Đấu tranh giai cấp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Industrial Workers of the World (IWW) biểu tình tại New York, 11 tháng 4 năm 1914
Karl Marx, triết gia cho rằng đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội.

Đấu tranh giai cấp, hay còn gọi là mâu thuẫn giai cấp, là sự căng thẳng hoặc đối kháng tồn tại trong xã hội do cạnh tranh về lợi ích kinh tế xã hội và mong muốn giữa người dân của các tầng lớp khác nhau. Quan điểm cho rằng đấu tranh giai cấp cung cấp đòn bẩy cho sự thay đổi xã hội triệt để cho đa số người dân là hạt nhân các tác phẩm của Karl Marx và triết gia vô chính phủ Mikhail Bakunin. Tuy nhiên, việc phát hiện ra sự tồn tại của cuộc đấu tranh giai cấp không phải là sản phẩm của sách vở; lý thuyết của các triết gia trên dựa trên sự tồn tại có sẵn trong xã hội của cuộc đấu tranh giai cấp thời kỳ họ sống.

Đấu tranh giai cấp có thể có nhiều hình thức khác nhau:

  • bạo lực trực tiếp, chẳng hạn như các cuộc chiến tranh tranh giành các nguồn tài nguyên và lao động rẻ;
  • bạo lực gián tiếp, chẳng hạn như tử vong vì nghèo đói, đói khát, bệnh tật hoặc điều kiện làm việc không an toàn;
  • ép buộc, chẳng hạn như nguy cơ mất việc làm hoặc một khoản đầu tư quan trọng;
  • hay ý thức hệ, hoặc là cố ý (với các sách và bài báo quảng bá chủ nghĩa tư bản) hoặc vô ý (như với việc thúc đẩy tiêu thụ thông qua quảng cáo)[cần dẫn nguồn]

Ngoài ra, có nhiều các hình thức chính trị của đấu tranh giai cấp. hợp pháp hoặc bất hợp pháp, thông qua vận động hành lang hoặc hối lộ các nhà lãnh đạo chính phủ thông qua luật cho đảng phái bao gồm luật lao động, mã số thuế, luật người tiêu dùng, luật Quốc hội hoặc thuế má. Các cuộc đấu tranh giai cấp có thể mang tính mở, như công nhân đình công với mục đích nhằm tiêu diệt một công đoàn lao động, hoặc mang tính ẩn, như công nhân cố tình giảm năng suất lao động nhằm phản đối mức lương thấp hoặc các điều kiện lao động không công bằng.[cần dẫn nguồn]

Trong các xã hội chiếm hữu nô lệ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các xã hội phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các xã hội tư bản[sửa | sửa mã nguồn]

Đình công của công nhân tại Minneapolis năm 1934.

Các ví dụ điển hình của đấu tranh giai cấp được mô tả là các cuộc đấu tranh giai cấp trong các nước theo chủ nghĩa tư bản. Các triết gia cho rằng đấu tranh giai cấp xảy ra chủ yếu giữa các giai cấp tư sảngiai cấp vô sản, dưới các hình thức xung đột về giờ làm việc, giá trị tiền lương, phân chia lợi nhuận, chi phí của hàng hóa tiêu dùng, văn hóa tại nơi làm việc, kiểm soát quốc hội hoặc quan liêu, và sự bất bình đẳng kinh tế, các chủ trương quốc hữu hóa hoặc tư hữu hóa.

Việc thực hiện các chương trình đặc biệt của chính phủ có vẻ hoàn toàn nhân đạo, như cứu trợ thiên tai, thực sự có thể là một hình thức của đấu tranh giai cấp.[1] Trong những mâu thuẫn giai cấp được ghi nhận tại Mỹ thường là mâu thuẫn nảy sinh trong các tranh chấp giữa lao động và người quản lý. Năm 1933 đại diện Edward Hamilton của ALPA (Hiệp hội Phi công Hàng không), sử dụng thuật ngữ "đấu tranh giai cấp" để mô tả mâu thuẫn giữa quản lý của hãng hàng không tại phiên điều trần của Hội đồng Lao động Quốc gia vào tháng 10 năm đó.[2] Ngoài những hình thức đấu tranh giai cấp thường ngày, trong thời kỳ khủng hoảng hoặc cách mạng đấu tranh giai cấp chuyển thành các hành vi bạo lực và dẫn đến các cuộc đàn áp, hành hung, việc hạn chế các quyền tự do dân sự, bạo lực và giết người, bao gồm cả ám sát hoặc giết người hàng loạt.

Trong các nước xã hội chủ nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Một loạt các nhà tư tưởng chủ yếu của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa vô chính phủ cho rằng xung đột giai cấp tồn tại ngay cả trong các nước xã hội chủ nghĩa theo kiểu Liên Xô. Những lập luận này mô tả một giai cấp xã hội mới hình thành do kết quả của hệ thống quan liêu của các đảng chính trị cầm quyền (tiếng Nga: Nomenklatura). Giai cấp này đôi khi được gọi là một "giai cấp mới"[3] - kiểm soát các tư liệu sản xuất. Giai cấp thống trị mới này được xem là đối lập với phần còn lại của xã hội- giai cấp vô sản. Hệ thống xã hội loại này được những người chỉ trích nó gọi tên là chủ nghĩa tư bản nhà nước, chủ nghĩa xã hội nhà nước, sự quan liêu tập thể. (Cliff; Dilas 1957)

Tại Trung Quốc và Việt Nam, giai cấp tư bản mới này - có gốc gác từ các quan chức và bà con của họ - được những người chỉ trích nó gọi là "tư bản đỏ", do các doanh nhân này cũng là Đảng viên đảng cầm quyền, vốn sử dụng màu đỏ làm màu chủ đạo.[4][5] Tại các nước này, doanh nghiệp nhỏ không quan tâm việc vào Đảng, nhưng giới chủ tư nhân lớn muốn có quan hệ với Đảng để tìm được các mối lợi về tài nguyên đất đai và khoáng sản.[6]

Quan điểm của Karl Marx[sửa | sửa mã nguồn]

Quan điểm của các triết gia khác[sửa | sửa mã nguồn]

Mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn sắc tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Greg Palast”. Truy cập 14 tháng 2 năm 2015. 
  2. ^ Kaps, Robert W. (1997). Air Transport Labor Relations. Section 3: Major Collective Bargaining Legislation: Southern Illinois Press. tr. 51. ISBN 0-8093-1776-1. 
  3. ^ Đilas, Milovan (14 tháng 6 năm 1983). The New Class: An Analysis of the Communist System . San Diego: Harcourt Brace Jovanovich. ISBN 0-15-665489-X. 
  4. ^ “BBC Vietnamese”. Truy cập 13 tháng 1 năm 2015. 
  5. ^ “Liệu những tư sản đỏ có trở thành sứ giả của tự do hay không?”. Đài Á Châu Tự do. Truy cập 13 tháng 1 năm 2015. 
  6. ^ “Đảng cộng sản và giới tài phiệt”. Đài Á Châu Tự do. Truy cập 13 tháng 1 năm 2015. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh