưỡng viện, gồm Hạ việnThượng viện. Hạ viện gồm 31 hạ nghị sĩ được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ năm năm. Thượng viện gồm 12 thượng nghị sĩ do toàn quyền bổ nhiệm. Hạ viện nắm quyền sáng kiến dự luật, trong khi Thượng viện thảo luật dự luật được Hạ viện thông qua.

Tòa án thực hiện quyền tư pháp độc lập.[11]

Các đảng phái chính gồm có: Đảng Thống nhất nhân dân (PUP), Đảng Dân chủ thống nhất (UDP), và các đảng nhỏ khác.

Phân cấp hành chính

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ hành chính Belize

Belize được chia thành 6 khu: Belize, Cayo, Corozal, Orange Walk, Stann Creek, Toledo.

Với diện tích rừng đáng kể, lâm sản, nhất là gỗ nhạc ngựa là nguồn lợi tức chính của Belize trước thế kỷ 20. Từ năm 1900 trở đi thì nền kinh tế chuyển dần từ lâm nghiệp sang nông nghiệp với các đồn điền trái cây, chuốimía đường cung cấp các mặt hàng xuất cảng. Mía chiếm gần phân nửa tổng lượng xuất cảng trong khi nông nghiệp trồng chuối là nguồn cung cấp công ăn việc làm lớn nhất ở Belize.[12]

Năm 2006 ở thị trấn Spanish Lookout phát hiện được mỏ dầu thô. Sự kiện này tạo tiềm năng phát triển kinh tế[13] nhưng kết quả vẫn còn hạn chế. Ước tính đến năm 2007 thì khả năng sản xuất ở mỏ dầu này chỉ có 3.000 thùng/ngày và lượng dầu xuất cảng chỉ khoảng 1.960 thùng/ngày.

Chính sách kinh tế kiệm ước năm 1997 làm suy giảm mức phát triển. Cán cân mậu thương của Belize không cân đối vì giá thị trường chuối và đường xuống thấp trong khi hàng hóa nhập cảng vượt cao hơn. Hiện trạng ngân sách bội chi cũng làm giảm mãi lực của đồng dollar Belize so với các ngoại kim. Đến năm 1999 thì nền kinh tế khả quan hơn, có dấu hiệu đạt mức tăng trưởng 4% phần vì kỹ nghệ du lịch và xây cất.

Từ khi độc lập đến nay đồng dollar Belize có hối xuất nhất định căn cứ theo đồng Mỹ kim là hai dollar Belize ăn một Mỹ kim.

Tính đến năm 2016, GDP của Belize đạt 1.770 USD, đứng thứ 169 thế giới và đứng thứ 7 khu vực Trung Mỹ.

Nhân khẩu

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2022, dân số của Belize là 397.483 người,[4] sinh suất là 17,8 ca sinh / 1.000 người, tử suất là 6,3 ca tử vong / 1.000 người.[14] Tổng tỷ suất sinh của Belize là 2,010 con / phụ nữ vào năm 2023.[15] Từ năm 1980, dân số người Hispano/Mestizo bắt đầu vượt qua dân số người Creole do nhiều người Creole di cư đến Hoa Kỳ cùng với sự gia tăng sinh suất của người Mestizo và nhập cư từ Mỹ Latinh.[16]

Dân tộc

[sửa | sửa mã nguồn]
[17]
Thành phần dân tộc tại Belize
Dân tộc %
Người Hispano/Mestizo
  
51.73%
Người Creole
  
25.19%
Người Maya
  
11.15%
Người da trắng
  
4.57%
Garifuna
  
3.99%
Người gốc Ấn Độ
  
1.54%
Dân tộc khác
  
0.57%
Người gốc Á
  
0.49%
Không xác định
  
0.77%

Người da trắng lai thổ dân da đỏ tức người Mestizo chiếm 48.7%, người Creole 24.9%, người Maya 10.6%, người Garifuna 6.1%, các dân tộc khác 9.7%. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh, ngoài ra còn có tiếng Tây Ban Nha, và các ngôn ngữ khác như tiếng Maya, tiếng Garifuna, tiếng Creole Belize.

Tôn giáo

[sửa | sửa mã nguồn]
Tôn giáo tại Belize (2010)
Tôn giáo tỷ lệ
Công giáo Roma
  
40.1%
Tin lành
  
31.8%
Nhân chứng Jehovah
  
1.7%
Mormon
  
0.4%
Phi Cơ đốc giáo
  
0.1%
Khác
  
9.6%
Không tôn giáo
  
15.6%
Không xác định
  
0.3%

Tự do tôn giáo được đảm bảo ở Belize. Theo điều tra dân số năm 2010,[18] 40.0% dân số của Belizeans là người Công giáo La Mã, 31,7% là người Tin Lành (8,5% Phong trào Ngũ Tuần; 5,5% Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm; 4,6% Anh giáo; 3,8% Mennonite; 3,6% Báp-tít, 2,9% Methodist, 2,8% Nazarene), 1,7% là Nhân chứng Giê-hô-va, 10,2% tuân theo các tôn giáo khác (tôn giáo Maya, tôn giáo Garifuna, Obeah và Myalism, và thiểu số người theo đạo Mặc Môn, Ấn giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Baha'is, Rastafarians và khác) và 15,6% xưng là vô thần.

Tuy là một quốc gia Công giáo chiếm đa số (khoảng 49% dân số năm 2000, 57% năm 1991), truyền thống Công giáo đang dần dần bị xói mòn trong những thập kỷ qua bởi sự phát triển của giáo hội Tin Lành, các tôn giáo khác và những người không tôn giáo.[19] Giáo hội Chính thống giáo Hy Lạp đã có mặt tại Santa Elena.[20] Ấn Độ giáo được mang đến bởi hầu hết người nhập cư Ấn Độ.

Giáo dục

[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình giáo dục của Belize bắt buộc là 10 năm. Phần lớn các trường học do các giáo hội điều hành và được Nhà nước đài thọ. Một số trường công dạy miễn phí cho học sinh nghèo. Một số học sinh không thể theo hết bậc tiểu học. Số học sinh vào trung học bị hạn chế và phụ thuộc vào kì thi tuyển sinh quốc gia. Học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học có thể thi vào các trường cao đẳng hoặc đại học.

Y tế Belize có cả hệ thống chữa bệnh công và tư để chăm sóc sức khoẻ toàn dân. Có một bệnh vlện lớn ở Belize City. Ngoài ra mỗi huyện đều có một bệnh viện nhỏ

  1. ^ /bɪˈlz/ bil-EEZ or /bɛˈlz/ bel-EEZ; tiếng Belize Kriol English: Bileez.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b "Belize". The World Factbook. Central Intelligence Agency. ngày 8 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2025.
  2. ^ Statistical Institute of Belize (2022). Languages spoken in Belize according to the 2022 Census (PDF) (Báo cáo) (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
  3. ^ "2022 Population and Housing Census". Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2024.
  4. ^ a b "Statistical Institute of Belize Presents Key Findings of the 2022 Population and Housing Census" (PDF). Statistical Institute of Belize. ngày 8 tháng 4 năm 2024. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2024.
  5. ^ "Belize § Geography". The World Factbook (ấn bản thứ 2026). Cơ quan Tình báo Trung ương. ngày 14 tháng 8 năm 2019. (Archived 2019 edition.)
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên censusarea
  7. ^ a b c d "World Economic Outlook Database, October 2024 Edition. (Belize)". IMF.org. International Monetary Fund. ngày 10 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2025.
  8. ^ "Income Gini coefficient". United Nations Development Programme. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2019.
  9. ^ "Human Development Report 2025" (PDF) (bằng tiếng Anh). United Nations Development Programme. ngày 3 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2025.
  10. ^ BERDS Topography
  11. ^ "Belize 1981 (rev. 2001)". Constitute. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2015.
  12. ^ Burnett, John (2006). Maya Homeland. employerLarge Oil Field Is Found in Belize; the Angling Begins, 4 tháng 1 năm 2007.
  13. ^ Burnett, John (2006). Maya Homeland. Large Oil Field Is Found in Belize; the Angling Begins, 4 tháng 1 năm 2007.
  14. ^ "Belize". Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2024.
  15. ^ "Belize BZ: Total Fertility Rate: Children per Woman". Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2024.
  16. ^ Woods, Louis A.; Perry, Joseph M.; Steagall, Jeffrey W. (1997). "The Composition and Distribution of Ethnic Groups in Belize: Immigration and Emigration Patterns, 1980–1991". Latin American Research Review. 32 (3): 63–88. doi:10.1017/S0023879100038048. JSTOR 2503998. S2CID 146531217.
  17. ^ "2022 Census".
  18. ^ "Belize Demographics Country Profile 2013". Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2015.
  19. ^ "Bản sao đã lưu trữ" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013.
  20. ^ http://www.orthodoxchurch.bz/

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]