Hải quân Hoàng gia Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hải quân Hoàng gia Anh
x200px
Thành lập 1546[1]
Quốc gia  Anh Quốc[nb 1]
Phân loại Hải quân
Chức năng Hải chiến
Quy mô 33,280 Regular
3,040 Maritime Reserve
7,960 Royal Fleet Reserve[nb 2]
75 commissioned ships, 87 including RFA[nb 3]
174 aircraft[2]
Bộ phận của Her Majesty's Naval Service
Naval Staff Offices Whitehall, Luân Đôn, Anh, Vương quốc Anh.
Tên khác Senior Service
Khẩu hiệu "Si vis pacem, para bellum" (tiếng Latinh)
"If you wish for peace, prepare for war"
Colours Red and white         
Hành khúc "Heart of Oak"
Fleet 1 ship of the line
2 aircraft carriers (1 on sea trials & 1 under construction)
11 submarines
2 amphibious transport docks
6 destroyers
13 frigates
5 offshore patrol vessels
13 mine countermeasures vessels
18 fast patrol boats
4 survey ships
1 ice patrol ship
1 static ship
Website royalnavy.mod.uk
Các tư lệnh
Lord High Admiral Prince Philip, Duke of Edinburgh
First Sea Lord Admiral Sir Philip Jones KCB
Second Sea Lord Vice Admiral Tony Radakin CB
Fleet Commander Vice Admiral Jerry Kyd
Huy hiệu
White Ensign[nb 4]
Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Naval jack[nb 5]
Flag of the United Kingdom.svg
Pennant
Royal Navy commissioning pennant (with outline).svg
Queen's Colour
Queen's Colour for the Royal Navy.svg
Phi cơ sử dụng
Cường kích Wildcat, F-35B Lightning II
Tiêm kích F-35B Lightning II
Tuần tra Wildcat, Merlin
Do thám Wildcat, Merlin, ScanEagle
Huấn luyện Tutor, Hawk
Vận tải Merlin, Dauphin
Lính thủy đánh bộ Hoàng gia (Royal Marine) đang diễn tập tác chiến tại môi trường rừng nhiệt đới ở Belize

Hải quân Hoàng gia Anh là lực lượng lâu đời nhất trong Lực lượng Vũ trang Anh. Từ đầu thế kỷ 18 đến giữa thế kỷ 20, Hải quân Anh là lực lượng hải quân lớn nhất và mạnh nhất trên thế giới, đóng vai trò chủ yếu trong việc thiết lập nên một Đế quốc Anh có sức mạnh vượt trội trong thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hải quân Hoàng gia có khoảng 900 tàu hoạt động. Trong Chiến tranh lạnh, nó đã thay đổi nhiệm vụ chính, trở thành lực lượng chống tàu ngầm, chống lại các tàu ngầm của Liên Xô. Khi Liên Xô tan rã, vai trò của nó trong thế kỷ 21 đã trở lại như ban đầu và tập trung vào hoạt động chủ yếu ở các vùng nước sâu trên toàn cầu.

Hải quân Hoàng gia Anh hiện nay, xét về trọng lượng của các hạm tàu, là lực lượng hải quân lớn thứ 2 trong NATO.[3] Hải quân Anh hiện có khoảng 91 hạm tàu đang hoạt động, gồm các tàu sân bay, tàu ngầm hạt nhân, các tàu chống mìn và các tàu tuần tra.

Các hạm đội[sửa | sửa mã nguồn]

Xét về số lượng tàu và kích cỡ các tàu, Hải quân Hoàng gia đã bị suy yếu từ những năm 1960. Các số liệu sau, không tính tới việc tăng lên về mặt công nghệ hiện đại trong tàu hải quân, mà chỉ đưa ra sự suy giảm chung của các hạm đội.[4] Bảng sau là sự suy giảm về số lượng các tàu từ năm 1960.[5]

Năm[5] Tàu ngầm Tàu sân bay Tàu tấn công Tàu chiến mặt nước Tàu phá mìn Tàu tuần tiễu Tổng
Tổng SSBN SSN SS & SSK Tổng CV CV(L) Tổng Tàu tuần dương Destroyers Frigate
1960 48 0 0 48 9 6 3 0 145 6 55 84 202
1965 47 0 1 46 6 4 2 0 117 5 36 76 170
1970 42 4 3 35 5 3 2 2 97 4 19 74 146
1975 32 4 8 20 3 1 2 2 72 2 10 60 43 14 166
1980 32 4 11 17 3 0 3 2 67 1 13 53 36 22 162
1985 33 4 14 15 4 0 4 2 56 0 15 41 45 32 172
1990 31 4 17 10 3 0 3 2 49 0 14 35 41 34 160
1995 16 4 12 0 3 0 3 2 35 0 12 23 18 32 106
2000 16 4 12 0 3 0 3 3 32 0 11 21 21 23 98
2005 15 4 11 0 3 0 3 2 28 0 9 19 16 26 90
2006 14 4 10 0 2 0 2 3 25 0 8 17 16 22 82

Vai trò hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Hiên nay Hải quân Hoàng gia Anh có nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của Vương quốc Anh cả trong và ngoài nước, thực hiện chính sách quốc phòngchính sách đối ngoại của chính phủ Hoàng gia Anh. Hải quân Anh cũng đóng vai trò quan trọng trong sự đóng góp của Anh đối với NATO.[6].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tittler, Robert; Jones, Norman L. (15 tháng 4 năm 2008). A Companion to Tudor Britain (bằng tiếng Anh). John Wiley & Sons. tr. 193. ISBN 9781405137409. 
  2. ^ Military Aircraft:Written question – 225369 (House of Commons Hansard), parliament.uk, March 2015
  3. ^ “Chapter II: REGIONAL OVERVIEW AND CONTRIBUTIONS OF KEY ALLIES: Contributions of Selected NATO Allies”. Allied Contributions to the Common Defense: A Report to the United States Congress by the Secretary of Defense. United States Department of Defense. Tháng 3 năm 2001. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2006. 
  4. ^ Vice-Admiral Sir Jeremy Blackham (ngày 13 tháng 3 năm 2007). “The Royal Navy at the Brink” (PDF). 1. Royal United Services Institute. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2007. 
  5. ^ a ă created from data found at “UK defence statistics”. MOD. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2007.  and Conways All the World's Fighting Ships 1947–1995
  6. ^ “Joint operations”. Royal Navy. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2007. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “nb”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="nb"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu