Phân biệt đối xử

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Phân biệt đối xử là hành vi tạo ra sự phân biệt một cách sai trái giữa những con người với nhau dựa trên đặc điểm của nhóm, tầng lớp xã hội hay các đặc điểm xã hội khác mà cá nhân được cho là thuộc về. Phân biệt đối xử có thể dựa trên các cơ sở như giới tính, độ tuổi, xu hướng tính dục và bản dạng giới, quốc tịch, màu da, tôn giáo, sắc tộc, địa vị kinh tế, địa vị xã hội, ngôn ngữ, tầng lớp, nguồn gốc sinh thành, và những cơ sở khác.. Việc phân biệt đối xử đặc biệt rõ ràng khi một cá nhân hay một nhóm bị đối xử kém các cá nhân hay nhóm khác một cách không công bằng. Phân biệt đối xử chủ yếu liên quan đến việc hạn chế, ngăn cản hoặc loại bỏ một cách vô lý một cá nhân hay một nhóm với những cơ hội và đặc quyền mà những nhóm khác có được.

Những chủ đề/khía cạnh tạo ra sự phân biệt đối xử trong xã hội rất đa dạng: giới tính, độ tuổi, chủng tộc, sắc tộc, quốc tịch, người khuyết tật, người mắc bệnh tâm thần, bệnh truyền nhiễm, thiên hướng tình dục, mắc nghiện ma túy, vai trò xã hội, chức vị trong chính quyền, chênh lệch giàu - nghèo, tư tưởng về tôn giáo, quan điểm chính trị, sự tham gia các đảng phái chính trị, trình độ học vấn, con trưởng - con thứ, con đẻ - con nuôi, dân bản địa - dân nhập cư, nghĩa vụ quân sự... Cấm phân biệt đối xử là một xu hướng ngày càng phổ biến trong luật pháp của các quốc gia kể từ thế kỷ 20, với các mức độ chi tiết khác nhau.

Nhận diện phân biệt đối xử[sửa | sửa mã nguồn]

Liên Hiệp Quốc hướng dẫn nhận diện phân biệt đối xử như sau: "Phân biệt đối xử xảy ra khi bạn bị đối xử kém hơn so với những người khác, bị quấy rối xâm hại vì vẻ bề ngoài, vì xuất thân của bạn, vì niềm tin của bạn hoặc vì những lý do khác. Bạn có thể bị từ chối tiếp cận một cách bình đẳng với công việc, nhà ở, y tế, giáo dục, hôn nhân hay đời sống gia đình, với cảnh sát hay với cơ quan tư pháp, với cửa hàng, quán ăn, hay bất kỳ dịch vụ hay cơ hội nào. Cũng có thể bạn gặp phải những bình luận, cử chỉ hay những ứng xử khiến bạn thấy bị xúc phạm, đe dọa hay sỉ nhục, hay phải tránh đến những nơi, tham gia những hoạt động để không gặp phải những hành vi như vậy."[1]

Ví dụ về các cơ sở phân biệt đối xử[sửa | sửa mã nguồn]

Phân biệt do giới tính[sửa | sửa mã nguồn]

Phân biệt do chủng tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Phân biệt do tuổi tác[sửa | sửa mã nguồn]

Phân biệt do tình trạng khuyết tật[sửa | sửa mã nguồn]

Phân biệt do xu hướng tính dục và bản dạng giới[sửa | sửa mã nguồn]

Phân biệt do quan điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Phân biệt do tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Các lý thuyết về phân biệt đối xử[sửa | sửa mã nguồn]

Lý thuyết xã hội như Chủ nghĩa quân bình nhấn mạnh rằng sự bình đẳng về xã hội phải là nguyên tắc nền tảng. Ở một số xã hội, bao gồm hầu hết các nước phát triển, các quyền dân sự của cá nhân bao gồm quyền không bị phân biệt đối xử về xã hội trong các hoạt động liên quan đến nhà nước.

Các triết gia đã tranh luận xem định nghĩa về phân biệt đối xử nên được mở đến mức nào. Một số triết gia lập luận rằng phân biệt đối xử nên giới hạn ở việc chỉ các hành vi đối xử sai trái hoặc làm thiệt hại cho một nhóm đáng chú ý về xã hội (như là chủng tộc, giới, tính dục, vv..) trong một bối cảnh cụ thể. Trên quan điểm này, nếu không giới hạn được khái niệm phân biệt đối xử thì sẽ dẫn đến quá mức: ví dụ,do hầu hết các vụ giết người xảy ra là vì người ta thấy có sự khác biệt giữa thủ phạm và nạn nhân, nhiều vụ giết người có thể coi là phân biệt đối xử nếu yếu tố đáng chú ý về xã hội không được tính đến. Quan điểm này cho rằng mở rộng quá mức phạm vi khái niệm phân biệt đối xử sẽ khiến khái niệm này mất đi ý nghĩa. Trái lại, các triết gia khác lập luận rằng phân biệt đối xử nên thuần túy là việc đối xử sai trái gây thiệt hại mà không kể đến yếu tố đáng chú ý về xã hội của một nhóm. Lập luận này cho rằng giới hạn phạm vi khái niệm chỉ trong các nhóm xã hội đáng chú ý là tùy tiện, đồng thời chất vấn việc xác định nhóm xã hội nào có thể coi là đáng chú ý. Vấn đề nhóm nào nên được tính đến cũng đã tạo ra nhiều tranh luận chính trị và xã hội.

Dựa vào lý thuyết xung đột thực dụng và lý thuyết bản sắc xã hội, Rubin và Hewstone[2] đã nhấn mạnh sự khác nhau giữa ba kiểu phân biệt đối xử: :

  1. Cạnh tranh thực dụng do lợi ích tự thân và nhằm đến việc dành được nguồn lực tốt hơn (ví dụ lương thực, lãnh thổ, khách hàng) cho nhóm của mình (dẫn đến thiên vị một nhóm để dành được nguồn lực tốt hơn cho thành viên nhóm mình, bao gồm bản thân).
  2. Cạnh tranh xã hội là do nhu cầu được coi trọng của bản thân và hướng đến việc đạt được vị thế xã hội cao hơn cho nhóm mình so với các nhóm khác (ví dụ thiên vị nhóm mình để tạo ra lợi thế so sánh với các nhóm khác.). .
  3. Phân biệt liên ứng do nhu cầu về phân loại và thứ bậc, phản ánh trật tự trong nhóm (nghĩa là thiên vị các vị thế cao trong nhóm vì có vị thế cao).

Thuyết dán nhãn[sửa | sửa mã nguồn]

Phân biệt đối xử, trong Thuyết dán nhãn, là hình thức phân loại trong nhận thức các nhóm thiểu số và sử dụng các khuôn mẫu. Lý thuyết này mô tả sự khác biệt như là sự lệch lạc khỏi chuẩn mực, dẫn đến việc hạ thấp và kỳ thị xã hội có thể coi là phân biệt đối xử. Chuỗi này bắt đầu từ việc mô tả một trật tự xã hội "tự nhiên". Chủ nghĩa Phát xít trong những năm 1930 và chính quyền Apartheid ở Nam Phi đã dùng các chính sách phân biệt chủng tộc cho mục đích chính trị. Mô hình này vẫn được một số nhà nước hiện nay sử dụng.

Lý thuyết trò chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà kinh tế Yanis Varoufakis (2013) lập luận rằng "phân biệt đối xử dựa trên những đặc điểm hoàn toàn sai trái nảy nảy nhanh chóng và có hệ thống trong các thí nghiệm sắp đặt", và rằng cả lý thuyết trò chơi cổ điển lẫn kinh tế tân cổ điển đều không thể giải thích hiện tượng này. Varoufakis và Shaun Hargreaves-Heap (2002) làm một thí nghiệm trong đó tình nguyện viên chơi một trò chơi giả lập nhiều tập làm diều hâu - bồ câu. Ở mỗi đầu hiệp, mỗi người tham gia được giao ngẫu nhiên một màu, đỏ hoặc xanh da trời. Trong từng tập, người chơi được biết màu của đối phương nhưng không được biết những điều khác về đối phương. Hargreaves-Heap và Varoufakis phát hiện ra rằng hành vi của người chơi trong một hiệp thường xuyên tạo thành một phản ứng mang tính phân biệt đối xử, tạo ra một cân bằng Nash trong đó người chơi cùng một màu (màu "lợi") dùng các chiến thuật hiếu chiến "diều hâu" với người chơi mang màu khác, màu "bất lợi", trong khi những người này chơi chiến thuật hiền lành "bồ câu" với người mang màu "lợi". Người chơi của cả hai màu đều dùng chiến thuật hỗn hợp khi chơi với người có cùng màu.

Khi thí nghiệm thêm phương án hợp tác, thì những người chơi "bất lợi" thường hợp tác với nhau, trong khi những người "có lợi" thì không. Những nhà nghiên cứu cho rằng trong khi thế cân bằng đạt được ở trò diều hâu - bồ câu ban đầu có thể dự đoán được bằng lý thuyết trò chơi tiến hóa, lý thuyết trò chơi không lý giải diễn biến hợp tác của nhóm yếu thế. Dùng nghiên cứu tâm lý của Matthew Rabin, họ đưa ra giả định rằng một quy chuẩn về vị thế khác nhau đã phát sinh trong cả hai nhóm, và quy chuẩn này định nghĩa một thế cân bằng "công bằng "công bằng" trong nhóm yếu thế.

Nhà nước với thị trường tự do[sửa | sửa mã nguồn]

Người ta tranh luận rằng thị trường có khuyến khích hay không những phân biệt đối xử do nhà nước tạo ra. Một lập luận là vì phân biệt đối xử hạn chế tiếp cận đến khách hàng và tạo thêm chi phí, quy luật thị trường trừng phạt sự phân biệt đối xử. Việc các công ty phản đối luật phân biệt kiểu "Jim Crow" là một ví dụ điển hình. Một lập luận khác là thị trường không nhất thiết sẽ giải quyết việc phân biệt đối xử, vì nếu phân biệt đối xử mà mang lại lợi nhuận cho chiều theo "thị hiếu" cá nhân (vốn là trọng tâm của thị trường), thì thị trường sẽ không trừng phạt phân biệt đối xử. Lập luận này dẫn chứng rằng các phân tích kinh tế vĩ mô về phân biệt đối xử dùng các phương pháp bất thường để xác định hiệu quả (dùng chức năng sản xuất trực tiếp) và rằng việc phân biệt đối xử tồn tại phổ biến trong việc làm (xác định bằng khoảng cách lương giữa những người bị phân biệt) về lâu dài là mâu thuẫn với lập luận rằng thị trường sẽ vận hành tốt và trừng phạt phân biệt đối xử. Thêm nữa, các tác nhân kinh tế có thể có thông tin không hoàn hảo và sự phân biệt đối xử có thể xảy ra một cách lý tính, không có định kiến.

Quy định cấm phân biệt đối xử trong luật quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Luật nhân quyền quốc tế cấm "bất kỳ dạng phân biệt nào, bao gồm chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, vị thế sinh thành hay địa vị khác."[3]

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 cấm "bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác"[4] trong việc bảo đảm các quyền dân sự và chính trị.

Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966 cấm "bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác"[4] trong việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.

Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc 1965 đặc biệt cấm mọi sự phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, màu da, dòng dõi, hay nguồn gốc quốc gia hay sắc tộc.

Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 1979 quy định về các biện pháp cần thực hiện để loại bỏ việc phân biệt đối xử với phụ nữ.

Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật 2007 nhấn mạnh các nguyên tắc và yêu cầu không phân biệt đối xử với người khuyết tật.

Ngoài ra còn có các văn kiện quy định về không phân biệt đối xử với các nhóm đặc biệt khác như trẻ em, người cao tuổi, người nhập cư, người thiểu số về tôn giáo, ngôn ngữ và sắc tộc.

Nhìn chung, các cơ sở phân biệt đối xử bị cấm trực tiếp trong các công ước nhân quyền quốc tế bao gồm: giới tính, tuổi tác, tình trạng khuyết tật hay tình trạng sức khỏe, sắc tộc/dân tộc, màu da hay ngôn ngữ, địa vị kinh tế và xã hội, nơi sinh sống, xuất thân, tôn giáo, tình trạng hôn nhân và gia đình, xu hướng tính dục và bản dạng giới, quan điểm chính trị, và các cơ sở khác.[1] Chú ý rằng các cơ chế nhân quyền quốc tế coi danh sách các cơ sở phân biệt đối xử bị cấm này là một danh sách mở, nghĩa là luôn có thể có những cơ sở vô lý cho việc phân biệt đối xử.

Quy định cấm phân biệt đối xử ở các quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn chung, các luật quy định cấm phân biệt đối xử được các quốc gia đưa ra trong thế kỷ 20 là kết quả của các phong trào đấu tranh vì bình đẳng và chống phân biệt đối xử. Các luật này có thể được quy định về bình đẳng và cấm phân biệt đối xử với một hoặc một vài nhóm dễ bị phân biệt đối xử như là về cấm phân biệt chủng tộc, bình đẳng giới, luật về khuyết tật, hay có thể được quy định trong một lĩnh vực như là cấm phân biệt đối xử trong bầu cử, trong cung cấp dịch vụ công như y tế, giáo dục, hoặc là áp dụng với khu vực tư nhân Trong 30 năm trở lại đây, nhiều quốc gia bắt đầu đưa ra một luật chống phân biệt đối xử toàn diện nhằm hướng đến bình đẳng về cơ hội và bình đẳng thưc chất.

Xem thêm Luật chống phân biệt đối xử.

Ở Việt Nam, Hiến pháp 2013 quy định tại điều 16: "Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội"[5] Có thể coi đây là một quy định cấm phân biệt đối xử toàn diện. Tuy vậy, về mặt kỹ thuật, điều 16 Hiến pháp chỉ nêu nguyên tắc không phân biệt đối xử trong các lĩnh vực đời sống mà không chỉ ra cụ thể các cơ sở phân biệt đối xử bị cấm. Trong số các cơ sở phân biệt đối xử bị cấm, chỉ có phân biệt đối xử về giới là bị cấm trực tiếp trong Hiến pháp, điều 26 khoản 3.[6]

Nhiều luật ở Việt Nam gần đây được cập nhật quy định về cấm phân biệt đối xử. Bộ luật Lao động 2019 nghiêm cấm "hành vi phân biệt, loại trừ hoặc ưu tiên dựa trên chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hoặc nguồn gốc xã hội, dân tộc, giới tính, độ tuổi, tình trạng thai sản, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, tín ngưỡng, chính kiến, khuyết tật, trách nhiệm gia đình hoặc trên cơ sở tình trạng nhiễm HIV hoặc vì lý do thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn, tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp có tác động làm ảnh hưởng đến bình đẳng về cơ hội việc làm hoặc nghề nghiệp”. Luật Giáo dục 2019 quy định tại Điều 13 "Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập." Luật Khám chữa bệnh 2017 quy định nguyên tắc trong hành nghề khám chữa bệnh là "Bình đẳng, công bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh."[7] Luật Bình đẳng Giới quy định rõ về bình đẳng giới và các biện pháp chống phân biệt đối xử về giới. Luật Người Khuyết tật 2010 cấm các hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử với người khuyết tật.[8]


Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă OHCHR. Guidance Note for Implementation of Survey Module on SDG Indicator 16.b.1 & 10.3.1 (Discrimination). Trang 4. Truy cập ngày 22/02/2021 tại https://www.ohchr.org/Documents/Issues/HRIndicators/SDG_Indicator_16b1_10_3_1_Guidance_Note%20.pdf
  2. ^ Rubin, M.; Hewstone, M.; et al. (2004). "Social identity, system justification, and social dominance: Commentary on Reicher, Jost et al., and Sidanius et al". Political Psychology. 25 (6): 823–844. doi:10.1111/j.1467-9221.2004.00400.x
  3. ^ Điều 2, Tuyên ngôn Nhân quyền Phổ quát. Xem tại Human Rights in the Administration of Justice: A Manual on Human Rights for Judges, Prosecutors and Lawyers. Trang 636. Truy cập ngày 22/02/2021 tại https://www.un.org/ruleoflaw/files/training9chapter13en.pdf
  4. ^ a ă Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. 2012. Giới thiệu Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ICCPR 1966. Trang 496. Truy cập ngày 22/02/2021 tại http://nhanquyen.vn/images/File/50sach%20cong%20uoc%20quyen%20ds%20chtri.pdf
  5. ^ Hiến pháp 2013. Điều 16. Truy cập ngày 22/02/2021 tạihttp://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop?categoryId=920&articleId=10053009
  6. ^ Hiến pháp 2013. Truy cập ngày 22/02/2021 tại http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop?categoryId=920&articleId=10053009
  7. ^ Luật số 12/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017, điều 3.
  8. ^ http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&_page=1&mode=detail&document_id=96045

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]