Nữ hoàng Victoria

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Victoria của Anh)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Victoria
Queen Victoria by Bassano.jpg
Nữ hoàng của Vương quốc Anh và Bắc Ireland(more...)
Tại vị 20 tháng 6 năm 183722 tháng 1 năm 1901
Đăng quang 28 tháng 6 năm 1838
Tiền nhiệm William IV
Thủ tướng Xem danh sách
Kế nhiệm Edward VII
Nữ hoàng Ấn Độ
Tại vị 1 tháng 5 năm 187622 tháng 1 năm 1901
Delhi Darbar 1 tháng 1 năm 1877
Phó vương Xem danh sách
Kế nhiệm Edward VII
Thông tin chung
Phối ngẫu Albert xứ Saxe-Coburg và Gotha (kết hôn. 1840; chết. 1861)
Hậu duệ
Tên đầy đủ Alexandrina Victoria
Hoàng tộc Hanover
Thân phụ Hoàng tử Edward, Công tước Kent và Strathearn
Thân mẫu Công nương Victoria xứ Saxe-Coburg-Saalfeld
Sinh 24 tháng 5 năm 1819
Cung điện Kensington, London, Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland
Mất 22 tháng 1 năm 1901 (81 tuổi)
Osborne House, Isle of Wight, Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland
An táng Frogmore, Windsor
Chữ ký của Victoria

Bản mẫu:House of Hanover

Victoria (Alexandrina Victoria; 24 tháng 5, 1819 – 22 tháng 1, 1901) là Nữ vương của Nước Anh thống nhất Liên hiệp Anh và Ireland từ 20 tháng 6, 1837 đến khi bà qua đời. Từ ngày 1 tháng 5 năm 1876, bà mang thêm danh hiệu Nữ hoàng Ấn Độ.

Victoria là con gái của Hoàng tử Edward, Công tước xứ Kent và Strathearn, con trai thứ tư của vua George III. Cả Công tước nhà Kent và Vua George III đều chết năm 1820, và Victoria lớn lên dưới sự giám hộ chặt chẽ của người mẹ gốc Đức là Công nương Victoria xứ Saxe-Coburg-Saalfeld. Bà kế vị ngai vàng ở tuổi 18, sau khi ba người anh của cha bà đều đã chết mà không để lại người con hợp pháp nào. Ở Vương quốc Anh từ lâu đã hình thành chế độ quân chủ lập hiến, theo đó quân vương bị hạn chế rất nhiều quyền cai trị trực tiếp. Nhưng bằng một cách kín đáo, Victoria đã cố gắng gây ảnh hưởng đến các chính sách của chính phủ và bổ nhiệm các Bộ trưởng; một cách công khai, bà đã trở thành một biểu tượng quốc gia, là hình mẫu cho các quy tắc nghiêm ngặt về phẩm hạnh cá nhân.

Victoria kết hôn với người anh họ của bà, Hoàng thân Albert xứ Saxe-Coburg và Gotha, năm 1840. chín đứa con của họ đã kết hôn với các thành viên hoàng tộc trên khắp lục địa, ràng buộc các hoàng gia với nhau và mang đến cho bà biệt hiệu "bà ngoại của châu Âu". Sau khi Albert chết vào năm 1861, Victoria đã thương nhớ chồng một cách sâu sắc và tránh xuất hiện trước công chúng. Như kết quả từ sự ẩn dật của bà, chủ nghĩa cộng hòa được dịp trỗi dậy, nhưng trong nửa cuối triều đại, danh tiếng của Victoria được khôi phục. Lễ kỉ niệm vàng và Kim cương của bà là những đại lễ công cộng có quy mô lớn.

Thời đại của bà kéo dài 63 năm và 7 tháng được gọi là Thời đại Victoria. Đó là một giai đoạn được đánh dấu bởi một loạt tiến bộ về công nghiệp, văn hóa, chính trị, khoa học, và quân sự trên khắp Vương quốc Anh, được đánh dấu bởi sự mở rộng đáng kể của Đế chế Anh. Bà cũng là vị quân vương Anh cuối cùng của Nhà Hanover. Con trai và người kế tự của bà, Edward VII, thuộc về Nhà Saxe-Coburg và Gotha, lấy theo thân phận của phụ thân ông ta.

Dòng dõi và gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Cha của Victoria là Edward Augustus, Công tước xứ Kent và Strathearn, con trai thứ tư của George III và là em trai của William IV của Anh. Trong danh sách kế vị, cháu gái của Edward, Công chúa Charlotte của xứ Wales là người cháu hợp pháp duy nhất của George III. Cái chết của công chúa vào năm 1817 mau chóng trở thành một cuộc khủng hoảng trong việc thừa kế ngai vàng tại Anh, và điều đó đã tạo ra sức ép đối với Công tước xứ Kent buộc ông phải kết hôn và có con.

Vào năm 1818, ông cưới Công chúa Victoria của Saxe-Coburg-Saalfeld, một công chúa người Đức có anh trai là Leopold, chồng của công chúa Charlotte. Đứa con duy nhất của công tước và công nương Victoria, sinh vào lúc 4h15 ngày 24 tháng 5, năm 1819 tại cung điện Kensington ở Luân Đôn.[1]

Victoria aged 4
Công chúa Victoria năm 4 tuổi.
Được vẽ bởi Stephen Poyntz Denning, 1823

Công chúa được rửa tội riêng bởi Tổng giám mục xứ Canterbury, Charles Manners-Sutton, vào ngày 24 tháng 6 năm 1819 tại cung điện Kensington.[2] Công chúa được đặt tên là Alexandrina, theo tên của cha đỡ đầu, Hoàng đế Aleksandr I của Nga, và theo tên Victoria của mẹ.

Khi sinh ra, Victoria đứng thứ 5 trong dòng dõi kế thừa sau cha mình và 3 người anh trai là: Hoàng tử Nhiếp chính, Công tước xứ York và Công tước xứ Clarence (sau là vua William IV).[3] Hoàng tử Nhiếp chính xa lánh vợ mình và Công nương xứ York lúc đó đã 52 tuổi, vì thế hai người anh trai gần như không thể có thêm con được nữa. Công tước xứ Kent và Clarence kết hôn vào cùng ngày 12 tháng trước khi Victoria sinh ra, nhưng cả hai đứa con gái của nhà Clarence (sinh vào hai năm liên tiếp 1819 và 1820) đều chết khi mới sinh. Cha và ông của công chúa mất vào năm 1820, và công tước xứ York chết vào năm 1827. Trước cái chết của chú mình là vua George IV vào năm 1830, công chúa trở thành người thừa kế hợp pháp cho vị vua còn sống kế tiếp, đồng thời là chú của công chúa, vua William IV. Đạo luật Nhiếp chính năm 1830 tạo ra một điều khoản đặc biệt cho Công nương xứ Kent có thể làm nhiếp chính trong troừng hợp William chết trong khi Victoria vẫn còn là một đứa trẻ.[4] Vua William không tin tưởng vào khả năng của nữ Công tước để làm nhiếp chính, và vào năm 1836 ông tuyên bố trước mặt nữ Công tước rằng ông muốn sống cho đến sinh nhật lần thứ 18 của Victoria để bà không thể nắm được quyền nhiếp chính.[5]

Người thừa kế hợp pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Công chúa Victoria với con chó Dash vào năm 1833
Vẽ bởi George Hayter

Sau này Victoria đã miêu tả thời thơ ấu của mình "khá u sầu".[6] Mẹ của bà cực kỳ bảo vệ và che chở bà, và Victoria được nuôi dưỡng cách ly với những đứa trẻ khác dưới một hệ thống gọi là "Hệ thống Kensington", một tập hợp những điều lệ và nghi thức được đặt ra bởi Công nương và tên quản gia tham vọng và độc đoán của bà, ông John Conroy, người bị đồn đại là nhân tình của Công nương.[7] Hệ thống này không cho phép công chúa gặp những người mà mẹ công chúa và Conroy xem là có thể gây phiền phức (bao gồm hầu hết gia đình bên nội của công chúa), và được đặt ra để làm cho công chúa trở nên yếu ớt và phải phụ thuộc vào bọn họ.[8] Công nương lảng tránh cung điện của nhà vua bởi vì những đứa con khác của Vua xem bà ta là cái gai trong mắt,[9] và có lẽ sẽ làm xuất hiện Giáo lý thời Victorian bằng cách khăng khăng rằng con gái của bà tránh bất cứ sự xuất hiện nào của những biểu hiện tình dục không đứng đắn.[10] Victoria cùng ngủ chung phòng với mẹ mình mỗi đêm, học với gia sư riêng theo một thời khóa biểu đều đặn, và dành giờ chơi với những con búp bê và chú chó Dash giống Xpanhơn.[11] Công chúa học tiếng Pháp, Đức, Ý và tiếng Lantin,[12] nhưng công chúa chỉ nói tiếng Anh ở nhà.[13]

Victoria's sketch of herself
Chân dung tự họa năm 1835

Vào năm 1830, Công nương xứ Kent và Conroy dẫn Victoria đến trung tâm Anh để thăm Đồi Malvern, dừng chân ở các thị trấn và dinh thự lớn trên đường đi.[14] Những chuyến đi tương tự tới nhiều vùng của Anh và xứ Wales được thực hiện vào các năm 1832, 1833, 1834, và 1835. Nhằm làm Vua William phải bực mình, Victoria luôn được chào đón nồng nhiệt ở những nơi dừng chân.[15] William so sánh những chuyến đi này với những chuyến du hành hoàng gia của vua và ông lo rằng họ đang vẽ nên chân dung của Victoria như là một đối thủ của ông hơn là một người kế thừa hợp pháp.[16] Victoria không thích những chuyến đi này cho lắm, những sự xuất hiện trước công chúng liên tục như vậy khiến cô bé mệt mỏi và đổ bệnh, cô bé hầu như không có thời gian để nghỉ ngơi.[17] Công chúa đã phản đối với lý do là không được nhà Vua chấp thuận, nhưng mẹ công chúa gạt bỏ những phàn nàn của đức vua vì cho rằng ông ta chỉ ghen tức, và bắt Victoria tiếp tục những chuyến du hành này.[18] Tại thị trấn Ramsgate vào tháng 10 năm 1835, Victoria bị sốt rất nặng, nhưng Conroy lại gạt bỏ chuyện bị ốm và cho rằng đó chỉ là bệnh giả vờ của trẻ con.[19] Trong lúc Victoria bị ốm, Conroy và Công nương đã không thành công trong việc thúc ép công chúa cho ông ta làm thư ký riêng của công chúa.[20] Đến lúc là một thiếu nữ, Victoria đã kịch liệt phản đối những cố gắng của mẹ mình và Conroy để bổ nhiệm ông ta làm thư ký riêng.[21] Khi trở thành Nữ hoàng, bà đã cấm ông ta không được xuất hiện trước mặt mình, nhưng ông ta vẫn còn ở tại nhà của công nương.[22]

Đến năm 1836, anh trai của công nương là Leopold, là vua của Bỉ từ năm 1831, mong cháu gái của ông là công chúa kết hôn với cháu trai mình là Hoàng tử Albert xứ Saxe-Coburg và Gotha.[23] Leopold, mẹ của Victoria, và cha của Albert (Ernest I, Công tước xứ Saxe-Coburg và Gotha) là anh em. Leopold sắp xếp cho mẹ của Victoria mời bà con ở xứ Coburg đến thăm bà vào tháng 5 năm 1836, với mục đích là giới thiệu Albert cho Victoria.[24] William IV lại không chấp thuận bất cứ hôn nhân nào với nhà Coburg, và thay vào đó ông lại muốn Victoria kết hôn với Hoàng tử Alexander của Hà Lan, con trai thứ hai của Hoàng tử xứ Orange.[25] Victoria cảnh giác với những kế hoạch hôn nhân và đánh giá một cách kỹ càng về sự phô trương những tư cách của các hoàng tử.[26] Theo nhật ký của công chúa, bà rất thích thú với nhóm của Albert ngay từ đầu. Sau chuyến thăm này, bà viết "Albert thật là đẹp trai, tóc của anh ấy giống với màu tóc của ta, mắt của anh ấy thật to và có màu xanh, và anh ấy còn có một cái mũi đẹp và một đôi môi rất ngọt ngào cùng những hàm răng chắc khỏe; nhưng sự hấp dẫn của gương mặt anh ấy chính là nét mặt, đó là thứ thú vị nhất."[27] Alexander thì lại "quá đơn điệu".[28]

Victoria viết thư cho chú của mình là Leopold, người mà Victoria xem là "vị cố vấn giỏi và tốt bụng nhất",[29] để cảm ơn ông "cho triển vọng về một hạnh phúc "lớn lao" mà bác đã mang lại cho cháu, trong con người của Albert thân yêu... Anh ấy sở hữu mọi phẩm chất mà cháu ao ước và làm cho cháu hoàn toàn hài lòng. Anh ấy thật là nhạy cảm, thật tốt bụng, thật là giỏi, và cũng thật dễ thương. Bên cạnh đó anh ấy có vẻ bề ngoài dễ chịu và thú vị mà bác có thể thấy ngay."[30] Tuy nhiên vào năm 17 tuổi, cho dù Victoria rất thích Albert, nhưng công chúa chưa sẵn sàng để kết hôn. Các bên chưa thể thực hiện một cam kết chính thức, nhưng cho rằng việc kết hôn sẽ diễn ra trong thời gian thích hợp.[31]

Thời kì đầu trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Victoria nhận tin mình được kế tục ngai vàng từ Huân tước Francis Conyngham (trái) và William Howley, Tổng giám mục Canterbury.

Victoria được 18 tuổi vào ngày 24 tháng 5 năm 1837, và do đó vấn đề nhiếp chính không cần phải xem xét nữa. Vào ngày 20 tháng 6 năm 1837, William IV chết vào năm 71 tuổi, và Victoria trở thành Nữ hoàng của Vương quốc Anh. Trong nhật ký của mình, bà viết, "Tôi được mẹ đánh thức vào lúc 6 giờ, bà nói Tổng giám mục xứ CanterburyHuân tước Conyngham đang ở đây và muốn được gặp tôi. Tôi ra khỏi giường và vào phòng khách (chỉ khoác thêm áo choàng) và đi một mình, và gặp họ. Sau đó Huân tước Conyngham cho tôi biết rằng người Chú đáng thương của tôi, nhà Vua, đã không còn nữa, và ông chết vào 2 giờ 12 phút sáng nay, và do đó TôiNữ hoàng."[32] Các văn bản chính thức chuẩn bị cho ngày đầu tiên lên ngôi của Nữ hoàng cho rằng tên bà là Alexandrina Victoria, nhưng tên thánh của bà không làm bà ưng ý và không được sử dụng lại lần nữa.[33]

Từ năm 1714, các vị vua nước Anh kiêm quyền cai trị lãnh địa tuyển hầu (về sau là vương quốc) Hanover ở Đức, nhưng dưới Đạo luật Salic, phụ nữ không được có mặt trong dòng dõi kế vị của Hanover. Trong khi Victoria được thừa hưởng toàn bộ lãnh thổ và thuộc địa của Anh, Hanover đã trao chức vua cho người chú ít tiếng tăm của bà là Công tước xứ Cumberland và Teviotdale, chính là vua Ernest Augustus I của Hanover. Ông là người kế vị hợp pháp cho đến khi bà kết hôn và có con.[34]

Chân dung đăng quang được vẽ bởi George Hayter

Trong thời gian bà lên ngôi, chính phủ được lãnh đạo bởi thủ tướng chính phủ thuộc đảng Whig, Huân tước Melbourne, ông đã ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến vị Nữ hoàng thiếu kinh nghiệm chính trị, và bà tin cẩn trao cho ông chức cố vấn.[35] Charles Greville cho rằng ông Melbourne góa vợ và không có con này "thích thú một cách nồng nhiệt đối với Nữ hoàng bởi vì có lẽ ông xem bà là đứa con gái mà ông đã từng có trước đây", và Victoria có lẽ cũng xem ông như một người cha.[36] Lễ đăng quang Nữ hoàng diễn ra vào ngày 28 tháng 6 năm 1838, và bà trở thành vị quốc chủ đầu tiên sinh sống tại Cung điện Buckingham.[37] Bà hưởng thu nhập của các công tước Lancaster và Cornwall, và được cấp tiền nghị viện 385 000 bảng một năm. Bà rất cẩn trọng khi trả các khoản nợ cho cha mình.[38]

Vào buổi đầu triều đại, Victoria rất được quần chúng yêu mến,[39] nhưng danh tiếng của bà đã phải trải qua một mưu đồ triều đình vào năm 1839 khi một trong những thị nữ của mẹ bà, Quý bà Flora Hastings, với cái bụng ngày càng to (thực chất là bị khối u) và bị đồn đại rằng bà đang mang thai ngoài giá thú với Ông John Conroy.[40] Victoria đã tin những tin đồn này.[41] Nữ hoàng rất ghét Conroy, và khinh miệt "Bà Flora ghê tởm" ấy,[42] bởi vì bà ta đã thông đồng với Conroy và Công nương xứ Kent đặt ra Hệ thống Kensington.[43] Ban đầu, Bà Flora từ chối một cuộc kiểm tra sức khỏe rõ ràng, cho đến giữa tháng hai thì bà cũng đồng ý, và kết quả là Bà Flora vẫn còn trinh trắng.[44] Conroy, gia đình Hasting và Đảng Bảo thủ đối lập đã tổ chức một cuộc vận động đông đảo và lôi kéo Nữ hoàng trong việc truyền những tin đồn không đúng sự thật về Bà Flora.[45] Khi Bà Flora chết vào tháng 7, khám nghiệm tử thi phát hiện một khối u lớn trong gan của bà đã sưng to ra phần bụng.[46] Khi xuất hiện trước công chúng, Victoria đã bị chế giễu và gọi là "Bà Melbourne".[47]

Vào năm 1839, Melbourne từ chức sau khi Đảng Cấp tiến và Đảng Bảo Thủ (cả hai đảng mà Victoria rất ghét) bỏ phiếu cho một dự luật để hủy bỏ hiến pháp ở Jamaica. Dự luật xóa bỏ quyền lực chính trị của các chủ đồn điền đang kháng cự những phương sách liên quan đến việc bãi bỏ nô lệ.[48] Nữ hoàng đã ủy thác cho một thành viên của Đảng Bảo thủ, ông Robert Peel, thành lập một Chính phủ mới. Vào thời điểm đó, theo thường lệ thì Thủ tướng sẽ bổ nhiệm những thành viên thường là đồng minh chính trị của ông ta và vợ chồng của họ. Nhiều Thị nữ của Nữ hoàng là vợ của những thành viên đảng Whig, và Peel có dự tính thay thế họ bằng những bà vợ của thành viên đảng Bảo thủ. Vào thời điểm mà sau này gọi là "cuộc khủng hoảng phòng ngủ", Victoria nghe theo lời của Melbourne, đã phản đối sự xóa bỏ đó của Thủ tướng. Peel từ chối cầm quyền dưới sự áp đặt hạn chế của Nữ hoàng, và do đó ông đã từ bỏ phận sự của mình, cho phép Melbourne hồi phục chức vụ.[49]

Kết hôn[sửa | sửa mã nguồn]

Painting of a lavish wedding attended by richly dressed people in a magnificent room
Đám cưới của Victoria và Albert
Vẽ bởi George Hayter

Mặc dù là nữ hoàng, nhưng một người phụ nữ trẻ chưa lập gia đình như Victoria theo tục lệ thường phải ở với mẹ, mặc cho sự bất hòa giữa hai mẹ con do Hệ thống Kensington cộng với việc mẹ Nữ hoàng vẫn tiếp tục dựa dẫm vào Conroy.[50] Mẹ của bà bị đưa đến một căn phòng biệt lập trong Cung điện Buckingham, và Victoria thường từ chối gặp mẹ mình.[51] Khi Victoria phàn nàn với Melbourne rằng sự gần gũi như thế với mẹ có thể làm cho bà "dằn vặt đau khổ trong nhiều năm", Melbourne rất thông cảm nhưng ông nói rằng điều đó có thể tránh được bằng hôn nhân, cái mà Victoria gọi là một "khả năng bất ngờ" (nguyên văn: schocking alternative).[52] Bà có vẻ lấy làm hứng thú về học thức của Albert cho vai trò tương lai của ông chính là người chồng của bà, nhưng bà kháng cự lại những nỗ lực đẩy bà vào hôn nhân.[53]

Victoria tiếp tục khen ngợi Albert trong chuyến viếng thăm thứ hai của ông vào tháng 10 năm 1839. Albert và Victoria đã yêu mến nhau và Nữ hoàng cầu hôn ông vào ngày 15 tháng 10 năm 1839, chỉ năm ngày sau khi ông đến Windsor.[54] Họ đã kết hôn vào ngày 10 tháng 2 năm 1840, tại Nhà thờ Hoàng gia của Cung điện St. Jame, Luân Đôn. Bà dành cả buổi tối sau lễ cưới của họ nằm trên giường ngủ trong cơn nhức đầu, nhưng vẫn kịp viết một cách đê mê trong cuốn nhật ký của chính bà:

Ta CHƯA BAO GIỜ, CHƯA BAO GIỜ có một buổi tối như thế nào!!! Albert YÊU DẤU YÊU DẤU NHẤT NHẤT CỦA TA... tình yêu và tình cảm quá mức anh trao cho ta nặng trĩu tình yêu và hạnh phúc mà ta không bao giờ có thể hi vọng được cảm nhận như thế trước đây! Anh siết chặt ta trong cánh tay của anh ấy, và chúng ta đã hôn nhau lần nữa và lần nữa! Vẻ đẹp của anh, sự ngọt ngào và lịch lãm của anh - thật sự ta không bao giờ có thể cảm ơn đủ khi có một Người chồng!... để có thể được gọi bằng những cái tên âu yếm, ta chưa bao nghe ai gọi ta như thế bao giờ - là niềm hạnh phúc và xa hơn là niềm tin! Ôi! Đây là ngày hạnh phúc nhất trong đời ta![55]

Albert trở thành một cố vấn chính trị quan trọng đồng thời là người bạn đời của Nữ hoàng, thế chỗ cho Huân tước Melbourne vốn là một nhân vật có ảnh hướng lớn lao trong nửa đầu đời của Nữ hoàng.[56] Mẹ của Victoria đã bị đuổi ra khỏi cung điện đến Nhà Ingestre tại Quảng trường Belgrave. Sau khi Công chúa Augusta qua đời vào năm 1840, mẹ của Victoria bị chuyển đến cả Nhà Clarence và Frogmore.[57] Nhờ sự hòa giải của Albert mà mối quan hệ giữa hai mẹ con dần dần được cải thiện[58]

Tranh in thạch đương đại vẽ cảnh Edward Oxford đang cố ám sát Victoria vào năm 1840

Trong thời gian Victoria mang thai đứa con đầu tiên vào năm 1840, trong những tháng đầu tiên kết hôn, Edward Oxford lúc đó mới mười tám tuổi đã cố gắng ám sát bà khi bà đang ngồi xe ngựa với Hoàng tử Albert trên đường đến thăm mẹ. Oxford đã bắn hai phát súng, nhưng cả hai lần đều không trúng. Hắn ta đã bị gán cho tội danh phản quốc, nhưng lại được trắng án vì người ta cho rằng hắn bị điên.[59] Hậu quả trực tiếp của cuộc tấn công chính là sự nổi tiếng của Victoria ngày càng cao, giảm thiểu những sự bất bình bấy lâu trong vụ việc của thị nữ Hastings và cuộc khủng hoảng giường ngủ.[60] Con gái của bà cũng tên là Victoria, sinh vào ngày 21 tháng 11 năm 1840. Nữ hoàng ghét việc mang thai,[61] bà chán ghét việc cho con bú,[62] và nghĩ rằng những đứa bé mới sinh đều xấu xí.[63] Tuy vậy, bà và Albert tiếp tục có thêm 8 đứa con.

Gia đình Victoria được quản lý bởi quản gia từ thời nhỏ của Victoria là Nữ nam tước Louise Lehzen đến từ Hanover. Lehzen có một sức ảnh hưởng lớn đến Victoria, và đã khuyến khích bà chống lại Hệ thống Kensington.[64] Tuy nhiên Albert lại cho rằng Lehzen không có trình độ, và sự quản lý tồi tệ của bà đe dọa cho sức khỏe con gái ông. Sau một loạt những cuộc tranh cãi điên tiết giữa Victoria và Albert về vấn đề này, Lehzen được cho về hưu, và mối quan hệ thân thiết giữa Nữ hoàng và bà quản gia xem như chấm dứt.[65]

1842–1860[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung vẽ bởi Franz Xaver Winterhalter, 1843

Ngày 29 tháng 5 năm 1842, lúc Victoria đang ngồi trên xe ngựa diễu hành qua The Mall, London, thì John Francis đã nhắm bắn vào vai bà bằng một khẩu súng lục, nhưng không trúng, ông ta đã trốn thoát. Ngày hôm sau, Victoria cũng đi theo đúng lộ trình trên, mặc dù xe đi nhanh hơn và đông người hộ tống hơn, nhằm khiêu khích Francis thực hiện âm mưu lần thứ hai để vây bắt ông ta. Theo kế hoạch, Francis nhắm súng vào bà, nhưng ông ta bị khống chế bởi các cảnh sát mặc thường phục, và bị kết tội phản quốc. Ngày 3 tháng 7, hai ngày sau khi án tử hình dành cho Francis được giảm thành khổ sai chung thân, John William Bean cũng cố gắng ám sát nữ hoàng bằng một khẩu súng, nhưng khẩu súng nhét đầy giấy và thuốc lá, và có quá ít thuốc súng.[66] Edward Oxford đã được tuyên bố trắng án vào năm1840. và Bean bị kết án 18 tháng tù giam.[67] Trong một cuộc tấn công tương tự năm 1849, một người thất nghiệp từ Ireland là William Hamilton bắn một khẩu súng lục chứa thuốc bột vào xe ngựa của Victoria khi bà đang diễu hành qua Constitution Hill, London.[68] Năm 1850, Nữ hoàng bị thương khi bị tấn công bởi một cựu sĩ quan bị nghi là mắc chứng rối loạn thần kinh, Robert Pate. Khi Victoria đang ngồi trong chiếc xe ngựa, Pate đánh bà bằng gậy, khiến bà xiểng liểng và bị bầm ở trán. Cả Hamilton và Pate đều bị kết án lưu đày 7 năm.[69]

Sự ủng hộ dành cho Melbourne tại Hạ viện giảm đi dần vào những năm đầu thời Victoria, và trong cuộc tuyển tử 1841 đảng Whig bị đánh bại. Peel trở thành Thủ tướng mới, và người hầu phòng có liên hệ với đảng Whig bị thay thế.[70]

Victoria cuddling a child next to her
Bức ảnh công khai đầu tiên của Victoria, cùng với hoàng trưởng nữ, c. 1845[71]

Năm 1845, ở Ireland xảy ra dịch bạc lá khoai.[72] Trong bốn năm tiếp theo hơn một triệu người Ireland đã chết và một người khác phải di cư trong một thảm họa gọi là nạn đói lớn.[73] Ở Ireland, Victoria được tôn xưng "Nữ hoàng trong nạn đói".[74][75] Cá nhân bà đã quyên góp £2,000 cho Hội cứu trợ Anh, nhiều hơn bất kì nhà tài trợ nào khác trong nạn đói lần đó,[76] và cũng ủng hộ chính sách Maynooth Grant (xây dựng và trợ cấp cho một chủng viện Công giáo ở Ireland) cho người Công giáo Roma ở Ireland, mặc cho sự phản đối của phe Tin Lành.[77] Câu chuyện kể rằng bà chỉ trích ra £5 để viện trợ cho người Ireland, và trong cùng một ngày đã biếu số tiền tương tự cho Battersea Dogs Home (nơi dành cho chó và mèo lang thang), là một chuyện hoang đường được bịa ra từ cuối thế kỉ XIX.[78]

Năm 1846, chính phủ của Peel đối diện với một cuộc khủng hoảng liên quan đến việc bãi bỏ Đạo luật Ngũ cốc. Nhiều thành viên đảng Tory (như hiện nay gọi là Đảng Bảo thủ phản đối việc bãi bỏ này, nhưng Peel, một vài đảng viên Tory ("Peelites"), phần lớn đảng viên Whig và Victoria ủng hộ nó. Peel từ chức năm 1846, sau khi chỉ dụ bãi bỏ suýt nữa là được thông qua, và được thay thế bởi Lord John Russell.[79] Bản mẫu:Thủ tướng thời Victoria Về đối ngoại, Victoria chú trọng đến việc cải thiện quan hệ giữa Anh và Pháp.[80] Bà đích thân đến thăm hoàng gia Pháp hoặc tổ chức nhiều cuộc viếng thăm giữa các thành viên hoàng gia Anh với nhà Orleans, họ có quan hệ hôn nhân với nhau thông qua dòng họ Coburgs. Năm 18431845, bà cùng Albert cư ngụ một thời gian với vua Louis Philippe tại château d'Eu thuộc Normandy; bà là vị quân vương đầu tiên của đảo Anh đến thăm Pháp quốc kể từ sau cuộc gặp giữa Henry VIII của AnhFrancis I của Pháp trong sự kiện Field of the Cloth of Gold năm 1520.[81] Khi Louis Philippe có chuyến thăm đáp lại năm 1844, ông trở thành vị quân vương Pháp đầu tiên đến thăm một vị quân vương Anh.[82] Louis Philippe bị lật đổ trong cách mạng 1848, và sang sống lưu vong ở Anh.[83] Lúc cảm giác sợ hải lên đến cao điểm khi một cuộc cách mạng nổ ra ở Vương quốc Anh vào tháng 4 năm 1848, Victoria và gia đình bà rời London đến một nơi an toàn hơn là Osborne House,[84] thuộc đảo Wight, ngôi nhà này họ đã mua và cải tạo lại năm 1845.[85] Cuộc biểu tình của người người Chartistschủ nghĩa dân tộc Ireland thất bại vì không giành được đủ sự ủng hộ của quần chúng, và nỗi sợ hãi trôi qua nhanh chóng, không có bất kì rối loạn lớn nào trong nước.[86] Chuyến thăm đầu tiên của Victoria tới Ireland năm 1849 có vẻ như tương đối thành công, làm dịu đi sự căng thẳng, nhưng nó không tác động được lâu dài đối với sự pháp triển của chủ nghĩa dân tộc Ireland.[87]

Chính phủ của Russell, dù phần lớn là đảng Whig, nhưng lại không được nữ hoàng ưa.[88] Bà cảm nhận được sự tấn công từ Bộ trưởng Ngoại giao, Lãnh chúa Palmerston, người thường xuyên hành động mà không có sự hỏi ý kiến của cấp trên, là Thủ tướng Chính phủ, hay Nữ hoàng.[89] Victoria phàn nàn với Russell rằng Palmerston đã gửi các công văn cho nguyên thủ nước khác mà bà không hề biết trước, nhưng Palmerston vẫn được giữ nguyên chức vụ trong chính phủ và tiếp tục tự ý hành động, dù cho liên tục bị phản đối. Chỉ đến năm 1851 Palmerston mới bị cách chức sau khi ông ta tuyên bố là chính phủ công nhận cuộc đảo chính của Louis-Napoleon Bonaparte ở Pháp mà không hỏi ý kiến của Thủ tướng.[90] Năm sau, Tổng thống Bonaparte tự xưng là Hoàng đế Napoleon III, trong thời gian đó chính phủ của Russell bị thay thế bởi một chính phủ tồn tại ngắn ngủi của Lãnh chúa Derby.

Bức ảnh Victoria đang ngồi, mặc đồ đen, ẵm một đứa trẻ sơ sinh cùng các con và Hoàng phu Albert đứng cạnh bà
Albert, Victoria và chín người con của họ năm 1857. Từ trái qua phải: Alice, Arthur, Albert, Edward, Leopold, Louise, Victoria với Beatrice, Alfred, Victoria và Helena

Năm 1853, Victoria hạ sinh bát hoàng tử, Leopold, với sự trợ giúp của thuốc gây mê hiện đại, chloroform. Victoria rất ấn tượng với cảm giác nhẹ nhõm không đau đớn gì hết khi sinh con và bà tiếp tục dùng nó vào năm 1857 khi sinh công chúa út, Beatrice, mặc cho sự phản đối từ những giáo sĩ, họ coi đó là chống lại những giáo lí trong Kinh Thánh, và các bác sĩ và y tá, họ cho như vậy là nguy hiểm.[91] Victoria có thể đã mắc chứng trầm cảm sau nhiều lần vượt cạn.[92] Bức thư của Albert gửi cho Victoria có nội dung liên tục phàn nàn việc bà mất kiểm soát bản thân. Ví dụ như, khoảng một tháng sau khi Leopold chào đời, Albert phàn nàn trong một bức thư cho Victoria về chuyện bà "tiếp tục kích động" vì "những chuyện vặt vãnh".[93]

Đầu năm 1855, chính phủ của Lãnh chúa Aberdeen, người thay thế Derby, bị chỉ trích vì sự quản lí yếu kém đối với quân đội Anh trong Chiến tranh Crimean. Victoria định sắp đặt cho cả Derby và Russell cùng lập chính phủ mới, nhưng không có đủ sự ủng hộ, và Victoria buộc phải bổ nhiệm Palmerston làm Thủ tướng.[94]

Napoleon III, từ sau Chiến tranh Crimean trở thành đồng minh của Anh,[92] đã tới thăm London vào tháng 4 năm 1855, và từ 17 đến 28 tháng 8 cùng năm Victoria và Albert có chuyến thăm đáp lại.[95] Napoleon III gặp hai vợ chồng nữ hoàng tại Dunkirk rồi cùng họ tới Paris. Họ đến thăm triển lãm Universelle (một sản phẩm trí tuệ của Albert trong Đại Triển lãm) và lăng mộ Napoleon I tại Les Invalides (hài cốt của ông ta được đưa về Pháp năm 1840), và là khách mời danh dự trong buổi khiêu vũ có tới 1,200 khách mời tại Cung điện Versailles.[96]

Portrait by Winterhalter, 1859

Ngày 14 tháng 1 năm 1858, một người tị nạn từ Ý đến Anh gọi là Orsini cố gắng ám sát Napoleon III bằng một quả bom chế tạo ra ở Anh.[97] Cuộc khủng hoảng ngoại giao sau đó dẫn đến bất ổn chính trị, và Palmerston từ chức. Derby được phục chức Thủ tướng.[98] Victoria và Albert đến dự buổi lễ khai trương của khu vực mới tại hải cảng quân sự của người Pháp thuộc Cherbourg ngày 5 tháng 8 năm 1858, trong một nỗ lực của Napoleon III để trấn an Anh quốc rằng những sự chuẩn bị về quân sự của ông nhằm mục tiêu là các nước khác. Trong lúc trở về Victoria viết thư cho Derby khiển trách ông vì tình trạng lạc hậu của hải quân hoàng gia so với Hải quân Pháp.[99] Chính phủ của Derby không tồn tại lâu, và vào tháng 6 năm 1859 Victoria lại triệu tập Palmerston trở lại.[100]

11 ngày sau vụ ám sát của Orsini ở Pháp, con gái lớn của Victoria kết hôn với Hoàng tử Fieldrich Wilhelm của Phổ ở London. Họ đã đính hôn từ tháng 9 năm 1855, khi Công chúa Victoria mới 14 tuổi; cuộc hôn nhân bị hoãn lại bởi lệnh của Nữ hoàng và Hoàng phu Albert cho đến khi công chúa lên 17.[101] Nữ hoàng và Albert hi vọng rằng con gái và con rể họ sẽ khuyến khích phong trào tự do trong quá trình bành trướng của nước Phổ.[102] Victoria cảm thấy "mắc bệnh trong trái tim" khi nhìn con gái rời Anh để đến Đức; "Điều đó thực sự khiến Quả nhân rùng mình", bà viết thư cho công chúa Victoria (bà thường viết thư định kì cho con gái), "khi Quả nhân nhìn thấy sự hạnh phúc, vui vẻ vô tư của các em gái con, và nghĩ đến việc Quả nhân phải gả chúng đi – từng đứa từng đứa một."[103] Gần như đúng một năm sau đó, Công chúa Victoria hạ sinh đứa cháu đầu tiên của Nữ hoàng, Wilhelm, người về sau trở thành hoàng đế cuối cùng của nước Đức.

Những năm góa bụa[sửa | sửa mã nguồn]

Victoria được chụp ảnh bởi J. J. E. Mayall, 1860.

Tháng 3 năm 1861, hoàng mẫu của Victoria qua đời, Victoria ở bên cạnh bà trong giờ phút đó. Sau khi đọc các thư từ mà mẹ để lại, Victoria nhận ra rằng mẹ bà vốn rất thương yêu bà;[104] bà rất đau lòng, và đổ lỗi cho Conroy vì Lehzen vì "thật độc ác" khi li gián bà với mẹ bà.[105] Để chia sẻ với người vợ đang cực kì đau buồn,[106] Albert gánh hết tất cả công việc của bà, dù cho chính ông cũng đang mắc bệnh đau dạ dày mãn tính.[107] Vào tháng 8, Victoria và Albert đến thăm con trai của họ, Hoàng tử xứ Wales, vốn đang tham dự một cuộc diễn tập quân sự gần Dublin, và dành một vài ngày nghỉ ở Killarney. Vào tháng 11, Albert nghe phong phanh có tin đồn rằng con trai ông đã ngủ với một đào hát người Ireland.[108] Trong nỗi kinh ngạc, Albert đi đến Cambridge, nơi hoàng tử đang theo học, để giáp mặt với anh ta.[109] Vào đầu tháng 12, Albert rất không khỏe.[110] Ông bị chẩn đoán là mắc bệnh thương hàn bởi William Jenner, và qua đời vào ngày 14 tháng 12 năm 1861. Victoria hoàn toàn suy sụp.[111] Bà cho rằng cái chết của chồng bà là vì lo buồn cho cái thói trăng hoa của Hoàng tử xứ Wales. Ông đã bị "giết chết bởi một thực tế đáng sợ", bà nói.[112] Bà bắt đầu để tang và mặc đồ đen trong suốt quãng đời còn lại. Bà tránh xuất hiện trước công chúng, và hiếm khi đặt chân lên đường phố trong nhiều năm sau đó.[113] Cuộc sống ẩn dật này khiến bà có biệt danh "góa phụ của Windsor".[114]

Việc Victoria tự mình tránh xa công chúng đã làm giảm lòng tin của người dân đối với chế độ quân chủ, và khuyến khích chủ nghĩa cộng hòa có cơ hội phát triển.[115] Bà cam đoan sẽ thực hiện đúng những nhiệm vụ của bà trong chính phủ, nhưng lại sống ẩn dật trong các cung điện hoàng gia của bà—Windsor Castle, Osborne House, và nơi ở tư nhân tại Scotland mà bà và Albert đã mua lại năm 1847, Lâu đài Balmoral. Tháng 3 năm 1864, một người biểu tình bị chặn lại trước cửa Cung điện Buckingham đã tuyên bố "những cơ ngơi hoa lệ này nên được cho thuê hay bán lại bởi vì hậu quả của sự xuống dốc tàn tạ của chủ nhân nó".[116] Cậu của bà Leopold viết thư khuyên bà nên xuất hiện trước công chúng. Bà đồng ý đến thăm khu vườn thuộc Hiệp hội vườn hoàng gia tại Kensington và diễu hành trên đường phố London trên một chiếc xe ngựa.[117]

Victoria và John Brown tại Balmoral, 1863
Ảnh của G. W. Wilson

Trong những năm 1860, Victoria ngày càng thân cận với một người đầy tớ đến từ Scotland, John Brown.[118] Có những tin đồn nhằm có mục đích nói về một mối quan hệ lãng mạn và thậm chí là một cuộc hôn nhân bí mật giữa họ được lưu truyền, và Nữ hoàng bị gọi là "Mrs. Brown".[119] Câu chuyện về mối quan hệ giữa họ được chuyển thể thành một bộ phim công chiếu năm 1997 mang tên Mrs. Brown. Một bức họa của Sir Edwin Henry Landseer miêu tả Nữ hoàng và Brown đã được trưng bày tại Học viện hoàng gia, và Victoria viết một cuốn sách tên Leaves from the Journal of Our Life in the Highlands, nội dung quyển sách đề cập rõ về Brown và Nữ hoàng đánh giá ông ta rất cao.[120]

Palmerston chết năm 1865, và sau một thời gian ngắn nắm quyền của Russell, Derby trở lại cương vị Thủ tướng. Năm 1866, Victoria tham dự Phiên Khai mạc Nghị viện lần đầu tiên kể từ cái chết của Albert.[121] Năm sau, bà ủng hộ việc thông qua Đạo luật Cải cách 1867 tăng gấp đôi số lượng cử tri bằng cách mở rộng quyền bầu cử cho những người công nhân ở thành thị,[122] dù bà không ủng hộ việc bỏ phiếu cho phụ nữ.[123] Derby từ chức năm 1868, bị thay thế bởi Benjamin Disraeli, ông ta tìm cách làm vui lòng Victoria. "Tất cả mọi người đều nịnh hót," ông ta nói, "và khi Bệ hạ nắm quyền lực của hoàng gia, Người nên đặt nói trên một cái xẻng."[124] Ông ta ca tụng bà với cụm từ "we authors, Ma'am",.[125] Disraeli chỉ nắm quyền có vài tháng, và cuối năm đó đối thủ của ông ta đến từ đảng Tự do, William Ewart Gladstone, được cử làm Thủ tướng. Victoria thấy rằng cách cư xử của Gladstone ít lịch thiệp; khi ông nói với bà, bà được cho là đã từng phàn nàn sau cuộc gặp, như thể bà bị xem là "một cuộc gặp công cộng hơn là gặp một người phụ nữ".[126]

Năm 1870, những người Cộng hòa ở Anh, vốn lên án về sự ẩn dật của Nữ hoàng, có cơ hội trỗi dậy sau sự kiện Đệ Tam Cộng hòa Pháp được thành lập.[127] Họ tổ chức một cuộc mít tinh ở Quảng trường Trafalgar yêu cầu truất ngôi Victoria, và các đảng viên Cấp tiến diễn thuyết chống lại bà.[128] Tháng 8 và tháng 9 năm 1871, bà bị bệnh nặng với một áp xe trong cánh tay, căn bệnh này được Joseph Lister điều trị thành công bằng phương pháp phun loại thuốc khử trùng mới của ông, carbolic acid.[129] Cuối tháng 11 năm 1871, lúc phong trào Cộng hòa lên tới đỉnh cao, hoàng tử xứ Wales lại mắc bệnh sốt thương hàn, căn bệnh được cho là đã dẫn đến cái chết của cha ông ta, và Victoria lo sợ rằng con bà sẽ không qua khỏi.[130] Khi ngày kỉ niệm 10 năm cái chết của chồng bà đến gần, bệnh tình của con trai bà chuyển biến xấu, và Victoria tiếp tục đau khổ.[131] Cả nước cảm thấy nhẹ nhõm khi hoàng tử hết bệnh.[132] Mẹ con bà tham gia một cuộc diễu hành quanh London và tổ chức một đại lễ tạ ơn tại Nhà thờ St Paul ngày 27 tháng 2 năm 1872, và phong trào cộng hòa lắng xuống.[133]

Ngày cuối cùng của tháng 2 năm 1872, hai ngày sau buổi lễ tạ ơn, Arthur O'Connor 17 tuổi (cháu trai lớn của nghị sĩ Cấp tiến người Ireland Feargus O'Connor) dùng một khẩu súng không nạp đạn bắn vào chiếc xe ngựa mở cửa của Victoria sau khi bà khởi hành đến Cung điện Buckingham. Brown, người đi cùng nữ hoàng, khống chế được anh ta và O'Connor sau đó bị kết án 12 tháng tù giam.[134] Kết quả của sự kiện này là, Victoria càng khôi phục được lòng tin của công chúng.[135]

Nữ hoàng Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cuộc nổi dậy ở Ấn Độ 1857, Công ti Đông Ấn Anh, vốn cai trị phần lớn Ấn Độ, bị tan rã, và tất cả của cải và nền bảo hộ của người Anh lên tiểu lục địa Ấn Độ được sáp nhập trực tiếp vào Đế quốc Anh. Nữ hoàng có một cái nhìn tương đối công bình về cuộc xung đột, và lên án sự tàn bạo của cả hai phía.[136] Bà viết về "cảm giác kinh dị và sự hối tiếc của bà về kết quả của nội chiến đẫm máu này",[137] và được khuyến khích bởi Albert, bà nhấn mạnh thông báo của mình rằng việc chuyển giao quyền lực từ Công ti về cho Chính phủ "nên được thể hiện bởi sự rộng lượng, nhân từ và lòng khoan dung tôn giáo".[138] Theo chỉ thị của bà, một công văn với nội dung đe dọa "thủ tiêu tôn giáo và phong tục bản địa" được thay thế bởi một công văn đảm bảo tự do tôn giáo.[138]

Bức chân dung Victoria dưới cái nhìn thán phục của họa sĩ Heinrich von Angeli năm 1875 bằng "sự trung thực, hoàn toàn không xu nịnh, và sự đánh giá đúng về nhân vật".[139]

Trong cuộc tuyển cử năm 1874, Disraeli trở lại nắm quyền. Ông cho thông qua Đạo luật Thờ cúng công cộng 1874, theo đó loại bỏ các nghi thức Công giáo trong phụng vụ của giáo hội Anh và được Victoria rất ủng hộ.[140] Bà thích những thứ ngắn gọn, đơn giản, và cá nhân bà cảm thấy bà phù hợp với Giáo hội Trưởng lão của Scotland hơn là chế độ giám mục trong Giáo hội Anh.[141] Ông cũng thúc đẩy Đạo luật danh hiệu hoàng gia được thông qua bởi Quốc hội, do đó Victoria được tôn làm "Nữ hoàng Ấn Độ" từ ngày 1 tháng 5 năm 1876.[142] Danh hiệu mới này được công bố tại Delhi Durbar ngày 1 tháng 1 năm 1877.[143]

Ngày 14 tháng 12 năm 1878, kỉ niệm ngày mất của Albert, con gái thứ hai của Victoria, Alice, người được gả cho Louis xứ Hesse, chết vì bệnh bạch hầuDarmstadt. Victoria chú thích về sự trùng hợp ngẫu nhiên này rằng đó là một cái ngày "gần như không thể tin được và bí ẩn nhất".[144] Tháng 5 năm 1879, bà trở thành bà cố (với sự chào đời của Công chúa Feodora xứ Saxe-Meiningen) và bước qua "sinh nhất thứ 60 tồi tệ". Bà cảm thấy "già đi" khi "mất đi đứa con thân yêu".[145]

Giữa tháng 4, 1877 và tháng 2, 1878, bà năm lần đe dọa là sẽ thoái vị để buộc Disraeli phải hành động chống lại Nga trong Chiến tranh Nga-Thổ, nhưng lời đe dọa của bà không tác động được đến những sự kiện kết thúc chiến tranh và hội nghị Berlin.[146] Chính sách bành trướng của Disraeli trong vấn đề đối ngoại, được Victoria tán đồng, dẫn tới những cuộc xung đột như Chiến tranh Anh-ZuluChiến tranh Anh-Afghanistan lần thứ hai. "Nếu chúng ta đều muốn duy trì vị trí của chúng ta là quyền lực số một ", bà viết, "chúng ta phải ... có sự chuẩn bị cho các cuộc tấn côngcác cuộc chiến, ở bất cứ nơi đâu và với bất cứ ai, LIÊN TỤC."[147] Victoria thấy rằng sự bành trướng của Đế chế Anh là văn minh và nhân từ, nhằm bảo vệ những người dân bản địa khỏi những cuộc xâm lăng khác và những bạo chúa độc ác: "Không phải phong tục của chúng ta là thôn tính nước khác", bà nói, "trừ khi chúng ta có nghĩa vụ và buộc phải làm như thế."[148] Victoria mất tinh thần khi Disraeli thất bại trong cuộc tuyển cử 1880, và Gladstone trở lại làm tướng.[149] Khi Disraeli chết vào năm sau, mắt bà mờ đi vì "nước mắt rơi nhanh",[150] và cho dựng một tấm bia tưởng niệm "được đặt bởi quân vương và một người bạn rất biết ơn ông, Victoria R.I."[151]

Những năm cuối[sửa | sửa mã nguồn]

Victorian farthing, 1884

Ngày 2 tháng 3 năm 1882, Roderick Maclean, một nhà thơ có tư tưởng bất mãn đã cảm thấy xúc phạm khi Victoria từ chối chấp nhận một trong những tác phẩm của ông ta,[152] bắn vào nữ hoàng khi bà đang ngồi xe ngựa rời ga Windsor. Hai nam sinh của Eton College đến đánh ông ta bằng ô dù của họ, cho đến khi ông ta bị cảnh sát cách li.[153] Victoria bị xúc phạm khi ông ta được chứng minh là không có tội với lí do mắc bệnh tâm thần,[154] nhưng lại rất hài lòng với lòng trung thành của mọi người đối với mình mà bà nói rằng "bị bắn là rất đáng khi biết ta được rất nhiều người yêu thương".[155]

Ngày 17 tháng 3 năm 1883, bà bị ngã lầu tại Windsor, làm chân trái của bà bị liệt cho đến tháng 7; bà không bao giờ hoàn toàn hồi phục và bị ám ảnh bởi căn bệnh thấp khớp sau đó.[156] Brown qua đời 10 ngày sau tai nạn của bà, và với sự kinh ngạc của quan thư kí riêng, Sir Henry Ponsonby, Victoria bắt đầu viết một cuốn tiểu sử ca tụng Brown.[157] Ponsonby và Randall Davidson, Linh mục Windsor, những người nhìn thấy các bản thảo đầu tiên, đã khuyên Victoria đừng cho công bố, với lí do là nó sẽ làm bùng lên những đồn thổi về chuyện tình cảm.[158] Bản thảo đã bị hủy.[159] Đầu năm 1884, Victoria xuất bản More Leaves from a Journal of a Life in the Highlands, phần tiếp theo của quyển sách mà bà viết trước đây, bà dành riêng nó cho "người phục vụ tận tụy và người bạn trung thành John Brown".[160] Vài ngày sau lễ giỗ đầu của Brown, Victoria nhận được điện tín thông báo rằng con trai út của bà, Leopold, đã chết ở Cannes. Ông là người "thân yêu nhất trong những đứa con thân yêu của Quả nhân", bà than thở.[161] Tháng sau, con gái út của Victoria, Beatrice, gặp và yêu Hoàng thân Henry xứ Battenberg trong đám cưới của cháu gái Victoria là Công nương Victoria xứ Hesse và by Rhine, với em trai của Henry, Hoàng thân Louis xứ Battenberg. Beatrice và Henry dự định kết hôn, nhưng Victoria ban đầu chống đối hôn sự này, bà muốn giữ Beatrice ở nhà để bầu bạn với bà. Sau một năm, bà được đảm bảo là sau khi cưới Henry và Beatrice vẫn sẽ sống cùng và chăm sóc bà.[162]

Victoria thấy vui mừng khi Gladstone từ chức năm 1885 sau khi ngân quỹ của ông ta sạch sành sanh.[163] Bà nghĩ chính phủ của ông ta là "thứ tệ nhất Quả nhân từng thấy", và đổ lỗi cho ông ta về cái chết của of tướng GordonKhartoum.[164] Gladstone được thay thế bởi Lãnh chúa Salisbury. Nhưng chính phủ Salisbury chỉ tồn tại có vài tháng, và Victoria buộc phải tái bổ nhiệm, người bà gọi là "hơi điện & và thực sự là một ông lão vô lí".[165] Gladstone cố gắng thông qua một dự luật trao quyền tự trị cho Ireland, nhưng Victoria vui mừng khi dự luật bị đánh bại.[166] Trong cuộc bầu cử tiếp theo, đảng của Gladstone bị đánh bại bởi Salisbury và chính phủ đổi chủ một lần nữa.

Lễ kỉ niệm vàng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1887, khắp Đế quốc Anh tổ chức Lễ kỉ niệm vàng của nữ hoàng Victoria. Victoria kỉ niệm 50 năm ngày lên ngôi vào ngày 20 tháng 6 với một bữa tiệc có sự tham gia của 50 vị vua và vương thân. Ngày hôm sau, bà tham gia một buổi diễu hành và lễ tạ ơn tại Tu viện Westminster.[167] Vào lúc này, Victoria một lần nữa được quần chúng nồng nhiệt hoan nghênh.[168] Hai ngày sau 23 tháng 6,[169] bà dùng hai người Hồi giáo đến từ Ấn Độ làm bồi bàn, một người là Abdul Karim. Ông sớm được thăng làm "Munshi": dạy bà tiếng Hindu, và làm nhiệm vụ như một nhân viên.[170] Gia đình và thuộc hạ của bà rất kinh hoàng, và cáo buộc Abdul Karim làm gián điệp cho Tổ chức Hồi giáo yêu nước, và xúi giục nữ hoàng chống lại đạo Hindu.[171] Quan bạch mã ôn Frederick Ponsonby (con của Sir Henry) phát hiện rằng Munshi đã ba xạo về nguồn gốc của anh ta, và tường thuật lại cho Lãnh chúa Elgin, Phó vương Ấn Độ, "hai tên Munshi chiếm được rất nhiều vị trí giống như John Brown đã từng."[172] Victoria bác bỏ khiếu nại của họ, cho đó là thành kiến về chủng tộc.[173] Abdul Karim tiếp tục phục vụ bà cho đến khi ông trở về Ấn Độ với tiền lương hưu sau khi bà qua đời.[174]

Con gái lớn của Victoria trở thành hoàng hậu Đức năm 1888, nhưng bà ta lại góa chồng vào cùng năm đó, và cháu ngoại của Victoria là Wilhelm trở thành Hoàng đế Đức Wilhelm II. Dưới thời Wilhelm, những hi vọng của Victoria và Albert về một nước Đức tự do đã tiêu tan. Anh ta tin vào chế độ chuyên chế. Victoria nghĩ rằng anh ta có "trái tim nhỏ bé hay Zartgefühl [tact] – và ... lương tâm & trí tuệ của anh ta đã hoàn toàn wharped [sic]".[175]

Gladstone trở lại nắm quyền sau cuộc tuyển cử năm 1892; năm đó ông ta 82 tuổi. Victoria phản đối khi Gladstone đề xuất bổ nhiệm đảng viên Cấp tiến Henry Labouchere vào Nội các, nên Gladstone đồng ý không bổ nhiệm ông ta.[176] Năm 1894, Gladstone nghỉ hưu, và không hỏi ý kiến vị thủ tướng tiền nhiệm, Victoria đã bổ nhiệm Lãnh chúa Rosebery làm Thủ tướng.[177] Chính phủ của ông ta yếu kém, và năm sau lãnh chúa Salisbury lên thay. Salisbury làm thủ tướng trong suốt những năm cuối triều Victoria.[178]

Lễ kỉ niệm Kim cương[sửa | sửa mã nguồn]

Seated Victoria in embroidered and lace dress
Victoria trong lễ kỉ niệm kim cương được chụp bởi W. & D. Downey

Ngày 23 tháng 9 năm 1896, Victoria đã vượt qua ông nội của bà George III trở thành quân vương tại vị lâu nhất trong lịch sử Anh, Scotland và Liên hiệp Anh. Nữ hoàng yêu cầu rằng bất kì lễ kỉ niệm nào cũng phải được trì hoãn cho đến năm 1897, trùng với Lễ kỉ niệm Kim cương của bà,[179] đó là một lễ hội lớn của Đế quốc Anh theo gợi ý của Tổng trưởng thuộc địa Joseph Chamberlain.[180] Tất cả các thủ tướng đã từng lãnh đạo chính phủ đều được mời tới London để dự buổi lễ này.[181]

Lễ kỉ niệm Kim cương của nữ hoàng vào ngày 22 tháng 6 năm 1897 được đánh dấu bằng một cuộc diễu hành 6 dặm vòng quanh London và bao gồm tất cả quân đội trên khắp đế quốc. Đám rước dừng lại để thực hiện một nghi lễ tạ ơn ngoài trời ở bên ngoài Nhà thờ St Paul, trong suốt lộ trình Victoria ngồi trong chiếc xe ngựa mở của bà, để tránh cho bà khỏi phải leo lên các bậc thang bước vào tòa nhà. Buổi lễ gây ấn tượng bởi các số lượng lớn khán giả và sự thổ lộ cảm xúc của nữ hoàng 78 tuổi.[182]

Victoria đã đến thăm đại lục châu Âu thường xuyên trong những ngày nghỉ. Năm 1889, trong kì nghỉ ở Biarritz, bà trở thành vị quân vương đương vị đầu tiên của Anh đặt chân lên đất Tây Ban Nha khi bà vượt biên và có một chuyến thăm ngắn.[183] Tháng 4 năm 1900, Chiến tranh Boer không được sự ủng hộ từ đại lục châu Âu và do đó chuyến thăm của bà đến Pháp bị cho là không thích hợp. Thay vào đó, nữ hoàng đến Ireland lần đầu tiên vào năm 1861, một phần là để ghi nhận những đóng góp của trung đoàn Ireland trong chiến tranh ở Nam Phi.[184] Tháng 7, hoàng tử thứ hai Alfred ("Affie") chết; "Oh, Chúa ơi! Đứa con tội nghiệp Affie của tôi cũng đã đi xa quá", bà viết lại trong nhật kí. "Đó là một năm khủng khiếp, không có gì ngoài nỗi buồn và nỗi kinh hoàng, đại khái như vậy."[185]

Qua đời và kế tự[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ hoàng Victoria ở tuổi 80, 1899.

Theo như tục lệ bà duy trì định kì trong suốt thời gian góa bụa, Victoria trải qua Giáng sinh năm 1900 tại Osborne House trên Đảo Wight. Bệnh thấp khớp ở chân khiến bà lại bị què, và thị lực của bà yếu đi nhanh chóng do bệnh đục thể thủy tinh.[186] Vào đầu tháng giêng, bà cảm thấy "yếu ớt và không khỏe",[187] và giữa tháng 1 bà "buồn ngủ ... choáng váng, [và] lú lẫn".[188] Bà băng hà vào thứ 3, 22 tháng 1 năm 1901, vào 6 giờ 30 tối, ở tuổi 81.[189] Con trai bà và cũng là người kế vị Vua Edward VII, cùng hoàng trưởng tôn, Hoàng đế Wilhelm II của Đức, ở cùng bà trên giường bệnh.[190] Chú chó cưng của bà thuộc giống Pomerania, tên Turri, được ẵm lên giường theo yêu cầu cuối cùng của bà.[191]

Poster tuyên bố quốc tang ở Toronto trong ngày tang lễ của Victoria
Nữ hoàng Victoria ở Dublin, 1900.

Năm 1897, Victoria đã viết công văn hướng dẫn cho việc tổ chức tang lễ của bà[92] và trang phục màu trắng được dùng thay vì màu đen.[192] Ngày 25 tháng 1, Edward VII, Đức hoàng cùng Hoàng tử Arthur, Công tước Connaught, cùng nhau nâng di thể của bà đưa vào quan tài.[193] Bà mặc một chiếc áo màu trắng và đeo khăn che mặt dùng trong lễ cưới.[194] Một loạt những vật kỉ niệm từ gia đình, bạn bè và những hầu cận được đặt bên cạnh bà trong quan tài, theo di nguyện của bà, bởi các bác sĩ và người phụ trang. Một chiếc áo khoác ngoài mà Albert từng mặc được đặt cạnh bà, với bó bột trên tay ông khi trước, và còn có một lọn tóc của John Brown, cùng một bức họa ông ta, được đặt trên tay trái bà nhưng được gia đình bà che dấu cẩn thận bằng cách lấp đầy hoa vào vị trí đó.[92][195] Những trang sức đặt bên Victoria bao gồm nhẫn cưới của mẹ John Brown, được Brown trao cho bà năm 1883.[92] Tang lễ của bà được tổ chức vào thứ bảy, 2 tháng 2, tại Nhà nguyện St George, Lâu đài Windsor, và sau hai ngày quan tài được quàn tại đó, bà được chôn cất bên cạnh Hoàng phu Albert trong Frogmore Mausoleum thuộc Đại Công viên Windsor.[196]

Với thời gian cai trị là 63 năm, 7 tháng và 2 ngày, Victoria là vị quân vương Anh trị vì lâu nhất trong lịch sử cho đến khi cháu sơ của bà là Elizabeth II phá kỉ lục này vào ngày 9 tháng 9 năm 2015.[197] Bà là vị quân vương Anh cuối cùng của Nhà Hanover. Con trai và người kế tự của bà Edward VII thuộc về Nhà Saxe-Coburg và Gotha tính theo huyết thống của cha ông ta.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Victoria smiling
Victoria lừa phỉnh.[198] Lời nhận xét "Chúng ta không lừa phỉnh" là được quy cho bà nhưng không có bằng chứng trực tiếp cho thấy bà từng nói như vậy,[92][199] bà cũng phủ nhận chuyện này.[200]

Theo như một trong những người viết tiểu sử của bà, Giles St Aubyn, Victoria viết hơn 2,500 từ mỗi ngày từ sau khi bà trưởng thành.[201] Từ tháng 7 năm 1832 cho đến trước cái chết của mình, bà vẫn được mô tả tỉ mỉ trên tạp chí, tổng cộng lên đến 122 quyển.[202] Sau cái chết của Victoria, con gái út của bà, Công chúa Beatrice, được bổ nhiệm làm người bảo quản văn chương của bà. Beatrice chép và biên tập nhật kí từ quãng thời gian Victoria lên ngôi trở đi, và đốt các nguyên bản trong quá trình này.[203] Dù cho sự hủy diệt này, phần nhiều nội dung nhất kí vẫn còn tồn tại. Song song với những bản sao của Beatrice, Lãnh chúa Esher đã chép phần từ 1832 đến 1861 trước khi Beatrice tiêu hủy chúng.[204] Một phần của những thư từ của Victoria' đã được xuất bản thành các quyển và được chỉnh sửa bởi A. C. Benson, Hector Bolitho, George Earle Buckle, Huân tước Esher, Roger Fulford, và Richard Hough cùng nhiều người khác.[205]

Victoria có dáng vẻ bề ngoài không mấy dễ thương — bà mập mạp, không nhã nhặn và cao không tới 5 feet — nhưng bà thành công khi tạo dựng một hình ảnh đẹp trước công chúng.[206] Bà từng bị mất lòng dân trong những năm đầu góa bụa, nhưng lại nhận được sự yêu mến trong những năm 1880 và 1890, khi bà được coi là một người mẹ nhân từ của đế chế.[207] Chỉ sau khi những cuốn nhật kí và những lá thư của bà xuất hiện đem đến cho bà ảnh hưởng lên chính trị và nổi tiếng trước mắt công chúng.[92][208] Những người viết tiểu sử của Victoria đã được viết rất nhiều khi những nguồn sơ cấp luôn có sẵn, chẳng hạn như tác phẩm của Lytton Strachey, Queen Victoria năm 1921, đã trở nên lỗi thời.[209] Những bản tiểu sử được viết bởi Elizabeth LongfordCecil Woodham-Smith, ra đời tương ứng vào các năm 19641972, thì vẫn được phổ biến rộng rãi.[210] Họ, và những người khác, kết luận rằng Victoria là một người đa cảm, ngoan cố, trung thực và nói thẳng.[211]

Trong triều đại của Victoria, quá trình hình thành của chế độ quân chủ lập hiến hiện đại ở Anh tiếp tục. Việc cải cách hệ thống bầu cử làm tăng quyền lực của Hạ viện lấn át Thượng viện và quốc vương.[212] Năm 1867, Walter Bagehot viết rằng quốc vương chỉ còn có "quyền nêu ý kiến để tham khảo, quyền khuyến khích, và quyền cảnh báo".[213] Khi ngai vàng của Victoria trở thành một biểu tượng hơn là quyền lực chính trị, nó là một khuôn mẫu về đạo đức và các giá trị gia đình, trái ngược hẳn với những vụ bê bối tình ái, tài chính và scandal cá nhân của nhiều thành viên gia tộc Hanover trước kia từng ngự trị trên ngai vàng. Khái niệm "chế độ quân chủ gia đình", mà tầng lớp trung lưu đang phát triển có thể đồng cảm, đã được kiên cố hóa.[214]

Bronze statue of winged victory mounted on a marble four-sided base with a marble figure on each side
Đài tưởng niệm nữ hoàng đặt trước Cung điện Buckingham được dựng lên trong quá trình tu sửa cung điện khoảng một thập kỉ sau cái chết của bà.

Quan hệ giữa Victoria với các hoàng tộc châu Âu mang đến cho bà biệt hiệu "bà ngoại của châu Âu".[215] Victoria và Albert có 42 cháu nội ngoại, trong đó 34 người sống qua tuổi trưởng thành. Những hậu duệ của họ bao gồm Elizabeth II, Hoàng tế Philip, Công tước Edinburgh, Harald V của Na Uy, Carl XVI Gustaf của Thụy Điển, Margrethe II của Đan Mạch, và Felipe VI của Tây Ban Nha.

Con trai út của Victoria, Leopold, chết do chứng máu khó đông B và hai trong số các con gái của bà, AliceBeatrice, mang gen nhiễm bệnh. Căn bệnh hoàng gia này có nguồn gốc từ Victoria ảnh hưởng đến hậu duệ của bà, Thái tử Alexei của Nga, Alfonso, Hoàng thân Asturias, và Hoàng tử Gonzalo của Tây Ban Nha.[216] Sự hiện diện của căn bệnh này trong cơ thể hậu duệ của Victoria, nhưng không có ở tổ tiên bà, dẫn đến mối hoài nghi rằng người cha thực sự của bà không phải là công tước nhà Kent vì ông không mắc bệnh.[217] Không có bằng chứng về bệnh máu khó đông trong các thể hệ nhà mẹ Victoria, và người mang mầm bệnh nếu là nam thì người đó chắc chắn mắc bệnh, và khó sống lâu; thậm chí nếu một người đàn ông sống sót thì ông ta cũng bị di chứng nặng.[218] Cũng rất có thể đột biến xảy ra một cách tự nhiên vì cha (nếu là thật) của Victoria đã quá 50 khi vợ ông mang thai và chứng máu khó đông xuất hiện thường xuyên ở những đứa trẻ chào đời khi cha chúng đã quá già.[219] Nguyên nhân đột biến tự phát chiếm 1/3 số trường hợp bệnh.[220]

A. N. Wilson cho rằng cha của Victoria không thể là công tước xứ Kent vì hai lý do:

  1. Sự xuất hiện đột ngột của chứng máu khó đông trong các hậu duệ của Victoria. Bệnh này không tồn tại trong hoàng gia trước đây.
  2. Sự biến mất đột ngột của chứng porphyria trên người hậu duệ của Victoria. Theo Wilson, bệnh này rất phổ biến trong hoàng gia trước thời Victoria nhưng sau thời bà thì không.[221]

Trên thế giới, có những địa danh và đài tưởng niệm dành riêng cho bà, đặc biệt là trong Khối thịnh vương chung. Những địa điểm được đặt tên theo tên của bà bao gồm thủ đô Seychelles, hồ rộng nhất châu Phi, Thác Victoria, thủ đô GozoVictoria Lines ở Malta, thủ đô Columbia thuộc AnhSaskatchewan (Regina), và hai bang của Australia (VictoriaQueensland).

Bội tinh Victoria được giới thiệu năm 1856 và dùng để tưởng thưởng cho những anh hùng trong giai đoạn Chiến tranh Crimea, và nó vẫn là giải thưởng cao nhất ở Anh Canadian, Australian, và New Zealand cho những hành động dũng cảm. Ngày Victoria là một ngày nghỉ lễ ở Canada và ngày lễ công cộng ở một số vùng thuộc Scotland được tổ chức vào ngày thứ hai cuối cùng trước ngày 24 tháng 5 (ngày sinh của nữ hoàng Victoria).

Danh hiệu, huy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • 24 tháng 5 1819 – 20 tháng 6 1837: Her Royal Highness Công chúa Alexandrina Victoria xứ Kent
  • 20 tháng 6 1837 – 22 tháng 1 1901: Nữ vương Bệ hạ

Vào cuối đời, danh hiệu đầy đủ của Nữ hoàng là: "Nữ hoàng Bệ hạ Victoria, bởi Ân điển của Chúa, của Nước Anh thống nhất Liên hiệp Anh và Ireland, Nữ vương, Người Bảo vệ Đức tin, Nữ hoàng Ấn Độ."[222]

Huy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Coat of Arms of the United Kingdom (1837-1952).svg
Coat of Arms of the United Kingdom in Scotland (1837-1952).svg
Huy hiệu hoàng gia (ngoài lãnh thổ Scotland)
Huy hiệu hoàng gia (ở Scotland)

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình của Victoria năm 1846 bởi Franz Xaver Winterhalter. Từ trái qua phải: Hoàng tử AlfredHoàng tử xứ Wales; Nữ hoàng Hoàng phu Albert; các công chúa Alice, HelenaVictoria
Tên Sinh Mất Vợ chồng và con cái[222][223]
Victoria, Công chúa Hoàng gia,
về sau là Hoàng hậu Đức và Vương hậu Phổ
184021 tháng 11 1840 19015 tháng 8 1901 Kết hôn năm 1858, với Frederick, Hoàng thái tử Đức và Phổ về sau là Frederick III, Hoàng đế Đức và vua Phổ (18311888);
4 con trai, 4 con gái (bao gồm Wilhelm II, Hoàng đế Đức và Vua của Phổ cùng Sophia, Hoàng hậu Hi Lạp)
Albert Edward, Hoàng tử xứ Wales,
về sau là Vua Edward VII
18419 tháng 11 1841 19106 tháng 5 1910 Kết hôn năm 1863, Công chúa Alexandra của Đan Mạch (18441925);
3 con trai, 3 con gái (bao gồm Vua George VMaud, Hoàng hậu Na Uy)
Công chúa Alice,
về sau là Đại Công nương xứ Hesse
184325 tháng 4 1843 187814 tháng 12 1878 Kết hôn năm 1862, Louis IV, Đại Công tước Hesse và by Rhine (18371892);
2 con trai, 5 con trai (bao gồm Alexandra, Hoàng hậu Nga)
Hoàng tử Alfred, Công tước Edinburgh
về sau là Công tước Saxe-Coburg và Gotha
18446 tháng 8 1844 190031 tháng 7 1900 Kết hôn năm 1874, Nữ Đại Công tước Maria Alexandrovna của Nga (18531920);
2 con trai (1 chết lưu), 4 con gái (bao gồm Marie, Hoàng hậu Romania)
Công chúa Helena 184625 tháng 5 1846 19239 tháng 6 1923 Kết hôn năm 1866, Hoàng thân Christian xứ Schleswig-Holstein (18311917);
4 con trai (1 người chết lưu), 2 con gái
Công chúa Louise
về sau là Công nương xứ Argyll
184818 tháng 3 1848 19393 tháng 12 1939 Kết hôn năm 1871, John Douglas Sutherland Campbell (18451914), Hầu tước xứ Lorne, về sau là Công tước Argyll thứ 9;
không có con
Hoàng tử Arthur
về sau là Công tước xứ Connaught và Strathearn
18501 tháng 5 1850 194216 tháng 1 1942 Kết hôn năm 1879, với Công chúa Louise Margaret của Phổ (18601917);
1 con trai, 2 con gái
Hoàng tử Leopold
về sau là Công tước Albany
18537 tháng 4 1853 188428 tháng 3 1884 Kết hôn năm 1882, với Công nương Helena xứ Waldeck và Pyrmont (18611922);
1 con trai, 1 con gái
Công chúa Beatrice 185714 tháng 4 1857 1944 26 tháng 10 1944 Kết hôn năm 1885, với Hoàng thân Henry xứ Battenberg (18581896);
3 con trai, 1 con gái (bao gồm Victoria Eugenie, Hoàng hậu Tây Ban Nha)

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hibbert, tr 3–12; Strachey, tr 1–17; Woodham-Smith, tr 15–29
  2. ^ Cha mẹ đỡ đầu của công chúa là Hoàng đế Aleksandr I của Nga (được đại diện bởi người chú là Công tước xứ York), chú của công chúa là Hoàng tử Regent, dì của công chúa là Công chúa Augusta) và bà ngoại là Thái Công nương Saxe-Coburg-Saalfeld (đại diện bởi dì của Victoria Công chúa Mary, Nữ bá tước xứ Gloucester và Edinburgh).
  3. ^ Longford, tr 24
  4. ^ Hibbert, tr 31; St Aubyn, tr 26; Woodham-Smith, tr 81
  5. ^ Hibbert, tr 46; Longford, tr 54; St Aubyn, tr 50; Waller, tr 344; Woodham-Smith, tr 126
  6. ^ Hibbert, tr 19; Marshall, tr 25
  7. ^ Hibbert, tr 27; Longford, tr 35–38, 118–119; St Aubyn, tr 21–22; Woodham-Smith, tr 70–72. Tin đồn này bị cho là sai bởi những người viết tiểu sử.
  8. ^ Hibbert, tr 27–28; Waller, tr 341–342; Woodham-Smith, tr 63–65
  9. ^ Hibbert, tr 32–33; Longford, tr 38–39, 55; Marshall, tr 19
  10. ^ Lacey, Robert (2006) Great Tales from English History, Volume 3, London: Little, Brown, and Company, ISBN 0-316-11459-6, tr 133–136
  11. ^ Waller, tr 338–341; Woodham-Smith, tr 68–69, 91
  12. ^ Hibbert, tr 18; Longford, tr 31; Woodham-Smith, tr 74–75
  13. ^ Longford, tr 31; Woodham-Smith, tr 75
  14. ^ Hibbert, tr 34–35
  15. ^ Hibbert, tr 35–39; Woodham-Smith, tr 88–89, 102
  16. ^ Hibbert, tr 36; Woodham-Smith, tr 89–90
  17. ^ Hibbert, tr 35–40; Woodham-Smith, tr 92, 102
  18. ^ Hibbert, tr 38–39; Longford, tr 47; Woodham-Smith, tr 101–102
  19. ^ Hibbert, tr 42; Woodham-Smith, tr 105
  20. ^ Hibbert, tr 42; Longford, tr 47–48; Marshall, tr 21
  21. ^ Hibbert, tr 42, 50; Woodham-Smith, tr 135
  22. ^ Marshall, tr 46; St Aubyn, tr 67; Waller, tr 353
  23. ^ Longford, tr 29, 51; Waller, tr 363; Weintraub, tr 43–49
  24. ^ Longford, tr 51; Weintraub, tr 43–49
  25. ^ Longford, tr 51–52; St Aubyn, tr 43; Weintraub, tr 43–49; Woodham-Smith, tr 117
  26. ^ Weintraub, tr 43–49
  27. ^ Victoria quoted in Weintraub, tr 49 and Marshall, tr 27
  28. ^ Victoria quoted in Hibbert, tr 99; St Aubyn, tr 43; Weintraub, tr 49 and Woodham-Smith, tr 119
  29. ^ Victoria's journal, October 1835, quoted in St Aubyn, tr 36 and Woodham-Smith, tr 104
  30. ^ Hibbert, tr 102; Marshall, tr 60; Waller, tr 363; Weintraub, tr 51; Woodham-Smith, tr 122
  31. ^ Waller, tr 363–364; Weintraub, tr 53, 58, 64, and 65
  32. ^ St Aubyn, tr 55–57; Woodham-Smith, tr 138
  33. ^ Woodham-Smith, tr 140
  34. ^ Packard, tr 14–15
  35. ^ Hibbert, tr 66–69; St Aubyn, tr 76; Woodham-Smith, tr 143–147
  36. ^ Greville quoted in Hibbert, tr 67; Longford, tr 70 and Woodham-Smith, tr 143–144
  37. ^ St Aubyn, tr 69; Waller, tr 353
  38. ^ Hibbert, tr 58; Longford, tr 73–74; Woodham-Smith, tr 152
  39. ^ Marshall, tr 42; St Aubyn, tr 63, 96
  40. ^ Marshall, tr 47; Waller, tr 356; Woodham-Smith, tr 164–166
  41. ^ Hibbert, tr 77–78; Longford, tr 97; St Aubyn, tr 97; Waller, tr 357; Woodham-Smith, tr 164
  42. ^ Victoria's journal, ngày 25 tháng 4 năm 1838, quoted in Woodham-Smith, tr 162
  43. ^ St Aubyn, tr 96; Woodham-Smith, tr 162, 165
  44. ^ Hibbert, tr 79; Longford, tr 98; St Aubyn, tr 99; Woodham-Smith, tr 167
  45. ^ Hibbert, tr 80–81; Longford, tr 102–103; St Aubyn, tr 101–102
  46. ^ Longford, tr 122; Marshall, tr 57; St Aubyn, tr 104; Woodham-Smith, tr 180
  47. ^ Hibbert, tr 83; Longford, tr 120–121; Marshall, tr 57; St Aubyn, tr 105; Waller, tr 358
  48. ^ St Aubyn, tr 107; Woodham-Smith, tr 169
  49. ^ Hibbert, tr 94–96; Marshall, tr 53–57; St Aubyn, tr 109–112; Waller, tr 359–361; Woodham-Smith, tr 170–174
  50. ^ Longford, tr 84; Marshall, tr 52
  51. ^ Longford, tr 72; Waller, tr 353
  52. ^ Woodham-Smith, tr 175
  53. ^ Hibbert, tr 103–104; Marshall, tr 60–66; Weintraub, tr 62
  54. ^ Hibbert, tr 107–110; St Aubyn, tr 129–132; Weintraub, tr 77–81; Woodham-Smith, tr 182–184, 187
  55. ^ Hibbert, tr 123; Longford, tr 143; Woodham-Smith, tr 205
  56. ^ St Aubyn, tr 151
  57. ^ Hibbert, tr 265, Woodham-Smith, tr 256
  58. ^ Marshall, tr 152; St Aubyn, tr 174–175; Woodham-Smith, tr 412
  59. ^ Hibbert, tr 421–422; St Aubyn, tr 160–161
  60. ^ Woodham-Smith, tr 213
  61. ^ Hibbert, tr 130; Longford, tr 154; Marshall, tr 122; St Aubyn, tr 159; Woodham-Smith, tr 220
  62. ^ Hibbert, tr 149; St Aubyn, tr 169
  63. ^ Hibbert, tr 149; Longford, tr 154; Marshall, tr 123; Waller, tr 377
  64. ^ Longford, tr. 56; St Aubyn, tr. 29
  65. ^ Hibbert, tr. 150–156; Marshall, tr. 87; St Aubyn, tr. 171–173; Woodham-Smith, tr 230–232
  66. ^ Charles, tr 51; Hibbert, tr 422–423; St Aubyn, tr 162–163
  67. ^ Hibbert, tr 423; St Aubyn, tr 163
  68. ^ Longford, tr 192
  69. ^ St Aubyn, tr 164
  70. ^ Marshall, tr 95–101; St Aubyn, tr 153–155; Woodham-Smith, tr 221–222
  71. ^ Queen Victoria and the Princess Royal, Royal Collection, truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013 
  72. ^ Woodham-Smith, tr 281
  73. ^ Longford, tr 359
  74. ^ Danh hiệu này được đề cập bởi Maud Gonne trong bài viết của ông ta năm 1900 khi kể về chuyến thăm của Victoria tới Ireland
  75. ^ Harrison, Shane (15 tháng 4 năm 2003), “Famine Queen row in Irish port”, BBC News, truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013 
  76. ^ Kinealy, Christine, Private Responses to the Famine, University College Cork, truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013 
  77. ^ Longford, tr 181
  78. ^ Kenny, Mary (2009) Crown and Shamrock: Love and Hate Between Ireland and the British Monarchy, Dublin: New Island, ISBN 1-905494-98-X
  79. ^ St Aubyn, tr 215
  80. ^ St Aubyn, tr 238
  81. ^ Longford, tr 175, 187; St Aubyn, tr 238, 241; Woodham-Smith, tr 242, 250
  82. ^ Woodham-Smith, tr 248
  83. ^ Hibbert, tr 198; Longford, tr 194; St Aubyn, tr 243; Woodham-Smith, tr 282–284
  84. ^ Hibbert, tr 201–202; Marshall, tr 139; St Aubyn, tr 222–223; Woodham-Smith, tr 287–290
  85. ^ Hibbert, tr 161–164; Marshall, tr 129; St Aubyn, tr 186–190; Woodham-Smith, tr 274–276
  86. ^ Longford, tr 196–197; St Aubyn, tr 223; Woodham-Smith, tr 287–290
  87. ^ Longford, tr 191; Woodham-Smith, tr 297
  88. ^ St Aubyn, tr 216
  89. ^ Hibbert, tr 196–198; St Aubyn, tr 244; Woodham-Smith, tr 298–307
  90. ^ Hibbert, tr 204–209; Marshall, tr 108–109; St Aubyn, tr 244–254; Woodham-Smith, tr 298–307
  91. ^ Hibbert, tr 216–217; St Aubyn, tr 257–258
  92. ^ a ă â b c d đ Matthew, H. C. G.; Reynolds, K. D. (2004; online edition October 2009) "Victoria (1819–1901)", Oxford Dictionary of National Biography, Oxford University Press, doi:10.1093/ref:odnb/36652, truy cập 18 October 2010 (subscription required for online access)
  93. ^ Hibbert, tr 217–220; Woodham-Smith, tr 328–331
  94. ^ Hibbert, tr 227–228; Longford, tr 245–246; St Aubyn, tr 297; Woodham-Smith, tr 354–355
  95. ^ Woodham-Smith, tr 357–360
  96. ^ 1855 visit of Queen Victoria, Château de Versailles, truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013 
  97. ^ Hibbert, tr 241–242; Longford, tr 280–281; St Aubyn, tr 304; Woodham-Smith, tr 391
  98. ^ Hibbert, tr 242; Longford, tr 281; Marshall, tr 117
  99. ^ Napoleon III Receiving Queen Victoria at Cherbourg, 5 August 1858, Royal Museums Greenwich, truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013 
  100. ^ Hibbert, tr 255; Marshall, tr 117
  101. ^ Longford, tr 259–260; Weintraub, tr 326 ff.
  102. ^ Longford, tr 263; Weintraub, tr 326, 330
  103. ^ Hibbert, tr 244
  104. ^ Hibbert, tr 267; Longford, tr 118, 290; St Aubyn, tr 319; Woodham-Smith, tr 412
  105. ^ Hibbert, tr 267; Marshall, tr 152; Woodham-Smith, tr 412
  106. ^ Hibbert, tr 265–267; St Aubyn, tr 318; Woodham-Smith, tr 412–413
  107. ^ Waller, tr 393; Weintraub, tr 401
  108. ^ Hibbert, tr 274; Longford, tr 293; St Aubyn, tr 324; Woodham-Smith, tr 417
  109. ^ Longford, tr 293; Marshall, tr 153; Strachey, tr 214
  110. ^ Hibbert, tr 276–279; St Aubyn, tr 325; Woodham-Smith, tr 422–423
  111. ^ Hibbert, tr 280–292; Marshall, tr 154
  112. ^ Hibbert, tr 299; St Aubyn, tr 346
  113. ^ St Aubyn, tr 343
  114. ^ e.g. Strachey, tr 306
  115. ^ Marshall, tr 170–172; St Aubyn, tr 385
  116. ^ Hibbert, tr 310; Longford, tr 321; St Aubyn, tr 343–344; Waller, tr 404
  117. ^ Hibbert, tr 310; Longford, tr 322
  118. ^ Hibbert, tr 323–324; Marshall, tr 168–169; St Aubyn, tr 356–362
  119. ^ Hibbert, tr 321–322; Longford, tr 327–328; Marshall, tr 170
  120. ^ Hibbert, tr 329; St Aubyn, tr 361–362
  121. ^ Hibbert, tr 311–312; Longford, tr 347; St Aubyn, tr 369
  122. ^ St Aubyn, tr 374–375
  123. ^ Marshall, tr 199; Strachey, tr 299
  124. ^ Hibbert, tr 318; Longford, tr 401; St Aubyn, tr 427; Strachey, tr 254
  125. ^ Buckle, George Earle; Monypenny, W. F. (1910–20) The Life of Benjamin Disraeli, Earl of Beaconsfield, vol. 5, tr 49, trích dẫn trong Strachey, tr 243
  126. ^ Hibbert, tr 320; Strachey, tr 246–247
  127. ^ Longford, tr 381; St Aubyn, tr 385–386; Strachey, tr 248
  128. ^ St Aubyn, tr 385–386; Strachey, tr 248–250
  129. ^ Longford, tr 385
  130. ^ Hibbert, tr 343
  131. ^ Hibbert, tr 343–344; Longford, tr 389; Marshall, tr 173
  132. ^ Hibbert, tr 344–345
  133. ^ Hibbert, tr 345; Longford, tr 390–391; Marshall, tr 176; St Aubyn, tr 388
  134. ^ Charles, tr 103; Hibbert, tr 426–427; St Aubyn, tr 388–389
  135. ^ Hibbert, tr 427; Marshall, tr 176; St Aubyn, tr 389
  136. ^ Hibbert, tr 249–250; Woodham-Smith, tr 384–385
  137. ^ Woodham-Smith, tr 386
  138. ^ a ă Hibbert, tr 251; Woodham-Smith, tr 386
  139. ^ St Aubyn, tr 335
  140. ^ Hibbert, tr 361; Longford, tr 402; Marshall, tr 180–184; Waller, tr 423
  141. ^ Hibbert, tr 295–296; Waller, tr 423
  142. ^ Hibbert, tr 361; Longford, tr 405–406; Marshall, tr 184; St Aubyn, tr 434; Waller, tr 426
  143. ^ Waller, tr 427
  144. ^ Nhật kí của Victoria và những bức thư trích dẫn trong Longford, tr 425
  145. ^ Victoria trích dẫn trong Longford, tr 426
  146. ^ Longford, tr 412–413
  147. ^ Longford, tr 426
  148. ^ Longford, tr 411
  149. ^ Hibbert, tr 367–368; Longford, tr 429; Marshall, tr 186; St Aubyn, tr 442–444; Waller, tr 428–429
  150. ^ Bức thư của Victoria cho Montagu Corry, Nam tước Rowton thứ nhất, trích dẫn trong Hibbert, tr 369
  151. ^ Longford, tr 437
  152. ^ Hibbert, tr 420; St Aubyn, tr 422
  153. ^ Hibbert, tr 420; St Aubyn, tr 421
  154. ^ Hibbert, tr 420–421; St Aubyn, tr 422; Strachey, tr 278
  155. ^ Hibbert, tr 427; Longford, tr 446; St Aubyn, tr 421
  156. ^ Longford, tr 451–452
  157. ^ Longford, tr 454; St Aubyn, tr 425; Hibbert, tr 443
  158. ^ Hibbert, tr 443–444; St Aubyn, tr 425–426
  159. ^ Hibbert, tr 443–444; Longford, tr 455
  160. ^ Hibbert, tr 444; St Aubyn, tr 424; Waller, tr 413
  161. ^ Longford, tr 461
  162. ^ Longford, tr 477–478
  163. ^ Hibbert, tr 373; St Aubyn, tr 458
  164. ^ Waller, tr 433; xem thêm Hibbert, tr 370–371 và Marshall, tr 191–193
  165. ^ Hibbert, tr 373; Longford, tr 484
  166. ^ Hibbert, tr 374; Longford, tr 491; Marshall, tr 196; St Aubyn, tr 460–461
  167. ^ Queen Victoria, Royal Household, truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013 
  168. ^ Marshall, tr 210–211; St Aubyn, tr 491–493
  169. ^ Longford, tr 502
  170. ^ Hibbert, tr 447–448; Longford, tr 508; St Aubyn, tr 502; Waller, tr 441
  171. ^ Hibbert, tr 448–449
  172. ^ Hibbert, tr 449–451
  173. ^ Hibbert, tr 447; Longford, tr 539; St Aubyn, tr 503; Waller, tr 442
  174. ^ Hibbert, tr 454
  175. ^ Hibbert, tr 382
  176. ^ Hibbert, tr 375; Longford, tr 519
  177. ^ Hibbert, tr 376; Longford, tr 530; St Aubyn, tr 515
  178. ^ Hibbert, tr 377
  179. ^ Hibbert, tr 456
  180. ^ Longford, tr 546; St Aubyn, tr 545–546
  181. ^ Marshall, tr 206–207, 211; St Aubyn, tr 546–548
  182. ^ Hibbert, tr 457–458; Marshall, tr 206–207, 211; St Aubyn, tr 546–548
  183. ^ Hibbert, tr 436; St Aubyn, tr 508
  184. ^ Hibbert, tr 437–438; Longford, tr 554–555; St Aubyn, tr 555
  185. ^ Longford, tr 558
  186. ^ Hibbert, tr 464–466, 488–489; Strachey, tr 308; Waller, tr 442
  187. ^ Tạp chí của Victoria, 1 tháng 1 năm 1901, trích dẫn trong Hibbert, tr 492; Longford, tr 559 and St Aubyn, tr 592
  188. ^ Bác sĩ riêng của bà Sir James Reid, Tòng nam tước thứ nhất, trích dẫn trong Hibbert, tr 492
  189. ^ Longford, tr 562
  190. ^ Longford, tr 561; St Aubyn, tr 598
  191. ^ Helen Rappaport, “Animals”, Queen Victoria: A Biographical Companion, tr. 34–39, ISBN 978-1-85109-355-7 
  192. ^ Hibbert, tr 497; Longford, tr 563
  193. ^ St Aubyn, tr 598
  194. ^ Longford, tr 563
  195. ^ Hibbert, tr 498
  196. ^ Longford, tr 565; St Aubyn, tr 600
  197. ^ Gander, Kashmira (26 tháng 8 năm 2015). “Queen Elizabeth II to become Britain's longest reigning monarch, surpassing Queen Victoria”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2015. 
  198. ^ "Khi Nữ hoàng Victoria lừa phỉnh", Daily Mail, 19 tháng 4, 1996
  199. ^ Fulford, Roger (1967) "Victoria", Collier's Encyclopedia, United States: Crowell, Collier and Macmillan Inc., vol. 23, tr 127
  200. ^ Ashley, Mike (1998) British Monarchs, London: Robinson, ISBN 1-84119-096-9, tr 690
  201. ^ Hibbert, tr xv; St Aubyn, tr 340
  202. ^ St Aubyn, tr 30; Woodham-Smith, tr 87
  203. ^ Hibbert, tr 503–504; St Aubyn, tr 30; Woodham-Smith, tr 88, 436–437
  204. ^ Hibbert, tr 503
  205. ^ Hibbert, tr 503–504; St Aubyn, tr 624
  206. ^ Hibbert, tr 61–62; Longford, tr 89, 253; St Aubyn, tr 48, 63–64
  207. ^ Marshall, tr 210; Waller, tr 419, 434–435, 443
  208. ^ Waller, tr 439
  209. ^ St Aubyn, tr 624
  210. ^ Hibbert, tr 504; St Aubyn, tr 623
  211. ^ e.g. Hibbert, tr 352; Strachey, tr 304; Woodham-Smith, tr 431
  212. ^ Waller, tr 429
  213. ^ Bagehot, Walter (1867) The English Constitution, London:Chapman và Hall, tr 103
  214. ^ St Aubyn, tr 602–603; Strachey, tr 303–304; Waller, tr 366, 372, 434
  215. ^ Erickson, Carolly (1997) Her Little Majesty: The Life of Queen Victoria, New York: Simon & Schuster, ISBN 0-7432-3657-2
  216. ^ Rogaev, Evgeny I. et al. (2009) "Genotype Analysis Identifies the Cause of the 'Royal Disease'", Science, vol. 326, no. 5954, tr 817, doi:10.1126/science.1180660, retrieved 13 October 2010
  217. ^ Potts và Potts, tr 55–65, trích dẫn trong Hibbert tr. 217; Packard, tr 42–43
  218. ^ Jones, Steve (1996) In the Blood, BBC documentary
  219. ^ McKusick, Victor A. (1965) "The Royal Hemophilia", Scientific American, vol. 213, tr 91; Jones, Steve (1993) The Language of the Genes, London: HarperCollins, ISBN 0-00-255020-2, tr 69; Jones, Steve (1996) In The Blood: God, Genes and Destiny, London: HarperCollins, ISBN 0-00-255511-5, tr 270; Rushton, Alan R. (2008) Royal Maladies: Inherited Diseases in the Royal Houses of Europe, Victoria, British Columbia: Trafford, ISBN 1-4251-6810-8, tr 31–32
  220. ^ Hemophilia B, National Hemophilia Foundation, truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2015 
  221. ^ A. N. Wilson, The Victoria (Hutchinson, 2002). ISBN 0-09-179421-8, trang 25
  222. ^ a ă Whitaker's Almanack (1900) Facsimile Reprint 1998, London: Stationery Office, ISBN 0-11-702247-0, tr 86
  223. ^ Whitaker's Almanack (1993) Concise Edition, London: J. Whitaker and Sons, ISBN 0-85021-232-4, tr 134–136

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Những nguồn chính được công bố[sửa | sửa mã nguồn]

  • Benson, A.C.; Esher, Viscount (editors, 1907) The Letters of Queen Victoria: A Selection of Her Majesty's Correspondence Between the Years 1837 and 1861, London: John Murray
  • Bolitho, Hector (editor, 1938) Letters of Queen Victoria from the Archives of the House of Brandenburg-Prussia, London: Thornton Butterworth
  • Buckle, George Earle (editor, 1926) The Letters of Queen Victoria, 2nd Series 1862–1885, London: John Murray
  • Buckle, George Earle (editor, 1930) The Letters of Queen Victoria, 3rd Series 1886–1901, London: John Murray
  • Connell, Brian (1962) Regina v. Palmerston: The Correspondence between Queen Victoria and her Foreign and Prime Minister, 1837–1865, London: Evans Brothers
  • Duff, David (editor, 1968) Victoria in the Highlands: The Personal Journal of Her Majesty Queen Victoria, London: Muller
  • Dyson, Hope; Tennyson, Charles (editors, 1969) Dear and Honoured Lady: The Correspondence between Queen Victoria and Alfred Tennyson, London: Macmillan
  • Esher, Viscount (editor, 1912) The Girlhood of Queen Victoria: A Selection from Her Majesty's Diaries, 1832–40, London: John Murray
  • Fulford, Roger (editor, 1964) Dearest Child: Letters Between Queen Victoria and the Princess Royal, 1858–61, London: Evans Brothers
  • Fulford, Roger (editor, 1968) Dearest Mama: Letters Between Queen Victoria and the Crown Princess of Prussia, 1861–64, London: Evans Brothers
  • Fulford, Roger (editor, 1971) Beloved Mama: Private Correspondence of Queen Victoria and the German Crown Princess, 1878–85, London: Evans Brothers
  • Fulford, Roger (editor, 1971) Your Dear Letter: Private Correspondence of Queen Victoria and the Crown Princess of Prussia, 1863–71, London: Evans Brothers
  • Fulford, Roger (editor, 1976) Darling Child: Private Correspondence of Queen Victoria and the German Crown Princess of Prussia, 1871–78, London: Evans Brothers
  • Hibbert, Christopher (editor, 1984) Queen Victoria in Her Letters and Journals, London: John Murray, ISBN 0-7195-4107-7
  • Hough, Richard (editor, 1975) Advice to a Grand-daughter: Letters from Queen Victoria to Princess Victoria of Hesse, London: Heinemann, ISBN 0-434-34861-9
  • Jagow, Kurt (editor, 1938) Letters of the Prince Consort 1831–61, London: John Murray
  • Mortimer, Raymond (editor, 1961) Queen Victoria: Leaves from a Journal, New York: Farrar, Straus & Cudahy
  • Ponsonby, Sir Frederick (editor, 1930) Letters of the Empress Frederick, London: Macmillan
  • Ramm, Agatha (editor, 1990) Beloved and Darling Child: Last Letters between Queen Victoria and Her Eldest Daughter, 1886–1901, Stroud: Sutton Publishing, ISBN 978-0-86299-880-6
  • Victoria, Queen (1868) Leaves from the Journal of Our Life in the Highlands from 1848 to 1861, London: Smith, Elder
  • Victoria, Queen (1884) More Leaves from the Journal of Our Life in the Highlands from 1862 to 1882, London: Smith, Elder

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Nữ hoàng Victoria
Nhánh thứ của Nhà Welf
Sinh: 24 May 1819 Mất: 22 January 1901
Tước hiệu
Tiền vị:
William IV
Nữ hoàng nước Anh thống nhất
20 tháng 6 1837 – 22 tháng 1 1901
Kế vị
Edward VII
Trống ngôi
Người cuối cùng giữ danh hiệu
Bahadur Shah II
như là Hoàng đế Mughal
Nữ hoàng Ấn Độ
1 tháng 5 1876 – 22 tháng 11 1901

Bản mẫu:Vua Canada Bản mẫu:Hoàng đế Ấn Độ Bản mẫu:Công chúa Anh Bản mẫu:Công chúa Hanover Bản mẫu:Công nương Saxe-Coburg và Gotha qua hôn nhân Bản mẫu:Great Hunger