Edward VII

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Edward VII của Anh)
Bước tới: menu, tìm kiếm


Edward VII
Edward VII in coronation robes.jpg
Chân dung nhà vua trong buổi lễ đăng quang, vẽ bởi Sir Luke Fildes
Vua của nước Anh thống nhấtcác thuộc địa Anh, Hoàng đế Ấn Độ(more...)
Tại vị 22 January 1901 – 6 May 1910
Đăng quang 9 tháng 8 1902
Imperial Durbar 1 tháng 1 1903
Tiền nhiệm Nữ hoàng Victoria
Thủ tướng Xem danh sách
Kế nhiệm George V
Thông tin chung
Phối ngẫu Alexandra của Đan Mạch
(m. 1863)
Hậu duệ Hoàng tử Albert Victor, Công tước Clarence và Avondale
George V
Louise, Công chúa hoàng gia
Công chúa Victoria
Maud, Hoàng hậu Na Uy
Hoàng tử Alexander John xứ Wales
Tên đầy đủ Albert Edward
Hoàng tộc Saxe-Coburg và Gotha
Thân phụ Albert, Hoàng phu
Thân mẫu Nữ hoàng Victoria
Sinh 9 tháng 11, 1841(1841-11-09)
Cung điện Buckingham, London
Mất 6 tháng 5, 1910 (68 tuổi)
Cung điện Buckingham, London
An táng Nhà nguyện St George, Lâu đài Windsor, Windsor, Berkshire
Tôn giáo Anh giáo
Chữ ký của Edward VII

Edward VII (Albert Edward; 9 tháng 11, 1841 – 6 tháng 5, 1910) là Vua của nước Anh thống nhất và các thuộc địa AnhHoàng đế Ấn Độ từ 22 tháng 1 năm 1901 cho đến khi ông qua đời vào năm 1910.

Là con trai lớn của Nữ hoàng VictoriaHoàng thân Albert xứ Saxe-Coburg và Gotha, Edward có quan hệ bà con với khắp các hoàng gia châu Âu. Trước khi kế vị ngai vàng, ông giữ địa vị người thừa kế và mang danh hiệu Hoàng tử xứ Wales trong thời gian dài hơn bất kì người tiền nhiệm nào. Trong những năm trị vì lâu dài của mẫu thân, ông bị loại khỏi các công việc chính trị, và dành sự quan tâm cho thời trang, và những công việc nhàn hạ. Ông chu du khắp nước Anh để thực hiện các nghi lễ công cộng, và đại diện cho Anh quốc đến công du các nước khác. Chuyến đi thăm Bắc Mĩ năm 1860Ấn Độ năm 1875 khá thành công, mặc dù ông vẫn mất điểm trước công chúng khi bị coi một hoàng tử ăn chơi trác táng và có mối quan hệ không mấy tốt đẹp với mẹ mình.

Khi làm vua, Edward đóng vai trò trong công cuộc hiện đại hóa Hạm đội quốc gia Anh và tái tổ chức quân đội Anh sau Chiến tranh Boer thứ hai. Ông lập lại những nghi lễ truyền thống như hiênh diện trước công chúng và mở rộng xã hội hóa trong hoàng gia. Ông thiết lập quan hệ tốt đẹp giữa Anh với các nước châu Âu khác, đặc biệt là Pháp, do đó ông được quần chúng gọi là "người tạo ra hòa bình", nhưng quan hệ giữa ông với cháu gọi ông bằng cậu, Đức hoàng Wilhelm II, khá tội tệ. Thời đại Edward, kéo dài suốt những năm trị vì của Edward và mang thêm theo tên ông, trùng hợp với thời điểm bắt đầu của thế kỉ mới và dự báo trước những thay đổi đáng kể trong công nghiệpxã hội, bao gồm sự phát triển của tua bin hơi nước và sự nổi lên của chủ nghĩa xã hội. Ông mất năm 1910 vào cao trào của cuộc khủng hoảng hiến pháp và nó được giải quyết vào năm sau với Đạo luật Nghị viện 1911, hạn chế quyền lực của Thượng viện vốn được lập ra không qua bầu cử.

Tuổi thơ và giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Albert Edward, Hoàng tử xứ Wales, bởi Winterhalter, 1846.

Edward chào đời lúc 10:48 sáng ngày 9 tháng 11 năm 1841 tại Cung điện Buckingham.[1] Ông là con trai lớn nhất và là người con thứ hai của Nữ hoàng Victoria cùng chồng (và cũng là em họ bà) Hoàng thân Albert xứ Saxe-Coburg và Gotha. Ông được đặt tên thánh Albert Edward tại Nhà nguyện St George,Lâu đài Windsor, ngày 25 tháng 1 năm 1842.[a] Ông mang tên Albert theo tên cha ông và tên Edward theo tên ông ngoại quá cố Hoàng tử Edward, Công tước xứ Kent và Strathearn. Ông được gọi là Bertie trong nội bộ hoàng gia trong suốt cuộc đời ông.[3]

Là con trai lớn của người đứng đầu nước Anh, ông hiển nhiên trở thành Công tước CornwallCông tước Rothesay ngay khi chào đời. Là con trai của Hoàng phu Albert, ông cũng mang địa vị của Hoàng thân xứ Saxe-Coburg và GothaCông tước Saxony. Ông được tấn phong Hoàng tử xứ WalesBá tước Chester ngày 8 tháng 12 năm 1841, Bá tước Dublin ngày 17 tháng 1 năm 1850, danh dự Hiệp sĩ Garter ngày 9 tháng 11 năm 1858, và Hiệp sĩ Thistle ngày 24 tháng 5 năm 1867.[4] Năm 1863, ông tuyên bố từ bỏ quyền thừa kế công quốc Saxe-Coburg và Gotha cho em trai ông, Hoàng tử Alfred.[5]

Nữ hoàng Victoria và Hoàng phu Albert xác định rằng hoàng trưởng tử nên được học trong một nền giáo dục sẽ chuẩn bị cho ông trên cương vị một vị vua lập hiến hiện đại. Khi lên bảy, Edward bắt đầu được học tập trong một chương trình giáo dục nghiêm khắc do Hoàng phu Albert đặt ra, và bị khá nhiều gia sư giám sát. Không như chị gái ông Victoria, Edward không nổi trội trong học tập.[6] Ông cố gắng đáp ứng sự kì vọng của song thân, nhưng không mấy thành công. Mặc dù Edward không phải là một học sinh chuyên cần - tài năng thực sự của ông là sự quyến rũ, dễ gần và khéo xử sự — Benjamin Disraeli đã mô tả ông nắm bắt tốt, sáng dạ và cách cư xử đáng yêu.[7] Sau khi học xong chương trình trung cấp, gia sư của ông được thay thế bằng một ủy viên chính phủ duy nhất, Robert Bruce.

Sau một chuyến du học đến Rome, diễn ra vào những tháng đầu năm 1859, ông dành cả mùa hạ năm đó học tại Đại học Edinburgh cùng với những nhân vật khác, như nhà hóa học Lyon Playfair. Tháng 10, ông trúng tuyển vào Christ Church, Oxford.[8] Lúc này đã thoát khỏi nền giáo dục bị kềm kẹp chặt của cha mẹ, ông bắt đầu say mê nghiên cứu và vượt qua thành công các kì thi.[9] Năm 1861, ông chuyển sang Trinity College, Cambridge,[10] nơi ông được dày kèm môn sử bởi Charles Kingsley, Giáo sư lịch sử cấp cao.[11] Những nỗ lực của Kingsley đem đến bảng thành tích học tập tốt nhất trong cuộc đời Edward, và Edward thực sự mong đợi những bài giảng của ông.[12]

Thời thanh niên[sửa | sửa mã nguồn]

Edward tại Niagara Falls, 1860

Năm 1860, Edward có chuyến đi đầu tiên tới Bắc Mỹ trên tư cách người thừa kế ngôi vua Anh. Những hành xử ân cần, vui tính, tự tin và thân thiện của ông làm cho chuyến thăm đạt được thành công lớn.[13] Ông dự khánh thành Cầu Victoria, Montreal, bắt qua sông St Lawrence, và xếp viên gạch đầu tiên xây Parliament Hill, Ottawa. Ông xem Charles Blondin chinh phục Niagara Falls từ trên cao, và dành thời gian ba ngày với Tổng thống James Buchanan tại Nhà Trắng. Buchanan cùng đi với hoàng tử đến Mount Vernon, để bày tỏ lòng tôn kính của ông trước mộ George Washington. Đám đông chào đón ông ở khắp mọi nơi. Ông đã gặp Henry Wadsworth Longfellow, Ralph Waldo EmersonOliver Wendell Holmes. Lần đầu tiên người ta đã cầu nguyện cho hoàng gia tại Nhà thờ Trinity, New York, kể từ năm 1776.[13] Chuyến đi bốn tháng trên lãnh thổ CanadaHoa Kỳ đã củng cố cho Edward lòng tự tin và tự trọng, và đem lại nhiều lợi ích về ngoại giao cho Liên hiệp Anh.[14]

Edward hi vọng sẽ được giao trọng trách trong Quân đội Anh, nhưng mẹ ông phủ quyết không cho ông hoạt động quân sự.[15] Ông được công nhận là đại tá vào ngày 9 tháng 11 năm 1858[16]—trong nỗi thất vọng của ông, vì ông muốn giành công việc bằng một kì sát hạch kĩ lưỡng.[9] Tháng 9 năm 1861, Edward được đưa đến Đức, được cho là nhằm mục đích quan sát những cuộc diễn tập quân sự, nhưng mục đích thực sự của chuyến đi là một cuộc gặp giữa ông và Công chúa Alexandra của Đan Mạch, con gái lớn của Thái tử Christian của Đan Mạch cùng vợ ông ta là Louise. Nữ hoàng Victoria và Hoàng thân Albert đã quyết định từ lâu về hôn sự giữa Edward và Alexandra. Họ gặp nhau ở Speyer ngày 24 tháng 9 dưới sự xếp đặt của chị ông, Victoria, người đã thành hôn với thái tử nước Phổ năm 1858.[17] Chị của Edward, làm việc này theo sự hướng dẫn của mẹ họ, đã gặp Công chúa Alexandra tại Strelitz vào tháng 6; công chúa trẻ người Đan Mạch đã gây ấn tượng lớn đối với thái tử phi. Edward và Alexandra thân thiết với nhau ngay từ đầu; và cuộc gặp diễn ra tốt đẹp đối với cả hai bên, và kế hoạch hôn sự tiếp tục tiến triển.[18]

Từ thời gian này, Edward đã mang tiếng là một kẻ ăn chơi trác táng. Quyết tâm học hỏi kinh nghiệm trong quân đội, Edward tham dự diễn tập ở Ireland, trong thời gian đó ông dành ba đêm với một ả đào hát, Nellie Clifden, người này bị đem giấu vào trại của các sĩ quan đồng nghiệp.[19] Hoàng thân Albert, dù đang bị bệnh, đã kinh hoảng và đến gặp Edward tại Cambridge để khiển trách. Albert mất vào tháng 12 năm 1861 chỉ hai tuần sau chuyến thăm này. Nữ hoàng Victoria không bao giờ nguôi ngoai, bà mặc đồ tang trong suốt quãng đời còn lại và đay nghiến Edward vì cái chết của phụ thân ông.[20] Ban đầu, bà nhìn con trai bằng ánh mắt chán ghén, cho rằng ông phù phiếm và vô trách nhiệm. Bà viết thư cho trưởng công chúa, "Quả nhân không bao giờ có thể, hay sẽ, nhìn em con mà không rùng mình."[21]

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày trở thành góa phụ, Nữ hoàng Victoria không muốn xuất hiện trước công chúng. Không lâu sau cái chết của Hoàng thân Albert, bà xếp đặt cho Edward thực hiện các chuyến công du tới Trung Đông, thăm Ai Cập, Jerusalem, Damascus, BeirutConstantinople.[22] Chính phủ Anh muốn Edward củng cố tình hữu nghị với nhà cai trị Ai Cập, Said Pasha, để ngăn chặn người Pháp kiểm soát kênh đào Suez nếu Đế chế Ottoman sụp đổ. Đó là chuyến thăm hàng gia đầu tiên mà một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, Francis Bedford, được tham dự.[23] Khi Edward triwr về Anh, những sự chuẩn bị cho hôn nhân đang được tiến hành, và hoàn tất tại Laeken thuộc Bỉ ngày 9 tháng 9 năm 1862.[24] Edward kết hôn với Alexandra tại Nhà nguyện St George, Lâu đài Windsor, ngày 10 tháng 3 năm 1863. Ông 21 tuổi, còn bà lên 18.

Edward và Alexandra vào ngày cưới của họ, 1863.

Cặp đôi này đã thành lập Marlborough House làm nơi cư trú của họ ở Lon don và Sandringham House ở Norfolk làm nơi ở khi họ ẩn dật. Họ có những thú tiêu khiển xa hoa. Cuộc hôn nhân gặp sự phản đối trong suốt thể kỉ đó vì một nửa dòng máu của Nữ hoàng Victoria là người Đức, và Đan Mạch tranh chấp với Đức các lãnh thổ SchleswigHolstein. Khi phụ thân của Alexandra bước lên ngai vàng Đan Mạch thánh 11, 1863, Liên minh Đức đã có cơ hội tấn công và thôn tính Schleswig-Holstein. Nữ hoàng Victoria có quan tâm rằng đó là một đám cưới phù hợp cho tình hình chính trị đương thời.[25] Sau đám cưới, bà tỏ ra lo lắng về phong cách sống của họ và cố gắng áp đặt họ trong nhiều vấn đề, bao gồm việc đặt tên cho con cái họ.[26]

Edward có nhiều tình nhân xen vào cuộc sống hôn nhân của ông. Ông tằng tịu với đào hát Lillie Langtry; Lady Randolph Churchill (sinh ra Jennie Jerome, là mẹ của Winston Churchill);[b] Daisy Greville, Nữ Bá tước Warwick; đào hát Sarah Bernhardt; nữ quý tộc Lady Susan Vane-Tempest; ca sĩ Hortense Schneider; ả gái điếm Giulia Beneni (được gọi là "La Barucci"); Agnes Keyser; và Alice Keppel. Ước đoán là có ít nhất là 55 cuộc tình vụng trộm.[28] Bằng cách nào mà các mối quan hệ này kết thúc thì người ta không rõ. Edward luôn tìm cách giữ kín, nhưng điều đó không ngăn được những tin đồn trong xã hội và báo chí.[29] Mộng trong những cháu cố của Alice Keppel, Camilla Parker Bowles, trở thành tình nhân và sau đó là vợ chính thức của Charles, Hoành tử xứ Wales, một trong những cháu sơ của Edward. Có tin đồn rằng bà của Camilla, Sonia Keppel (chào đời tháng 5 năm 1900), là con ngoại hôn của Edward, nhưng bà "gần như chắc chắn" là con gái của George Keppel, vì bà rất giống ông ta.[30] Edward không bao giờ thừa nhận bất kì đứa con ngoại hôn nào.[31] Alexandra được tin là biết rõ về cái thói trăng hoa của chồng nhưng vẫn chấp nhận như vậy.[32]

Năm 1869, Sir Charles Mordaunt, một thành viên trong Nghị viện, đe dọa sẽ cho Edward trở thành đồng bị đơn trong vụ kiện li hôn của ông ta. Cuối cùng, ông ta không làm như vậy dù Edward được triệu tập làm nhân chứng trong phiên tòa đầu năm 1870. Người ta chỉ ra rằng Edward đã đến nhà của Mordaunts trong khi Sir Charles đang ngồi họp trong Viện Thứ dân. Mặc dù không có gì nhiều hơn được chứng minh và Edward phủ nhận chuyện ngoại tình, lời đồn đoán về hành động này vẫn gây hại cho ông.[9][33]

Trong những năm 1880, Edward là khánh quen của các nhà thổ ở Paris, đáng kể nhất là Le Chabanais, đây coi như là công trình hàng đầu ở Paris, cái thành phố mà các nhà thổ được coi là hợp pháp. Một căn phòng có bồn tắm đôi khi được chứa đầy rượu champagne; và một thiết kế đặc biệt và tinh xảo siège d'amour (chỗ ngồi tình yêu) tạo điều kiện cho quan hệ bằng miệng thật dễ dàng và còn những hình thức quan hệ khác với hai hoặc ba người. Nó bây giờ là một hiện vật tại viện bảo tàng.[34][35][36]

Trong khi Victoria để tang chồng, Edward là người đi đầu trong ý tưởng cho hoàng gia xuất hiện trước công chúng như chúng ta nhìn thấy họ hôm nay, điển hình như, khánh thành Thames Embankment năm 1871, Mersey Tunnel năm 1886, và Tower Bridge năm 1894[37]— nhưng nữ hoàng không cho Edward tham gia tích cực vào các hoạt động nhà nước cho đến năm 1898.[38][39] Ông đã được gửi một phần quan trọng của các tài liệu chính phủ, nhưng bà không cho ông xem bản gốc.[9] Ông thể hiện sự bực bội với mẹ ông bằng cách đứng về phía Đan Mạch trong Vấn đề Schleswig-Holstein năm 1864 (khi bà ta đứng về Đức) và trong cùng năm quấy rầy mẹ ông một lần nữa bằng cách cố gắng dự một cuộc gặp Giuseppe Garibaldi.[40] Thủ tướng thuộc Đảng Tự do William Ewart Gladstone đã gửi cho ông các giấy tờ một cách bí mật.[9] Từ 1886, Ngoại trưởng Lãnh chúa Rosebery các bản thông điệp của bộ Ngoại giao, và từ 1892 một vài tài liệu nội các được đến tay ông.[9]

Năm 1870 sự ủng hộ dành cho phe Cộng hòa ở Anh tăng lên khi hoàng đế Pháp, Napoleon III, chiến bại trong Chiến tranh Pháp-PhổĐệ Tam Cộng hòa Pháp được thành lập.[41] Tuy nhiên, mùa đông năm 1871, trong một lần bệnh suýt chết thì Edward đã chiếm được tình cảm của công chúng và cải thiện được quan hệ với mẹ ông. Trong khi đang cư ngụ tại Londesborough Lodge, gần Scarborough, North Yorkshire, Edward nhiễm bệnh thương hàn, căn bệnh được cho là đã dẫn đến cái chết của thân phụ ông. Sự lo lắng lớn trên khắp cả nước, và một trong số những người khách của ông (Lãnh chúa Chesterfield) chết. Sự hồi phục của Edward đã khiến mọi thứ hết căn thẳng.[9] Các buổi lễ công cộng bao gồm Liên hoan Te Deum của Arthur Sullivan. Edward quen biết với các chính trị gia của tất cả các đảng, bao gồm những người Cộng hòa, coi họ như bạn của ông, và vì thế làm tiêu tan hết mọi ý kiến chống lại ông.[42]

Edward (chính giữa phía trước) ở Ấn Độ, 1876.

Tháng 10 năm 1875 Edward có chuyến đi đến Ấn Độ và dành thời gian 8 tháng trên tiểu lục địa này. Các cố vấn của ông đã nhận xét về cách cư xử của ông với tất cả mọi người là như nhau, không phân biệt vị trí xã hội và sắc tộc của họ. Trong thư gửi về nhà, ông đã phàn nàn về sự đối đãi của các quan chức Anh đối với người Ấn bản địa: "Bởi vì ông ta có một khuôn mặt đen và một tôn giáo khác với chúng ta, không có lí do tại sao chúng ta lại coi ông ta là một kẻ vũ phu."[43] Do đó, Huân tước Salisbury, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ, đã ban hành chỉ đạo mới và ít nhất thống sứ đã bị đuổi khỏi chính quyền.[9] Vào cuối chuyến đi này, Nữ hoàng Victoria được Nghị viện tôn làm Nữ hoàng Ấn Độ, một phần do kết quả khả quan từ chuyến thăm của ông.[44]

Người thừa kế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông nổi tiếng trên khắp thế giới là một khuôn mẫu cho thời trang nam giới.[45][46] Ông đặt ra các trào lưu thời trang vải tweed, mũ Homburgáo vec-tông Norfolk, và làm phổ biển việc mang cà vạt đen với áo vét-tông sẫm màu, thay vì cà vạt trắng và có đuôi.[47] Ông là người đi tiên phong trong phong cách ấn ống quần từ bên này sang bên kia trong cái được ưa thích bây giờ là vạt ngực ở phía trước và những nếp gấp đen,[48] và được cho là đã giới thiệu áo sơ mi có cổ áo đứng lên quay xuống.[49] Một người quá khắt khe về mặt trang phục, ông được đòn rằng đã la rầy Huân tước Salisbury vì ông này mặc quần của một người anh cả trong Trinity House với áo bành tô dành cho ủy viên Hội đồng cơ mật. Đang phải lo lắng sâu về một cuộc khủng hoảng quốc tế, Salisbury thông báo với Hoàng tử rằng đó là một buổi sáng ảm đạm, và "tâm trí của thần đang phải bị tràn phần bởi những thứ ít có quan trọng."[50] Theo truyền thống thì một người đàn ông không cài cúc áo gille cuối cùng được cho là có ảnh hưởng đến Edward, ông được cho là đã làm như vậy vì cái vòng eo quá cỡ của ông[9][51] Vòng eo của ông lên đến 48 inches (122 cm) vào thời điểm không lâu trước khi ông đăng quang.[52] Ông đã giới thiệu thói quen ăn thịt bò nướng, khoai tây nước, nước sốt cải ngựa và yorkshire pudding vào chủ nhật, vẫn còn là một thói quen của người Anh được ưa chuộng trong bữa trưa chủ nhật.[53][c]

Edward là nhà bảo trợ khoa học và nghệ thuật và ông góp ông lập nên Học viện Âm nhạc Hoàng gia. Ông thành lập học viện năm 1883 với những câu khẩu hiệu, "Tiết học không thể đứng lâu hơn ngoài lớp học ... Tôi tuyên bố cho âm nhạc rằng nó đem lại sự hợp nhất cảm giác mà tôi có nhiều ham muốn để thúc đẩy."[44] Cùng thời điểm đó, ông ham mê cờ bạc và thể thao và là một thợ săn nhiệt tình. Ông ra lệnh cho tất cả các đồng họ tại Sandringham phải chạy trước nửa giờ để cho có nhiều thời gian săn bắn hơn. Đó là một truyền thống của Sandringham Time vẫn tiếp tục cho đến 1936, khi nó bị bãi bỏ bởi Edward VIII.[55] Ông cũng xây một sân golf tại Windsor. Trong những năm 1870 vị vua tương lai có quan tâm đến việc nuôi ngựa và các cuộc đua ngựa. Năm 1896, chú ngựa của ông Persimmon đã giành chiến thắng trong cả Derby StakesSt Leger Stakes. Năm 1900, anh em của Persimmon, Diamond Jubilee, đã thắng năm cuộc đua (Derby, St Leger, 2,000 Guineas Stakes, Newmarket StakesEclipse Stakes)[56] và một chú ngựa khác của Edward, Ambush II, vô địch Grand National.[57]

Tập tin:Royal family group 1896.jpg
Edward (bên phải) cùng mẹ ông (chính giữa) và bà con người Nga: Nga hoàng Nicholas II (bên trái), Hoàng hậu Alexandra và cô bé là Nữ Đại Công tước Olga Nikolaevna, 1896

Năm 1891 Edward bị lôi kéo vào vụ scandal baccarat hoàng gia, khi có thông tin rò rỉ ra là ông đã chơi trò chơi thẻ một cách bất hợp pháp để kiếm tiền những năm trước. Hoàng tử bị buộc phải xuất hiện trên tư cách nhân chứng trong phiên tòa lần thứ hai khi một trong những người tham gia kiện không thành công người cùng chơi của ông ta vì vu khống ông ta gian lận.[58] Cùng năm đó ông vướng vào một vụ xung đột cá nhân, khi Huân tước Charles Beresford đe dọa sẽ tiết lộ đời sống riêng tư của Edward lên báo chí, như một sự phản đối chống lại việc Edward can thiệp vào chuyện của Beresford với Daisy Greville, Nữ Bá tước Warwick. Tình bạn giữa hai người bị hủy hoại và họ tiếp tục đay nghiên nhau trong những năm còn lại của cuộc đời họ.[59] Thông thường, cơn giận của Edward sẽ dịu đi trong thời gian ngắn, và "sau khi ông đã để cho chính ông đi... [ông sẽ] làm dịu vấn đề bằng sự tử tế đặc biệt".[60]

Cuối năm 1891 con trai lớn của Edward, Albert Victor, đính hôn với Công nương Victoria Mary xứ Teck. Chỉ vài tuần sau, đầu năm 1892, Albert Victor chết vì viêm phổi. Edward rất đau buồn. "Để mất người con trưởng của tôi", ông viết, "là một trong những tai ương mà tôi không bao giờ có thể hoàn toàn vượt qua được". Edward nói với Nữ hoàng Victoria, "[Nhi thần sẽ] dành cho cuộc sống cho nó, trong khi nhi thần không còn đặt chút giá trị cho cho bản thân".[61] Albert Victor là người con trai thứ hai của Edward chết. Năm 1871, người con trai út, Alexander John, chết chỉ 24 tiếng sau khi chào đời. Edward khăng khăng đòi đặt Alexander John vào một quan tài riêng biệt với "những giọt nước mắt lăn dài trên má".[62]

Trong một gần đến thăm Đan Mạch và đi qua Bỉ ngày 4 tháng 4 năm 1900 là mục tiêu của một nỗ lực ám sát, khi thủ phạm 15 tuổi Jean-Baptiste Sipido bắn vào ông để phản đối Chiến tranh Boer. Sipido, dù rõ ràng là có tội, nhưng được tuyên bố trắng án ở một tòa án Bỉ vì chưa đủ tuổi.[63] Những kỉ luật không chặt chẽ của nhà chức trách Bỉ, cùng với sự ghê tởm của người Anh về những tội ác của người Bỉ ở Congo, đã làm xấu đi mối quan hệ vốn đã không mấy êm đẹp giữa Vương quốc Anh với Lục địa. Tuy nhiên, trong 10 năm tiếp theo, Edward cư xử nhã nhặn và hợp lòng dân, và cũng vì ông biết dùng mối quan hệ dây mơ rễ má giữa các thành viên trong các hoàng gia, nên đã giúp được cho người Anh trong khối liên minh ở châu Âu.[64]

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ Nữ hoàng Victoria chết vào ngày 22 tháng 1 năm 1901, Edward đã trở thành Vua của Nước Anh thống nhất, Hoàng đế Ấn Độ, và thêm một sự đổi mới, là Vua của các thuộc địa Anh.[65] Ông chọn Vương hiệu của ông là Edward VII, thay vì Albert Edward— cái tên mà mẹ ông có ý cho ông sử dụng[d] - tuyên bố rằng ông không muốn "đánh giá thấp tên của Albert" và thu nhỏ thân phận của cha ông với "tên cần được đứng một mình".[66] Chữ số VII thường được bỏ qua ở Scotland, thậm chí trong nhà thờ nhà nước, trong sự chống đối những vị vua Edward trước là những vị vua Anh đã "bị loại trừ khỏi Scotland bằng các trận chiến".[9] J. B. Priestley nhớ lại, "Tôi chỉ là một đứa trẻ khi ông kế nhiệm Victoria năm 1901, nhưng tôi có thể làm chứng cho sự nổi tiếng phi thường của ông. Trong thực tế ông là vị vua Anh được lòng dân nhất tôi đã được biết từ những năm 1660."[67]

Tranh biến họa trong tạp chí Puck, 1901.

Ông tặng ngôi nhà của song thân ông, Osborne thuộc Isle of Wight, cho quốc gia và tiếp tục sống tại Sandringham.[68] Ông có thể đủ điều kiện để được coi là cao thượng; thư kí riêng của ông, Sir Francis Knollys, tuyên bố rằng ông là người thừa kế đầu tiên lên ngai vàng có sự uy tín.[69] Tài chính của Edward được quản lí bởi Sir Dighton Probyn, Comptroller of the Household (quản gia), và được giúp ích từ những người bạn tài chính người Do Thái của Edward, như Ernest Cassel, Maurice de Hirschgia đình Rothschild.[70] Vào thời điểm phong trào bài Do Thái phát triển trên diện rộng, Edward đã gặp phải nhiều lời chỉ trích công khai vì thân thiện với người Do Thái.[71][72]

Lễ đăng quang của Edward theo kế hoạch ban đầu sẽ diễn ra ngày 26 tháng 6, nhưng hai ngày trước đó 24 tháng 6, ông được chẩn đoán mắc viêm ruột thừa.[73] Viêm ruột thừa thường không được điều trị bằng phẫu thuật vì dẫn tới tỉ lệ tử vong khá cao, nhưng sự phát triển trong kĩ thuật gây mêsát trùng trong khoảng 50 năm trước đó khiến cho ca phẫu thuật đảm bảo tính an toàn hơn.[74] Sir Frederick Treves, với sự ủng hộ của Huân tước Lister, thực hiện ca mổ và tháo ra khoảng 1 phanh (0,57 lít) mủ từ áp xe qua một vết rạch nhỏ (xuyên qua độ dày 4,5 inch của tường bụng và mỡ bụng); kết quả này cho thấy sự may mắn căn nguyên không phải do ung thư.[75] Hai tuần sau, có tuyên bố rằng nhà vua đã qua cơn nguy kịch. Treves được tưởng thưởng bằng hàm nam tước (mà Edward đã xếp đặt trước ca mổ)[76] và phẫu thuật ruột thừa trở thành liệu pháp phổ biến trong y học.[74] Edward được trao vương miện tại Tu viện Westminster ngày 9 tháng 8 năm 1902 bởi Tổng Giám mục Canterbury, Frederick Temple, đã 80 tuổi, ông ta chết chỉ bốn tháng sau đó.[73]

Edward tân trang lại các cung điện hoàng gia, giới thiệu lại những nghi lễ truyền thống, như Khai trương Tòa nhà Quốc hội, thứ bị quên lãng dưới thời mẹ ông, và thành lập các huân chương mới, chẳng hạn như Huân chương Merit, để ghi nhận những đóng góp trong lĩnh vực khoa học nghệ thuật.[77] Năm 1902, Shah của Ba Tư, Mozzafar-al-Din, đến thăm Anh để mong nhận được vinh dự Hiệp sĩ Garter. Edward từ chối trao danh hiệu này cho Shah vì danh hiệu này mang ý nghĩ là phần trưởng cá nhân của ông và Ngoại trưởng, Huân tước Lansdowne, đã hứa với Shah mà không có sự đồng ý của ông. Edward cũng phản đối phong tặng một người Hồi giáo danh hiệu thuộc Ki-tô giáo, huân chương hiệp sĩ. Sự từ chối của ông làm phá hỏng những nỗ lực của người Anh nhằm gây ảnh hưởng lên Ba Tư,[78] nhưng Edward bực bội với những nỗ lực của các bộ trưởng của ông nhằm giảm quyền lực truyền thống của nhà vua.[79] Cuối cùng, ông đã nghĩ lại và phía Anh gửi một đại sứ đặc biệt đến gặp Shah trao danh hiệu Hiệp sĩ Garter vào năm sau.[80]

"Bác của châu Âu"[sửa | sửa mã nguồn]

Edward VII giải trí tại Lâu đài Balmoral, bức ảnh chụp bởi vợ ông, Alexandra

Là vua, những ảnh hưởng chính của Edward là trong vấn đề ngoại giao và hải quân, quân sự. Thông thạo tiếng Pháp và tiếng Đức, ông thực hiện nhiều chuyến công du nước ngoài, và dự ngày lễ hằng năm ở BiarritzMarienbad.[55] Một trong những chuyến thăm chính thức quan trọng nhất của ông là chuyến đi Pháp tháng 5 năm 1903 theo lời mời của Tổng thống Émile Loubet. Tiếp đó là chuyến thăm đức Giáo hoàng ở Rome, chuyến đi này giúp tạo không khí thoải mái trong quan hệ Anh Pháp với Entente Cordiale, một thỏa thuận phân chia thuộc địa tại Bắc Phi giữa Anh và Pháp, và loại bỏ nguy cơ về một cuộc chiến tranh trong tương lai giữa hai nước. Entente được thỏa thuận giữa ngoại trưởng Pháp, Théophile Delcassé, và Ngoại trưởng Anh, Huân tước Lansdowne. Được kí ở London ngày 8 tháng 4 năm 1904 giữa Lansdowne và đại swus Pháp Paul Cambon, thỏa thuận này đánh dấu kết thúc một thế kỉ đối đầu giữa Anh và Pháp tại châu Âu, và tạo nên đốib trọng đối với sự phát triển mạnh mẽ của Đế quốc Đức và đồng minh, Áo-Hung.[81]

Edward có quan hệ bà con gần với các vị quân chủ châu Âu khác và do đó được mang danh hiệu "bác của châu Âu".[38] Đức hoàng Wilhelm II là con chị gái ông; Nga hoàng Nicholas II là cháu rể ông; Hoàng hậu Victoria Eugenia của Tây Ban Nha, thái tử phi Margaret của Thụy Điển, thái tử phi Marie của Romania, thái tử phi Sophia của Hi Lạp, và Hoàng hậu Alexandra của Russia là cháu gái ông; Haakon VII của Na Uy là cháu rể và con rể ông; Frederick VIII của Đan MạchGeorge I của Hi Lạp là em rể ông; Albert I của Bỉ, Ferdinand của Bulgaria, và Carlos IManuel II của Bồ Đào Nha là anh em họ của ông. Tuy nhiên, có một người bà con mà Edward không ưa: Wilhelm II. Mối quan hệ tồi tệ giữa Edward với cháu ông làm trầm trọng thêm những căng thẳng trong quan hệ giữa Đưc với Anh.[82]

Tháng 4 năm 1908, trong thời gian Edward nghỉ dưỡng ở Biarritz, ông đã chấp thuận đơn từ chức của Thủ tướng Anh Sir Henry Campbell-Bannerman. Theo như thường lệ, Edward đề nghị người kế nhiệm Campbell-Bannerman, H. H. Asquith, đến Biarritz để làm thủ tục hôn tay. Asquith tuân theo, nhưng dư luận chỉ trích hành động của nhà vua khi bổ nhiệm Thủ tướng tại nước ngoài thay vì trở về Anh.[83] Tháng 6 năm 1908, Edward trở thành vị vua đương nhiệm đầu tiên của Anh đến thăm Đế quốc Nga, mặc dù ông từng từ chối đi năm 1906, khi quan hệ Anh-Nga trở nên căng thẳng bởi hậu quả của Chiến tranh Nga-Nhật, biến cố ngân hàng Dogger, và việc Nga hoàng giải thể Duma.[84] Thăng trước đó, Edward đã đến thăm các nước Bắc Âu, trở thành vị vua Anh đầu tiên đến thăm Thụy Điển.[85]

Quan điểm chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Edward trong trang phục hải quân bởi tạp chí Vanity Fair 1902.

Khi là Hoàng tử xứ Wales, Edward đã phá vỡ tiền lệ hiến pháp một cách công khai khi bỏ phiếu cho phe Gladstone trong Dự luật đại diện cho người dân (1884) trong Thượng viện.[9][86] Về những vấn đề khác ông khá bảo thủ: ví dụ như ông không, ủng hộ quyển bầu cử của phụ nữ,[9][87] mặc dù ông đã đề nghị cải cách xã hội Octavia Hill đáp ứng cho nhu cầu nhà ở cho giai cấp công nhân.[88] Ông cũng phản đối Ireland tự trí, thay vào đó ưu tiên chế độ quân chủ kép.[9]

Khi là thái tử, ông có quan hệ gần gữi và tôn trọng với người mà mẹ ông ghét cay ghét đắng, W. E. Gladstone.[89] Nhưng con trai Gladstone, Bộ trưởng Nội vụ Herbert Gladstone, làm nhà vua tức giận khi lập kế hoạch cho phép các linh mục Công giáo Roma mặc lễ phục thực hiện các nghi lễ tôn bánh thánh trên đường phố London, và với việc bổ nhiệm hai phụ nữ, Lady Frances Balfour và Mrs H. J. Tennant, phục vụ trong một Ủy ban Hoàng gia trong việc cải cách luật li hôn – Edward nghĩ rằng việc li dị không thể thảo luận với "tính nhạy cảm hoặc thậm chí lịch sự" trước những phụ nữ. Người viết tiểu sử của Edward Philip Magnus giả thuyết rằng Gladstone có thể đã trở thành mũi khâu vắt cho sự phát cáu của nhà vua với cả Chính phủ Tự do. Gladstone bị sa thải trong cuộc cải tổ vào năm sau và nhà vua đồng ý, với một ít miễn cưỡng, bổ nhiệm ông ta làm Tổng đốc Nam Phi.[90]

Edward tự mình tham gia vào rất nhiều cuộc thảo luận về vấn đề cải cách quân đội, điều trở nên cấp thiết với thất bại trong Chiến tranh Boer.[91] Ông ủng hộ tái thiết lại bộ tư lệnh quân đội, lập ra quân địa phương, và quyết định gửi một đội quân viễn chinh giúp Pháp trong cuộc chiến tranh với người Đức.[92] Những cải cách Hải quân hoàng gia cũng được đề xuất, một phần là do số lượng ước đoán của hải quân ngày càng tăng, và vì sự xuất hiện của một đe dọa chiến lược mới, Hải quân đế quốc Đức.[93] Cuối cùng một tranh chấp phát sinh giữa Đô đốc Huân tước Charles Beresford, người ủng hộ gia tăng chi phí và triển khai quân rộng rãi, và Đại thần Hải vụ thứ nhất Sir John Fisher, người đề xuất tiết kiệm một cách hiệu quả, tháo dỡ những tàu cũ, và tổ chức lại Hải quân hoàng gia dựa vào các tàu ngư lôi cho việc phòng vệ đất liền và hỗ trợ bởi loại tàu dreadnought mới.[94]

Nhà vua hỗ trợ Fisher, một phần vì ông không ưa Beresford, và cuối cùng Beresford bị sa thảo. Beresford tiếp tục chiến dịch ngoài hải quân của ông ta và Fisher cuối cùng tuyên bố từ chức cuối năm 1909, mặc dù phần lớn các chính sách của ông ta vẫn được giữ lại.[95] Nhà vua có liên quan mật thiết trong việc bổ nhiệm người thay thế Fisher vì mối hận thù giữa Fisher-Beresford chia rẽ công việc, và rất ít nhân vật không nằm về phe nào là Sir Arthur Knyvet Wilson, đã nghỉ hưu năm 1907.[96] Wilson trở lại làm việc trong tư thế miễn cưỡng, nhưng Edward thuyết phục được ông ta, và Wilson trở thành Hải vụ đại thần thứ nhất ngày 25 tháng 1 năm 1910.[97]

Edward hiếm khi quan tâm đến chính trị, dù cho quan điểm của ông trong một vài vấn đề trong thời điểm đó có xu hướng tự do. Trong thời gian cai trị ông cho việc dùng từ nigger là "đáng hổ thẹn" mặc dù nó về sau trở thành từ ngữ công cộng.[98] Năm 1904, trong lúc diễn ra hội nghị thượng đỉnh Anh - Đức tại Kiel giữa Wilhelm II và Edward, Wilhelm lưu ý đến cuộc chiến tranh Nga-Nhật đang diễn ra và nó sẽ bắt đầu "Yellow Peril", thứ ông gọi là "mối hiểm họa lớn nhất đang đe dọa ... Thiên Chúa giáo và nền văn minh châu Âu. Nếu người Nga phải cắt đất, các chủng tộc da vàng, trong thời gian 20 năm, sẽ có mặt ở MoskvaPosen".[99] Wilhelm tiếp tục chỉ trích các chính khách Anh vì đã giúp Nhật chống Nga, bảo rằng người Anh đã dính vào "giòng giống phản bội". Để đáp lại, Edward nói rằng ông "không thấy điều đó. Người Nhật là một dân tộc thông minh, dũng cảm và hào hiệp, tương đối văn minh cũng như người châu Âu, mà chỉ khác nhau bởi màu da mà thôi".[99]

Edward sống trong một cuộc sống xa hoa hơn rất nhiều những thần dân của ông. Tuy nhiên, mối quan hệ của ông với tất cả mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội và sự chỉ trích mạnh mẽ của ông với những thành kiến là một số thứ giúp làm dịu bớt căng thẳng với phe Cộng hòa và mâu thuẫn giai cấp trong suốt triều đại ông.[9]

Khủng hoảng hiến pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng nửa người bởi Francis Derwent Wood
Profile of Edward VII on a halfpenny, 1902

Trong những năm cuối đời, Edward bị cuốn vào một cuộc khủng hoảng hiến pháp khi phe Bảo thủ chiếm thế đa số ở Thượng viện từ chối thông qua "Ngân quỹ của người dân" theo đề xuất của chính phủ thuộc Đảng Tự do của Thủ tướng H. H. Asquith. Kết quả của cuộc khủng hoảng này – sau cái chết của Edward – là loại bỏ quyền phủ quyết của Thượng viện.

Nhà vua không hài lòng với việc đảng Tự do công kích các khanh tướng, trong đó có một bài phát biểu mang tính bút chiến của David Lloyd George tại Limehouse.[100] Thành viên nội các Winston Churchill công khai yêu cầu một cuộc tuyển cử, vì điều này Asquith phải xin lỗi cố vấn của nhà vua Huân tước Knollys và khiển trách Churchill trong cuộc họp nội các. Edward đã quá chán nản với những luận điệu đấu tranh giai cấp – mặc dù Asquith nói với ông rằng phe ác ý đã chỉ nhận tiếng xấu trong First Home Rule Bill năm 1886 – nhà vua đã giới thiệu con trai mình cho Bộ trưởng Ngoại giao về Chiến tranh Richard Haldane là "nhà vua cuối cùng của Anh".[101] Sau khi chú ngựa của nhà vua Minoru vô địch Derby ngày 26 tháng 7 năm 1909, ông trở lại trường đua ngựa vào ngày hôm sau, và cười khi một người hét lên: "Ngay bây giờ, Hoàng thượng. Ngài đã thắng ở Derby. Trở về nhà và giải tán Nghị viện đẫm máu này!"[102]

Nhà vua kêu gọi những nhà lãnh đạo phe Bảo thủ Arthur BalfourHuân tước Lansdowne thông qua dự luật Ngân sách, một nỗ lực vô ích. Huân tước Esher đã từng khuyên can ông nhưng ông không theo, vì Nữ hoàng Victoria đã giúp dàn xếp thỏa thuận giữa hai viện trong vụ bãi bỏ ở Ireland năm 1869Đạo luật Cải cách thứ ba 1884.[103] Tuy nhiên, theo lời khuyên của Asquith, ông không quyết định tổ chức cuộc bầu cử (tại lúc đó, để phán xét từ cuộc bầu cử gần đây, họ đã có thher giành được ghế) như một sự báo ơn mà làm như vậy.[104]

Dự luật Tài chính được thông qua bởi Hạ viện ngày 5 tháng 11 năm 1909 nhưng bị Thượng viện bác đi ngày 30 tháng 11, thay vào đó họ thông qua một nghị quyết của Huân tước Landsdowne tuyên bố rằng họ có quyền bác bỏ dự luận vì nó thiếu sự ủy nhiệm của cử tri. Nhà vua thấy khó chịu vì những nỗ lực của ông để thúc đẩy thông qua dự luật ngân sách được mọi người biết đến[105] và cấm cố vấn của ông Huân tước Knollys, một khanh tướng tích cực của đảng Tự do, bỏ phiếu cho dự luật, dù cho Knollys đã cho thấy rằng điều này sẽ là thích hợp để cho thấy mong muốn của hoàng gia là thấy ngân sách được thông qua.[106] Tháng 12 năm 1909, một đề xuất bổ nhiệm các khanh tướng (cho người Tự do vào Thượng viện) hoặc cho Thủ tướng quyền làm như vậy bị coi là "quá đà" bởi Knollys, ông nghĩ rằng Nhà vua nên thoái vị còn hơn là chấp thuận như vậy.[107]

Cuộc tuyển cử tháng 1 năm 1910 đã bị chi phối bởi cuộc thỏa thuận về quyền loại bỏ quyền phủ quyết của Thượng viện. Trong suốt chiến dịch bầu cử Lloyd George nói về "bảo đảm" và Asquith "che chở" rằng điều đó cần thiết trước khi hình thành một chính phủ Tự do khác, nhưng nhà vua thông náo với Asquith rằng ông sẽ không sẵn sàng tấn phong thêm khanh tướng cho đến sau khi cuộc bầu cử thứ hai.[9][108] Balfour sẵn sàng thành lập chính phủ Bảo thủ, nhưng khuyên nhà vua hứa không tấn phong khanh tướng cho đến khi ông thấy bất kì điều khoản nào của hiến pháp sửa đổi được đề xuất.[109] Trong chiến dịch lãnh đạo phe Bảo thủ Walter Long đã đề nghị Knollys chấp nhận tuyên bố rằng nhà vua không ủng hộ Ireland tự trị, nhưng Knollys từ chối với lí do nó không thích hợp vì cái nhìn của quần chúng đối với quốc vương.[110]

Kết quả cuộc bầu cử là Nghị viện treo, với một chính phủ Tự do phụ thuộc vào sự ủng hộ của đảng lớn thứ ba, dân tộc Ireland. Nhà vua đề nghị một thỏa hiệp theo đó chỉ có 50 khanh tướng từ mỗi bên được phép bỏ phiếu, điều này cũng sẽ khắc phục được tình trạng chiếm ưu thế của đảng Bảo thủ trong Thượng viện, nhưng Huân tước Crewe, Lãnh đạo phe Tự do trong Thượng viện, khuyên rằng điều này sẽ làm giảm sự độc lập của Thượng viện vì chỉ có những khanh tướng trung thành với Đảng của mình được chọn để bỏ phiếu.[110] Áp lực để loại bỏ quyền phủ quyết của Thượng viện đến từ các nghị sĩ dân tộc Ireland, họ muốn loại bỏ nguy cơ các khanh tướng ngăn chặn dự luật Ireland tự trị sau này. Họ đe dọa sẽ bỏ phiếu chống lại Dự luật trừ phi theo phương kế của họ (một nỗ lực của Lloyd George để thắng những người ủng hộ bằng cách sửa đội đổi bổn phận whisky đã bị bỏ rơi vì Nội các cảm thấyddieuef này sẽ tính lại Ngân sách quá nhiều). Asquith bấy giờ tiết lộ rằng không có "sự bảo hộ" cho việc tấn phong khanh tướng. Nội các từ chức và để lại vị trí cho Balfour thử thành lập một chính phủ Bảo thủ.[111]

Tuyên ngôn từ ngôi vua của Edward ngày 21 tháng 2 đã nhắc tới việc giới thiệu các biện pháp hạn chế quyền phủ quyền của Thượng viện, nhưng Asquith chua thêm cụm từ "theo ý kiến của các cố vấn của quả nhân" nên nhà vua có thể thấy khoảng cách của chính ông đến kế hoach lập pháp.[112]

Hạ viện thông qua nghị quyết ngày 14 tháng 4 tạo cơ sở cho Đạo luật Nghị viện: loại bỏ quyền phủ quyết của Thượng viện, thay thế quyền phủ quyết của họ trong các đạo luật khác bằng quyền trì hoãn, và giảm nhiệm kì của Quốc hội từ 7 xuống 5 năm (nhà vua có vẻ là muốn 4 năm)[109]). Nhưng trong cuộc tranh luận Asquith nói ẩn ý rằng – để đảm bảo sự ủng hộ của các nghị sĩ dân tộc – thì ông đề nghị Nhà Vua phá vỡ bế tắc "trong Nghị viện kia" (tức là trái với ý muốn ban đầu của Edward là có một cuộc bầu cử thứ hai). Dự luật Tài chính được thông qua bởi cả Lưỡng viện vào tháng 4.[113]

Đến tháng 4 trong Cung điện có một cuộc nói chuyện bí mật với Balfour và Tổng Giám mục Canterbury, những người đều khuyên rằng phe Tự do không có đủ quyền hạn để yêu cầu tấn phong khanh tướng. Nhà vua nghĩ rằng toàn bộ các đề xuất "đơn giản chỉ là kinh tởm" và chính phủ là "trong tay của Redmond & Co". Huân tước Crewe công khai tuyên bố ý muốn của chính phủ tấn phong khanh tướng phải được coi là "lời khuyên của chính phủ" (điều mà theo quy ước, các quốc vương phải tuân thủ) dù Huân tước Esher lập luận rằng quốc vương được cho quyền cực đoan để giải tán chính phủ còn hơn là nghe họ "tư vấn".[114] Cái nhìn của Esher được coi là "lỗi thời và vô ích".[115]

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Edward có thói quen hút hai mươi điếu thuốc lá và mười hai điếu xì gà mỗi ngày. Năm 1907, ông mắc phải căn bệnh ung thư biểu mô tế bào đáy nhưng đã được chữa khỏi bằng Radium.[116] Đến những tháng cuối đời, ông mắc bệnh viêm phế quản ngày càng nặng.[9] Ông bị mất ý thức tạm thời trong chuyến thăm Berlin tháng 2 năm 1909.[117] Tháng 3 năm 1910, khi đang ở Biarritz ông đổ bệnh. Ông vẫn ở đó để trị bệnh, trong khi ở Asquith đang cố gắng thông qua dự luật Tài chính. Căn bệnh ngày càng nặng của nhà vua đã không được báo về Anh và ông bị chỉ trích vì ở tại Pháp trong khi tình hình chính trị căng thẳng.[9] Ngày 27 tháng 4 ông trở về Cung điện Buckingham, vẫn bị viêm phế quản nặng. Alexandra trở về sau chuyến thăm hoàng đệ, Vua George I của Hi Lạp, ở Corfu một tuần sau đó, ngày 5 tháng 5.

Ngày sôm sau, nhà vua bị hành hạ bởi những cơm đau tim liên tiếp, nhưng từ chối đi ngủ, bảo, "Không, Quả nhân sẽ không từ bỏ; Quả nhân sẽ tiến lên; Quả nhân sẽ cố gắng tới cùng."[118] Giữa lúc ông sắp ngất đi, con trai ông Hoàng tử xứ Wales (không lâu sau trở thành Vua George V) nói với ông rằng con ngựa của mình đã giành chiến thắng tại Trường đua ngựa Kempton Park. Ông trả lời: "Quả nhân đã nghe nói về nó. Quả nhân rất vui mừng." Đó cũng là những lời nói cuối cùng của ông.[9] Lúc 11:30 p.m. ông bị bất tỉnh và được đưa lên giường nằm. Ông băng hà vào 15 phút sau đó.[119]

Alexandra từ chối di chuyển thi hài của nhà vua trong 8 ngày sau dó, dù bà cho phép một nhóm khách nhỏ bước vào phòng ông.[120] Ngày 11 tháng 5, Nhà vua quá cố được mặc vương phục và đặt trong quan tài gỗ sồi lớn, nó được đưa đi vào ngày 14 tháng 5 đến phòng chính, nơi nó được đậy nắp lại theo nghi thức, với bốn vệ binh đứng ở bốn góc quan tài. Mặc dù thời gian đã trôi qua lâu từ khi ông mất, Alexandra nhận xét rằng di thể nhà vua vẫn được "bảo quản tuyệt vời".[121] Sáng ngày 17 tháng 5, chiếc quan tài được đặt lên một chiếc xe ngựa và được những con ngựa đen đưa tới Hội trường Westminster, nơi nhà vua mới và gia đình ông ta đã đứng ở đó. Sau một nghi lễ ngắn, các thành viên hoàng tộc rời khỏi, và hội trường được mở cho công chúng; hơn 400,000 đến xem quan tài trong hai ngày tiếp theo.[122]

Theo như Barbara Tuchman nhận xét trong The Guns of August, tang lễ của ông, tổ chức ngày 20 tháng 5 năm 1910, đánh dấu "cuộc tụ họp lớn nhất của gia đình hoàng gia và tất cả các tầng lớp tập hợp vào một nơi, của hình thức này, lần cuối cùng." Một chuyến xe lửa vận chuyển quan tài của nhà vua từ London tới lâu đài Windsor, nơi Edward VII được an táng tại nhà nguyện St George.[123]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng đặt ngoài Cung điện Holyrood, Edinburgh
Tượng của Edward có thể được tìm thấy ở khắp đế quốc.

Trước khi kế vị ngai vàng, Edward là nắm giữ ngôi vị người thừa kế lâu nhất trong lịch sử Anh. Ông bị vượt mặt bởi cháu sơ Charles, Hoàng tử xứ Wales, ngày 20 tháng 4 năm 2011.[124] Danh hiệu Hoàng tử xứ Wales không được tự động trao cho người kế tự; nó được tấn phong bởi quốc vương đương nhiệm tại thời điểm mà ông ta (hay bà ta) chọn lựa.[125] Edward là người nắm giữ tước hiệu này lâu nhấy; ông là Hoàng tử xứ Wales đến 59 năm. Charles được tấn phong danh hiệu này năm 1958.[126][e]

Là quốc vương, Edward VII đã chứng minh ông thành ông hơn bất cứ dự kiến nào,[127] nhưng ông đã bước qua tuổi trung niên khi lên cầm quyền. Trong thời gian trị vì ngắn ngủi, ông đảm bảo cho hoàng tử thứ hai và cũng là người thừa kế, George V, có sự chuẩn bị tốt hơn khi bước lên ngai vàng. Người đương thời miêu tả mối quan hệ giữa họ giống những người anh em hơn là cha với con trai,[128] và với cái chết của Edward, George viết trong nhật kí rằng ông đã mất đi "người bạn tốt nhất và người cha tốt nhất ... Trẫm không bao giờ có lời cáu gắt với ông ấy trong suốt đời trẫm. Trẫm đau lòng và tràn ngập trong nỗi thương tiếc".[129]

Edward được công nhận là vị vua lập hiến thực sự đầu tiên của Anh quốc và là vị vua cuối cùng sử dụng quyền lực chính trị.[130] Mặc dù được ca ngợi là "người tạo ra hòa bình",[131] ông lo sợ cháu trai ông, Hoàng đế Đức Wilhelm II, sẽ đưa châu Âu vào một cuộc chiến tranh.[132] Bốn năm sau cái chết của Edward, Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra. Ông đã hỗ trợ những cải cách trong hải quân và góp phần bảo đảm Liên minh tay ba Anh, Pháp, Nga; cũng như mối quan hệ giữa ông với đại gia đình của mình. Theo những hoang tưởng của Hoàng đế Đức, là người đổ lỗi gây ra chiến tranh cho Edward.[133] Việc xuất bản cuốn tiểu sử của Edward đã bị chính tác giả của nó, Sidney Lee, trì hoãn, vì lo sợ rằng những người tuyên truyền bên Đức sẽ dựa trên tài liệu này mà miêu tả Edward như một kẻ hiếu chiến chống Đức.[134] Lee cũng bị cản trở bởi sự hủy hoại các tư liệu cá nhân của Edward; Edward đã truyền rằng tất cả thư từ của ông cần được đốt cháy hết khi ông qua đời.[135] Cuốn tiểu sử sau đó có thể xây dựng một hình ảnh đẹp hơn thực tế của Edward bằng cách sử dụng một số tài liệu và các nguồn không có giá trị.[136]

Edward nhận nhiều lời chỉ trích vì lối sống buông thả, nhưng ông cũng nhận được nhiều lời khen cho cách xử sự nhã nhặn và thái độ tuyệt vời; cùng kĩ năng ngoại giao của ông. Cháu nội ông Edward VIII viết, "chiếc bật lửa của ông ... che mờ một việc rằng ông có cả cái nhìn thấu đáo và sự ảnh hưởng."[137] "Ông đắm chìm trong những thú vui nhưng ông cũng có ý thức thực sự với nhiệm vụ", theo J. B. Priestley.[138] Huân tước Esher viết rằng Edward là "tử tế và phóng khoáng và không phải không đàng hoàng – nhưng quá cảm tính con người".[139]

Danh hiệu, huy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • 9 Tháng 11 – 8 Tháng 12 1841: His Royal Highness Công tước Cornwall và Rothesay
  • 8 Tháng 12 1841 – 22 tháng 1 1901: His Royal Highness Hoàng tử xứ Wales
  • 22 tháng 1 1901 – 6 tháng 5 1910: Đức vua Bệ hạ

Vinh dự[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Anh
Ở nước khác
Armorial achievement of the Spanish Army 62nd Mountain Hunters Regiment "Arapiles".
King Edward's cypher and the name of the British Army unit that played a prominent role in the Battle of Salamanca were added at the beginning of the Peninsular War Centenary (1908).[142]
Chức vụ danh dự ở nước ngoài

Huy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Coat of Arms of Albert Edward, Prince of Wales (1841-1901).svg
Coat of Arms of the United Kingdom (1837-1952).svg
Coat of Arms of the United Kingdom in Scotland (1837-1952).svg
Huy hiệu Hoàng tử xứ Wales từ 1841–1901
Huy hiệu hoàng gia ngoài lãnh thổ Scotland
Huy hiệu hoàng gia ở Scotland

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại Các cháu củaf Victoria và Albert.
Tên Sinh Mất Ghi chú
Hoàng tử Albert Victor, Công tước Clarence và Avondale 8 tháng 1 1864 14 tháng 1 1892 đính hôn 1891, với Công nương Mary xứ Teck
George V 3 Tháng 6 1865 20 tháng 1 1936 kết hôn 1893, Công nương Mary xứ Teck; có con
Louise, Công chúa hoàng gia 20 tháng 2 1867 4 tháng 1 1931 kết hôn 1889, Alexander Duff, Công tước thứ nhất của Fife; có con
Công chúa Victoria 6 tháng 7 1868 3 Tháng 12 1935
Maud, Hoàng hậu Na Uy 26 tháng 11 1869 20 tháng 11 1938 kết hôn 1896, Vua Haakon VII; có con
Hoàng tử Alexander John 6 tháng 4 1871 7 tháng 4 1871

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cha mẹ đỡ đầu của ông bao gồm nhà vua nước Phổ, bà nội kế là Công nương xứ Saxe-Coburg và Gotha (do Công nương xứ Kent, bà ngoại ông, đứng đại diện), ông chú Công tước Cambridge, bà cố kế Thái Công nương Saxe-Coburg-Altenburg (do Công nương Cambridge, bà thím ông, đứng đại diện), bà dì Công chúa Sophia (do Công nương Augusta xứ Cambridge, em họ ông, đứng đại diện) và ông cậu Hoàng thân Ferdinand xứ Saxe-Coburg and Gotha.[2]
  2. ^ Lá thư viết bởi Edward cho Lady Randolph có thể "không có gì hơn là sự ve vãn" nhưng là "viết với một giọng điệu âu yếm quá đáng".[27]
  3. ^ Ông không phải là người nghiệm rượu, dù ông có uống champagne và đôi khi, là rượu vang nặng.[54]
  4. ^ Không một vị quân vương nào của đảo Anh trị vì với vương hiệu là tên đôi.
  5. ^ Edward là Hoàng tử xứ Wales từ 8 tháng 12, 1841 đến 22 tháng 1, 1901 (59 năm, 45 ngày). Charles được phong hiệu này từ 26 tháng 7, 1958 (58 năm, 64 ngày cho đến 28 tháng 9 năm 2016).[125]

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Magnus, Philip (1964), King Edward The Seventh, London: John Murray, tr. 1 
  2. ^ London Gazette: số 20065, tr. 224, 28 January 1842.)
  3. ^ Bentley-Cranch, Dana (1992), Edward VII: Image of an Era 1841–1910, London: Her Majesty's Stationery Office, tr. 1, ISBN 0-11-290508-0 
  4. ^ Weir, Alison (1996), Britain's Royal Families: The Complete Genealogy, Revised Edition, London: Random House, tr. 319, ISBN 0-7126-7448-9 
  5. ^ Van der Kiste, John (September 2004; online edition May 2007) "Alfred, Prince, duke of Edinburgh (1844–1900)", Oxford Dictionary of National Biography, Oxford University Press, doi:10.1093/ref:odnb/346, retrieved 24 June 2009 (yêu cầu đăng ký hoặc có quyền thành viên của thư viện công cộng Anh)
  6. ^ Ridley, Jane (2012), Bertie: A Life of Edward VII, London: Chatto & Windus, tr. 17–19, ISBN 978-0-7011-7614-3 
  7. ^ Bentley-Cranch, tr. 4
  8. ^ Bentley-Cranch, tr. 18
  9. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô Matthew, H. C. G. (September 2004; online edition May 2006) "Edward VII (1841–1910)", Oxford Dictionary of National Biography, Oxford University Press, doi:10.1093/ref:odnb/32975, retrieved 24 June 2009 (yêu cầu đăng ký hoặc có quyền thành viên của thư viện công cộng Anh)
  10. ^ Bản mẫu:Acad
  11. ^ Bentley-Cranch, tr. 35; Ridley, tr. 50.
  12. ^ Hough, Richard (1992), Edward and Alexandra: Their Private and Public Lives, London: Hodder & Stoughton, tr. 36–37, ISBN 0-340-55825-3 
  13. ^ a ă Bentley-Cranch, tr. 20–34
  14. ^ Hough, pp. 39–47
  15. ^ Ridley, tr. 37
  16. ^ London Gazette: số 22198, tr. 4745, 9 November 1858.
  17. ^ Bentley-Cranch, tr. 36–38
  18. ^ Hough, pp. 64–66
  19. ^ Ridley, tr. 54–55
  20. ^ Ridley, tr. 59–63
  21. ^ Middlemas, Keith (1972), Antonia Fraser, biên tập, The Life and Times of Edward VII, London: Weidenfeld and Nicolson, tr. 31, ISBN 0-297-83189-5 
  22. ^ Bentley-Cranch, tr. 40–42
  23. ^ Ridley, Jane (16 tháng 2 năm 2013), The first EVER photographs of a Royal tour, Mail Online, truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2013 
  24. ^ Bentley-Cranch, tr. 44; Ridley, tr. 72
  25. ^ Middlemas, tr. 35; Ridley, tr. 83
  26. ^ Ridley, tr. 85, 87, 93, 104
  27. ^ Hattersley, tr. 21
  28. ^ Camp, Anthony (2007), Royal Mistresses and Bastards: Fact and Fiction, 1714–1936 . They are listed at http://anthonyjcamp.com/page9.htm.
  29. ^ Middlemas, tr. 74–80
  30. ^ Souhami, Diana (1996), Mrs Keppel and Her Daughter, London: HarpurCollins, tr. 49 
  31. ^ Ashley, Mike (1998), The Mammoth Book of British Kings and Queens, London: Robinson, tr. 694–695, ISBN 1-84119-096-9 
  32. ^ Middlemas, tr. 89
  33. ^ Priestley, tr. 22–23
  34. ^ Thomas, Sean (17 tháng 1 năm 2004), “Dirty Bertie's seat of pleasure”, The Times 
  35. ^ Storyville – Paris Brothel, BBC Four documentary, 2003
  36. ^ Costello, Eugene (22 tháng 3 năm 2010), “A love seat fit for a king: The antique chair that gives an eye-popping insight into Edward VII's debauched youth”, Daily Mail 
  37. ^ Bentley-Cranch, tr. 97
  38. ^ a ă Edward VII, Official website of the British Monarchy, truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2016 
  39. ^ Hattersley, tr. 18–19
  40. ^ Bentley-Cranch, tr. 59–60
  41. ^ Bentley-Cranch, tr. 66; Ridley, tr. 137, 142
  42. ^ Bentley-Cranch, tr. 67 and Middlemas, tr. 48–52
  43. ^ Edward đến Huân tước Granville, 30 tháng 11 năm 1875, trích dẫn trong Bentley-Cranch, tr 101–102 và Ridley, tr. 179
  44. ^ a ă Bentley-Cranch, tr. 104
  45. ^ Bergner Hurlock, Elizabeth (1976), The psychology of dress: an analysis of fashion and its motive, Ayer Publishing, tr. 108, ISBN 978-0-405-08644-1 
  46. ^ Mansel, Philip (2005), Dressed to Rule, New Haven: Yale University Press, tr. 138, ISBN 0-300-10697-1 
  47. ^ Bentley-Cranch, tr. 84
  48. ^ Middlemas, tr. 201
  49. ^ “Try our "98' Curzons!" A few fashion hints for men”, Otago Witness, 3 tháng 11 năm 1898, truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2010, Thực sự là Hoàng tử xứ Wales là người giới thiệu khuôn mẫu này. Ông đã đặt nó tám năm trước từ một nhà sản xuất mang tên Charvet, ở Paris. 
  50. ^ Roberts, tr. 35
  51. ^ Ridley, tr. 91
  52. ^ Middlemas, tr. 200 và Hattersley, tr. 27
  53. ^ Bentley-Cranch, tr. 80
  54. ^ Hattersley, p. 27
  55. ^ a ă Windsor, HRH The Duke of (1951), A King's Story, London: Cassell and Co, tr. 46 
  56. ^ Bentley-Cranch, tr 110
  57. ^ Middlemas, tr. 98
  58. ^ Hattersley, tr. 23–25; Ridley, tr. 280–290
  59. ^ Middlemas, tr. 86; Ridley, tr. 265–268
  60. ^ Sir Frederick Ponsonby, Nam tước Sysonby thứ nhất, trích dẫn trong Middlemas, tr. 188
  61. ^ Middlemas, tr. 95–96
  62. ^ Thư từ Mrs Elise Stonor cho Nữ hoàng Victoria, 11 tháng 4, 1871, trích dẫn trong Battiscombe, tr. 112 và Ridley, tr. 140
  63. ^ Ridley, tr. 339–340
  64. ^ Middlemas, tr. 65
  65. ^ Lee, quyển. II, tr. 7; Middlemas, tr. 104
  66. ^ London Gazette: (Supplement) số 27270, tr. 547, 23 January 1901.
  67. ^ Priestley, tr. 9
  68. ^ The Duke of Windsor, tr. 14
  69. ^ Lee, quyển. II, tr. 26
  70. ^ Middlemas, tr. 38, 84, 96; Priestley, tr. 32
  71. ^ Allfrey, Anthony (1991), King Edward VII and His Jewish Court, London: Weidenfeld & Nicolson, ISBN 0-297-81125-8 
  72. ^ Lee, quyển. II, tr. 63–64; Ridley, tr. 271
  73. ^ a ă Lee, quyển II, tr. 102–109
  74. ^ a ă Mirilas, P.; Skandalakis, J.E. (2003), “Not just an appendix: Sir Frederick Treves”, Archives of Disease in Childhood 88 (6): 549–552, doi:10.1136/adc.88.6.549, PMC 1763108, PMID 12765932 
  75. ^ The Duke of Windsor, tr. 20
  76. ^ Bentley-Cranch, tr. 127
  77. ^ Bentley-Cranch, tr. 122–139; Ridley, tr. 351–352, 361, 372
  78. ^ Hattersley, tr. 39–40
  79. ^ Lee, quyển. II, tr 182
  80. ^ Lee, quyển. II, tr. 157; Middlemas, tr. 125–126
  81. ^ Nicolson, Harold (tháng 10 năm 1954), “The Origins and Development of the Anglo-French Entente”, International Affairs (Royal Institute of International Affairs) XXX (4): 407–416, doi:10.2307/2608720, JSTOR 2608720 
  82. ^ Middlemas, tr. 60–61, 172–175; Hattersley, tr. 460–464; Ridley, tr. 382–384, 433
  83. ^ Lee, quyển. II, tr. 581–582; Ridley, tr. 417–418
  84. ^ Middlemas, tr. 167, 169
  85. ^ Lee, quyển. II, tr. 583–584
  86. ^ Ridley, tr. 241
  87. ^ Hattersley, tr. 215–216; Lee, quyển. II, tr. 468; Ridley, tr. 403
  88. ^ Bentley-Cranch, tr. 98
  89. ^ Magnus, tr. 212
  90. ^ Magnus, tr. 541
  91. ^ Lee, quyển. II, tr. 91–93; Ridley, tr. 389
  92. ^ Middlemas, tr. 130–134
  93. ^ Kennedy, Paul M. (2004), The Rise and Fall of British Naval Mastery, London: Penguin Books, tr. 215–216 
  94. ^ See, principally, Lambert, Nicholas A. (2002), Sir John Fisher's Naval Revolution, Columbia, South Carolina: University of South Carolina Press, ISBN 1-57003-492-3  For a much shorter summary of Fisher's reforms, see Grove, Eric J. (2005), The Royal Navy since 1815, Basingstoke: Palgrave Macmillan, tr. 88–100, ISBN 0-333-72126-8 
  95. ^ Middlemas, tr. 134–139
  96. ^ Lambert, tr. 200–201.
  97. ^ Bradford, Admiral Sir Edward E. (1923), Life of Admiral of the Fleet Sir Arthur Knyvet Wilson, London: John Murray, tr. 223–225 
  98. ^ Rose, Kenneth (1983), King George V, London: Weidenfeld and Nicolson, tr. 65 
  99. ^ a ă MacDonogh, Giles (2003), The Last Kaiser, New York: St Martin's Press, tr. 277 
  100. ^ Heffer, tr. 276–277; Ridley, tr. 437
  101. ^ Heffer, tr. 282–283
  102. ^ Magnus, tr. 526
  103. ^ Magnus, tr. 534; Ridley, tr. 440–441
  104. ^ Heffer, tr. 281–282
  105. ^ Magnus, tr. 536
  106. ^ Heffer, tr. 283–284
  107. ^ Ridley, tr. 443
  108. ^ Hattersley, tr. 168
  109. ^ a ă Heffer, tr. 286–288
  110. ^ a ă Magnus, tr. 547
  111. ^ Heffer, pp. 290–293
  112. ^ Heffer, tr. 291
  113. ^ Heffer, tr. 293
  114. ^ Heffer, tr. 294–296
  115. ^ Magnus, tr. 555–556
  116. ^ Ridley, tr. 409
  117. ^ Lee, quyển. II, tr. 676; Ridley, tr. 432
  118. ^ Bentley-Cranch, tr. 151
  119. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên tr151
  120. ^ Ridley, tr. 558
  121. ^ Ridley, tr. 560–561
  122. ^ Ridley, tr. 563–565
  123. ^ Ridley, tr. 568
  124. ^ Prince Charles becomes longest-serving heir apparent, BBC, 20 tháng 4 năm 2011, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016 
  125. ^ a ă Previous Princes of Wales, Clarence House, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016 
  126. ^ Richardson, Matt (2001), The Royal Book of Lists, Toronto: Dundurn Press, tr. 56, ISBN 0-88882-238-3 
  127. ^ Ridley, tr. 349, 473, 476
  128. ^ Bentley-Cranch, tr. 155
  129. ^ Nhật kí của vua George V', 6 tháng 5, 1910. Royal Archives
  130. ^ Ridley, tr. 576
  131. ^ Bentley-Cranch, tr. 157; Lee, quyển. II, tr. 738
  132. ^ Lee, quyển. II, tr. 358, 650, 664; Middlemas, tr. 176, 179; Ridley, tr. 474
  133. ^ Ridley, tr. 474
  134. ^ Ridley, tr. 487
  135. ^ Ridley, tr. 482–483
  136. ^ Ridley, tr. 494–495
  137. ^ The Duke of Windsor, tr. 69
  138. ^ Priestley, tr. 25
  139. ^ Hattersley, tr. 17
  140. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô Cokayne, G. E. (1910), Gibbs, Vicary, biên tập, The complete peerage of England, Scotland, Ireland, Great Britain and the United Kingdom 4, London: St Catherine's Press, tr. 451–452 
  141. ^ Galloway, Peter (2006), The Hiệp sĩ the Bath, Chichester: Phillimore & Co. Ltd., tr. 247, ISBN 978-1-86077-399-0 
  142. ^ History of the 62nd Mountain Hunters Regiment "Arapiles". Spanish Army website (in Spanish), retrieved 28 tháng 4 2016
  143. ^ Sveriges och Norges statskalender 1865
  144. ^ a ă â b c d đ e Burke's Peerage, Baronetage and Knightage, 1910. Burke's Peerage Ltd. tr. 12. 
  145. ^ Norges statskalender 1877
  146. ^ "The King's Journey" (24 Tháng 9 1901) The Times Issue 36568, p. 3
  147. ^ "Court Circular" (10 Tháng 10 1901) The Times Issue 36582, p. 7
  148. ^ "Court Circular" (14 Tháng 6 1902) The Times Issue 36794, p. 12
  149. ^ "Court Circular" (26 Tháng 6 1902) The Times Issue 36804, p. 9
  150. ^ “Galla Uniform” (bằng tiếng Danish). Truy cập 30 tháng 1 2016.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  151. ^ a ă â b "The German Emperor and the King" (28 Tháng 6 1902) The Times Issue 36806, p. 5
  152. ^ "The Coronation" (3 Tháng 6 1902) The Times Issue 36784, p. 10
  153. ^ a ă â "Muerte del Rey Eduardo VII" (7 tháng 5 1910) ABC (1st ed.), p. 12, retrieved 28 tháng 4 2016

Danh sách nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Bản mẫu:S-npo

Edward VII
Nhánh thứ của Nhà Wettin
Sinh: 9 Tháng 11 1841 Mất: 6 tháng 5 1910
Tước hiệu
Tiền vị:
Victoria
Vua của Liên hiệp Anh và Ireland
thuộc địa Anh,
Hoàng đế Ấn Độ

22 tháng 1 1901 – 6 tháng 5 1910
Kế vị
George V
British monarchy
Trống ngôi
Người cuối cùng giữ danh hiệu
Hoàng tử George
về sau trở thành vua George IV
Hoàng tử xứ Wales
Công tước Cornwall
Công tước Rothesay

1841–1901
Kế vị
Hoàng tử George
về sau trở thành vua George V
Chức vụ quân sự
Tiền vị:
Bá tước Beauchamp
Đại tá thứ 10 (Prince of Wales's Own Royal) Hussars
1863–1901
Kế vị
Lãnh chúa Ralph Drury Kerr
Tiền vị:
Hầu tước Ripon
Grand Master of the United
Grand Lodge of England

1874–1901
Kế vị
Hoàng tử Arthur, Công tước Connaught
and Strathearn
Danh hiệu
Trống ngôi
Người cuối cùng giữ danh hiệu
Albert, Hoàng phu
Great Master of the Bath
1897–1901
Kế vị
Hoàng tử Arthur, Công tước Connaught
và Strathearn

Bản mẫu:Vua Canada Bản mẫu:Hoàng đế Ấn Độ Bản mẫu:Hoàng tử Anh Bản mẫu:Hoàng thân Saxe-Coburg and Gotha

Bản mẫu:Công tước Cornwall