Đạo đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đạo đức là một từ Hán Việt, được dùng từ xa xưa để chỉ một thành tố trong tính cách và giá trị của một con người. Đạo là con đường, đức là tính tốt hoặc những công trạng tạo nên. Khi nói một người có đạo đức là ý nói người đó có sự rèn luyện thực hành các lời răn dạy về đạo đức, sống chuẩn mực và có nét đẹp trong đời sống và tâm hồn.

Đạo đức trong tâm lý học[sửa | sửa mã nguồn]

Khái niệm đạo đức[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo đức có thể được nhìn thấy theo các góc độ sau:

  • Nghĩa hẹp: Đạo đức thể hiện nét đẹp trong phong cách sống của một người hiểu biết và rèn luyện ý chí theo các bậc tiền nhân về các quy tắc ứng xử, các đường lối tư duy thanh tao tốt đẹp.
  • Nghĩa rộng hơn: Nghĩa rộng hơn, đạo đức trong một cộng đồng thể hiện qua những quy tắc ứng xử được áp dụng từ việc hợp với đạo lí xưa nay và phong tục của địa phương, cộng đồng đó. Tạo thành nét đẹp truyền thống văn hóa.
  • Nghĩa rộng: Đạo đức của cả một xã hội thường được xét đến khi xã hội đó bị hỗn loạn và thiếu chuẩn mực. Khi đó những bậc trí giả sẽ định ra những chuẩn mực cơ bản nhất để tạo dựng nên nền tảng đạo đức. Khi đã đạt đạo đức cơ bản nhất thì đó là đạo đức xã hội. Từ đó học tập đi lên thành các thành phần cao cấp hơn.

Một số phạm trù cơ bản của đạo đức[sửa | sửa mã nguồn]

Nghĩa vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Nghĩa vụ đạo đức của một người là sự rèn luyện chính bản thân người đó. Đạo đức là một quá trình rèn luyện cá nhân, trong đó việc học tập các đức tốt, sống một cách tốt đẹp. Tiếp xúc các tư tưởng lớn để tìm hiểu trí tuệ, sự an lạc, sự phước lành, sự no đủ, sự xử thế là những hoạt động then chốt.

Khi đặt được sự hiểu biết, con người sẽ hiểu mình cần phải làm gì trong cuộc sống của chính mình. Cần có trách nhiệm với cuộc đời và xã hội như thế nào, phải yêu thương chăm sóc gia đình ra sao. Đó là những điều tối cơ bản, về lẽ sống, lí sống và dần dần đạt đến sự viên mãn.

Lương tâm[sửa | sửa mã nguồn]

Lương tâm có thể được hiểu như tiếng nói bên trong đầy quyền uy chỉ dẫn, thôi thúc con người ta làm những điều tốt, ngăn cản, chỉ trích làm những điều xấu.

Theo quan điểm biện chứng của đạo đức học thì lương tâm là ý thức trách nhiệm và tình cảm đạo đức của cá nhân về sự tự đánh giá những hành vi, cách cư xử của mình trong đời sống xã hội. Sự hình thành lương tâm là quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao trong quá trình lao động sản xuất và giao tiếp xã hội. Có thể nêu ra các mức độ phát triển của lương tâm như sau:

  • Ý thức về cái cần phải làm do sự sợ hãi bị trừng phạt bởi thiết chế xã hội hoặc ý niệm tâm linh.
  • Ý thức về cái cần phải làm, cần phải tránh vì xấu hổ trước người khác và trước dư luận xã hội.
  • Ý thức về cái cần phải làm vì xấu hổ với bản thân. Khi cá nhân xấu hổ với bản thân, với những hành vi của mình là bước đầu của cảm giác lương tâm. Từ cảm giác đó đến sự phán xét các suy nghĩ, hành vi của mình thì đó chính là lương tâm. Vì thế lương tâm có quan hệ chặt chẽ với ý thức nghĩa vụ của con người.

Khi con người làm những điều xấu, độc ác thì lương tâm cắn rứt. Trái lại khi cá nhân làm những điều tốt, cao thượng thì lương tâm thanh thản. Do vậy, trong cấu trúc của lương tâm tồn tại khái niệm xấu hổ, hối hận. Giữ cho lương tâm trong sạch là một tiêu chí hạnh phúc và tiêu chí sống của con người.[1]

Thiện và Ác[sửa | sửa mã nguồn]

Thiện và Ác là cặp phạm trù đối lập nhau trong mọi thời đại, là thước đo đời sống đạo đức của mọi cá nhân. Thiện và Ác cũng là phạm trù cơ bản làm thước đo đời sống đạo đức của con người.

Cái Thiện là cái tốt đẹp biểu hiện lòng nhân ái của con người trong cuộc sống hàng ngày. Đó chính là hành vi thể hiện lợi ích của cá nhân phù hợp với yêu cầu và sự tiến bộ xã hội. Cái thiện phải được thể hiện qua việc góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, đem lại lợi ích cho mọi người trong xã hội. Hồ Chí Minh đã nói: "Việc thiện thì dù nhỏ đến mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ đến mấy cũng tránh" (Hồ Chí Minh, Về vấn đề giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1990, tr. 55). Là cái thiện là phấn đấu cho cuộc sống của con người ngày càng trở nên cao thượng hơn, tốt đẹp hơn và giàu tính nhân văn hơn.

Cái Ác là cái đáng ghét, ghê tởm, cái cần phải gạt bỏ trong đời sống cá nhân và xã hội. Cái ác làm mất đi cái văn minh, cao thượng của cuộc sống con người. Quan điểm về thiện và ác mang tính lịch sử và có thể hoán đổi cho nhau. Cái thiện và ác được chúng ta đánh giá tuỳ vào nó có thúc đẩy hay cản trở sự phát triển của xã hội, hạnh phúc của con người.[1]

Chiết tự[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ Đạo ()
Chữ Đức ()
  • Đạo: Đường đi, hướng đi, lối làm việc, ăn ở.
  • Đức: Theo Khổng Tử, sống đúng luân thường là có Đức. Theo Đạo (Lão tử) tu thân tới mức hiệp nhất với trời đất, an hoà với mọi người là có Đức.

Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc về vấn đề tốt-xấu, hơn nữa xem như là đúng-sai, được sử dụng trong 3 phạm vi: lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và trừng phạt đôi lúc còn được gọi giá trị đạo đức; nó gắn với nền văn hoá, tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn, triết học và những luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ thống này.

Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc nhằm điều chỉnhđánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội,với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội[2].

Đạo đức là một hiện tượng lịch sử và xét cho cùng, là sự phản ánh của các quan hệ xã hội. Có đạo đức của xã hội nguyên thuỷ, đạo đức của chế độ chủ nô, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản, đạo đức cộng sản. Lợi ích của giai cấp thống trị là duy trì và củng cố những quan hệ xã hội đang có; trái lại, giai cấp bị bóc lột tuỳ theo nhận thức về tính bất công của những quan hệ ấy mà đứng lên đấu tranh chống lại và đề ra quan niệm đạo đức riêng của mình. Trong xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp. Đồng thời, đạo đức cũng có tính kế thừa nhất định. Các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau, nhưng xã hội vẫn giữ lại những điều kiện sinh hoạt, những hình thức cộng đồng chung. Tính kế thừa của đạo đức phản ánh "những luật lệ đơn giản và cơ bản của bất kì cộng đồng người nào" (Lênin). Đó là những yêu cầu đạo đức liên quan đến những hình thức liên hệ đơn giản nhất giữa người với người. Mọi thời đại đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội... và biểu dương cái thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn... "không ai nghi ngờ được rằng nói chung đã có một sự tiến bộ về mặt đạo đức cũng như về tất cả các ngành tri thức khác của nhân loại" (Enghen). Quan hệ giữa người với người ngày càng mang tính nhân đạo cao hơn. Ngay trong xã hội nguyên thuỷ đã có những hình thức đơn giản của sự tương trợ và không còn tục ăn thịt người. Với sự xuất hiện của liên minh bộ lạc và nhà nước, tục báo thù của thị tộc dần dần mất đi. Xã hội chủ nô coi việc giết nô lệ là việc riêng của chủ nô, đến xã hội phong kiến, việc giết nông nô bị lên án. Đạo đức phong kiến bóp nghẹt cá nhân dưới uy quyền của tôn giáo và quý tộc; đạo đức tư sản giải phóng cá nhân, coi trọng nhân cách. "Nhưng chúng ta vẫn chưa vượt được khuôn khổ của đạo đức giai cấp. Một nền đạo đức thực sự có tính nhân đạo, đặt lên trên sự đối lập giai cấp và mọi hồi ức về sự đối lập ấy chỉ có thể có được khi nào xã hội đã tới một trình độ mà trong thực tiễn của đời sống, người ta không những thắng được mà còn quên đi sự đối lập giai cấp". Đó là trình độ của xã hội tương lai, xã hội cộng sản chủ nghĩa(Enghen).

Đạo đức theo Kinh Dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo 道 theo quan niệm của người xưa là con đường, là năng lực phổ biến điều hành mọi sự mọi sự vận động và biến hóa không ngừng của vạn vật và sự việc quanh ta. Đạo trong Kinh Dịch đặt trên nền tảng thiên kinh địa nghĩa: trật tự xã hội phản ánh trật tự vũ trụ. Không có một đấng tối cao nào có thể tùy tiện ban phúc giáng họa mà chỉ còn các nguyên lý vô ngã Âm Dương, ngã 我 = tôi, vô ngã = không có cái tôi, mà theo ngôn ngữ hiện đại được hiểu là quy luật khách quan. Nói một cách khác theo ngôn ngữ của chúng ta ngày nay thì Đạo là quy luật xảy ra xung quanh ta không tùy thuộc vào ý nguyện cá nhân của bất cứ ai.

Đức 德 là hiểu Đạo. Đức là mức độ tập trung của Đạo ở một con người. Nói theo ngôn từ ngày nay Đức là trình độ năng lực nắm vững và vận dụng quy luật. Trình độ cao bao nhiêu thì Đức dày bấy nhiêu.

Thánh nhân là người có Đức. Theo cách hiểu ngày nay thánh nhân đơn giản chỉ là "người có trình độ" nắm vững được sự vận động khách quan của quy luật, kể cả quy luật tự nhiên lẫn quy luật xã hội.

Một khái niệm khác về Đạo Đức là Đức Hạnh.

quẻ Bát Thuần Khảm - Lời tượng viết: nước chảy không ngừng là hình tượng của quẻ tập Khảm. Người quân tử lấy việc rèn luyện năng lực thực hiện làm trọng.

Tượng Viết: Thủy tấn chí, tập khảm, quân tử dĩ thường đức hạnh, tập giáo sự. 象曰: 水洊至,習坎,君子以常德行,習教事.

Hành 行- Một âm là hạnh - đức hạnh.

Như ở trên đã trình bày, năng lực là đức 德, khi thi hành gọi là hạnh 行. Chữ hạnh 行 này cùng một chữ với hành của hành động 行動.

Vì thế cho nên: Đức Hạnh 德行 được hiểu là: năng lực thực hiện[cần dẫn nguồn].

Tương đối tính[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo đức vừa có tính đa dạnguyển chuyển, vừa có tính bất biến tương đối.Đạo đức là các khái niệm manh mún,do các mối quan hệ xa hội từ thời xa xưa tạo nên.Trong nhiều trường hợp,đạo đức bị phân ly thành nhiều dạng hành sự được gọi là tốt hoặc xấu so với một chủ quan.Đạo đức có thể biểu hiện các hành sự mâu thuẫn với chính nó,đạo đức đánh giá phương tiện phân ly với mục đích,vì vậy đạo đức chỉ là một cái ảo giác về ý nghia.Con người là không có tự ngã,là gồm những ham muốn,có những tư duy khác nhau trong từng thời điểm,là những bản năng và vô thức tập thể được ẩn dấu rất sâu khiến một sự ham muốn nào đó tạo nên một hành sự đạo đức được dạy để bồi đắp cho cái mặt nạ cái tôi(Atma).Để thấy được cái cải trang kín đáo ấy ta sē xem qua một ví dụ:

  • Một người thấy người đi đường rơi một cái ví có thể có ít hoặc rất nhiều tiền.
    • trường hợp A:
Người đó định tâm không muốn lấy ví của người kia,nhưng lại cần một lời cảm ơn hay gì đó làm thỏa mãn cái tôi của anh ta là anh ta là một người có đạo đức,anh ta tự tâm đắc trong lòng là như vậy,và nếu có ai bảo anh ta vô đạo đức,anh ta sē nhớ lại hành động tốt của mình và ấm ức trong lòng,thực ra hành động trả ví trên là một hành vi chuộc lợi vô thức mang yếu tố tâm thần,những ham muốn được có cái tôi đạo đức bị ẩn đi,chỉ lộ ra hành động đạo đức không có lí do rõ ràng.
    • trường hợp A1:

anh ta trả lại ví do có nhiều con mắt người khác,hoặc sợ gặp rắc rối,hoặc đắn đo giữa ham muốn đạo đức(A),ham muốn tiền vì sợ người khác lấy miễn phí,sau đó anh ta chọn một phương án an toàn một cách vô thức.

    • trường hợp B:

Anh ta định tâm sē lấy trộm tiền,nếu anh ta giả lại tức là ham muốn A trên nhiều hơn ham muốn tiền bạc vì nhiều lí do như tiền ít chẳng hạn,lúc này quá trình tư duy tâm thần giống trường hợp A,nếu không trả bị phán xét là vô đạo đức.Nếu anh ta không lấy,cūng không trả lại,anh ta không ham muốn tiền,đạo đức cái tôi,anh ta không chăm chút cho cái tôi của mình nữa bởi nhiều lí do như chán trường,thù ghét xã hội,hoặc thậm chí là do lựa chọn có "ý thức" khi đã giác ngộ...v...v.Lúc này,cái đạo đức kia sē phán xét anh ta là vô đạo đức. 'Kết luận,đạo đức là một cách gọi các hành xử xã hội chỉ được tạo bởi các phản ứng vô thức,vô ngã'.

Các loại đạo đức[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trang nghiêm
  • Thuần hậu
  • Cẩn hạnh
  • Cẩn ngôn
  • Khiêm cung
  • Từ tốn
  • Kiên nhẫn
  • Trì thủ
  • Đại tín
  • Hy sinh
  • Lịch sự
  • Biết ơn
  • Lễ độ
  • Tự trọng
  • Tôn trọng
  • Thật thà
  • Giản dị
  • Tiết kiệm
  • Trung thực
  • Tôn sư trọng đạo
  • Tự tin
  • Đoàn kết
  • Dũng cảm
  • Khoan dung
  • Siêng năng
  • Tương trợ
  • Liêm khiết
  • Tự lập
  • Giữ chữ tín
  • Chí công vô tư
  • Tự chủ
  • Lí tưởng
  • Năng động,sáng tạo
  • Danh dự
  • Hạnh phúc
  • Lương tâm

Những nguyên tắc trong rèn luyện đạo đức[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyên tắc thứ nhất: Muốn có đạo đức trước hết nói phải đi đôi với làm và luôn nêu gương về đạo đức.

Đối với mỗi người đều nói nhiều mà làm ít, nói mà không làm, hơn nữa nói một đằng, làm một nẻo thì chỉ đem lại hậu quả phản tác dụng. Việc nêu gương thì không ở lĩnh vực nào mà vấn đề nêu gương lại được đặt ra như trong lĩnh vực đạo đức. Trong gia đình: Đó là tấm gương của bố mẹ đối với con cái, của anh chị đối với các em; trong nhà trường thì đó là tấm gương của thầy, cô giáo đối với học sinh; trong tổ chức, tập thể, Đảng, Nhà nước là tấm gương của những người đứng đầu, phụ trách, lãnh đạo, của cấp trên đối với cấp dưới; trong xã hội thì đó là tấm gương của người này đối với người khác. Một bài diễn văn hay không bằng một tấm gương sống.

  • Nguyên tắc thứ hai: Để rèn luyện đạo đức là xây đi đôi với chống.

Trong cuộc sống hàng ngày, những hiện tượng tốt - xấu, đúng - sai, cái đạo đức và cái vô đạo đức vẫn còn đan xen nhau, đối chọi nhau, thông qua hành vi của mỗi một con người khác nhau. Thậm chí, những đan xen và đối chọi ấy còn diễn ra ngay trong bản thân mỗi một con người. Do đó việc xây và chống trong lĩnh vực đạo đức hoàn toàn là điều không đơn giản. Để xây và chống có hiệu quả phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi.

  • Nguyên tắc thứ ba là: Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.

Bởi mỗi người phải thường xuyên chăm lo tu dưỡng đạo đức hàng ngày, đó là công việc kiên trì, bền bỉ suốt đời. Trong thực tiễn, có người trong lúc đấu tranh thì hăng hái, trung thành, không sợ nguy hiểm, không sợ gian khổ, hy sinh, nhưng đến khi có ít quyền hạn thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, biến thành người có tội.

Đối với mỗi con người việc rèn luyện đạo đức cách mạng phải được thực hiện trong hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong đời công, sinh hoạt, học tập, lao động, chiến đấu; trong mọi mối quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng, từ nhỏ đến lớn, từ gia đình đến nhà trường, đoàn thể, xã hội; từ quan hệ bạn bè đến đồng chí, anh em, cấp trên, cấp dưới, với Đảng, với nước, với dân và cả trong quan hệ quốc tế.[3]

Một số quan điểm về đạo đức[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khi đạo Bà la mônẤn Độ đang thống trị với sự phân chia đẳng cấp sâu sắc trong xã hội. Nỗi bất bình của thái tử Tất đạt đa về sự phân chia đẳng cấp, kì thị màu da và đồng cảm với nỗi khổ của muôn dân đã dẫn đến sự hình thành một tôn giáo mới. Sau này, khi môn đệ của Phật Thích Ca thắc mắc tại sao các pháp sư Bà la môn tự xưng là cao cấp và kinh rẻ đẳng cấp mà đức Phật xuất thân, ngài trả lời (Trường bộ kinh):

Đạo đức giả[sửa | sửa mã nguồn]

Ngược lại với Đạo đức là Đạo đức giả. Cùng với những thói ích kỷ, đố kị, xu nịnh, a dua, thói đạo đức giả là một thói xấu đang hoành hành mối quan hệ giữa con người và con người. Nó làm mất dần vẻ chân thực vốn có của đời sống xã hội. Nạn đạo đức giả sẽ làm suy yếu nền văn hóa của một đất nước.

Dân gian đã có rất nhiều thành ngữ, ca dao… để vạch mặt kẻ đạo đức giả:

"Miệng nam mô, bụng một bồ dao găm", hoặc
"Bề ngoài thơn thớt nói cười, bề trong nham hiểm giết người không dao".
"ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa"[6]

Thói đạo đức giả có mặt ở khắp mọi nơi, mọi chốn, nhưng rất khó bị phát giác. Thói đạo đức giả luôn đi cùng với tâm lý cả tin. Ở đâu có sự cả tin thì ở đó có thói đạo đức giả. Đạo đức Xã hội chủ nghĩa (chân chính) hướng con người tới tinh thần cao cả của tâm hồn, văn hóa. Bởi vậy, trong cuộc sống luôn đòi hỏi sự rèn luyện. Cảnh giác và tẩy trừ thói đạo đức giả là điều vô cùng cần thiết, trước hết là sự cảnh giác với chính bản thân mình.[8]

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Do chủ nghĩa cá nhân, người nói dối trá vì quyền lợi của mình.
  • Thiếu những tấm gương đạo đức thực sự xung quanh người nói (chứ không phải trong sách vở), hoặc tâm lí ỉ lại vào những tấm gương mà không chịu làm gương trước do sợ thiệt.
  • Do áp lực (người quyền trên, từ lãnh đạo, từ đồng nghiệp...) đè nặng lên vai người nói,mà năng lực thì có hạn, người nói phải đối phó với sự thật có thể gây thất vọng cho người khác (bệnh thành tích). Muốn thật có khi cũng không được, bởi điều đó ảnh hưởng tới những người khác.[9]
  • Do tâm lý sống chung với tiêu cực của các thành viên trong xã hội, coi đạo đức giả là chuyện bình thường trong thời buổi hiện nay; thờ ơ, ngại va chạm, thiếu đấu tranh để bảo vệ lẽ phải.[10]
  • Do tâm lí đám đông, thấy người khách hô khẩu hiệu thì cũng chỉ hô khẩu hiệu theo chứ chưa nghĩ tới những khó khăn khi làm (tính chất phong trào).[9]
  • Đây là vấn đề rộng lớn, liên quan đến nhiều người, nhiều Bộ ngành, đia phương.... Một cá nhân hoặc ít người không thể thay đổi được. Mà đòi hỏi cả xã hội, các ngành nghề, mỗi người đều phải vào cuộc, tạo nên một sự thay đổi đồng bộ.[9]
  • Đôi khi đạo đức giả lại là công cụ bất đắc dĩ của một người, một nhóm người...để tự vệ trước thói đạo đức giả của một người, một nhóm người...khác (có khi bị cho là ngụy biện)

Tác hại[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sự mất uy tín của cá nhân (tổ chức...) do người đó (người trong tổ chức đó...) có thói đạo đức giả, ảnh hưởng ở trong nước và có thể đối với cả quốc tế.
  • Tạo ra một hệ thống cổ xúy lừa đảo và tham nhũng, bởi trong những hệ thống đàng hoàng hơn, chân chính hơn thì người đạo đức giả khó có chỗ đứng.
  • Những người sống đúng với đạo đức truyền thống, người làm khoa học nghiêm chỉnh bị o ép, coi thường, dẫn đến chán nản, khó phát huy khả năng do có nhiều bất công.
  • Sự lây truyền căn bệnh thành tích từ các em học sinh từ khi ngồi trên ghế nhà trường, bệnh lừa đảo... đến các thế hệ tiếp sau.
  • Các giá trị xã hội bị đảo lộn.
  • v.v.

Một số quan điểm về đạo đức giả[sửa | sửa mã nguồn]

  • Một lần vua Lý Thánh Tông hỏi Ỷ Lan về kế trị nước, Ỷ Lan tâu:

Nghe xong Lý Thánh Tông rất phục.

  • Theo Hồ Chí Minh:

Đạo đức giả không đồng nghĩa với nói dối[sửa | sửa mã nguồn]

Nói dối có nhiều mục đích khác nhau:

  • Nói dối mà có lợi cho cả người nói và người nghe: là một biểu hiện của trêu đùa, bông đùa...Nhiều khi là liệu pháp tâm lí giúp người nghe, được ứng dụng trong Tâm lý trị liệu.(ám thị)
  • Nói dối mà có lợi cho người nói, không có lợi (hoặc có hại) cho người nghe, được gọi là dối trá[7][9], là một biểu hiện của lợi dụng, tham nhũng, bệnh thành tích, đạo đức giả, nịnh hót, mị dân...Trong chiến đấu thì nói dối có thể là chiến thuật, mưu kế...(ám thị)
  • Nói dối mà không có lợi cho người nói, có lợi cho người nghe là một biểu hiện của lòng cao thượng.
  • Nói dối mà có hại cho cả người nói và người nghe là khi thói đối trá bị lật tẩy, đôi khi là hậu quả của lời nói dối tưởng như vô hại.

Phòng chống[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, mỗi người tự rèn luyện bản thân, người trách nhiệm càng cao thì càng phải làm gương cho người khác xung quanh mình, nâng cao tính kỷ luật của bản thân, nói đi đôi với làm.
  • Đảm bảo pháp luật được thực hiện một cách đầy đủ, nghiêm túc. Nghiêm trị những kẻ tham nhũng, cơ hội...
  • Nâng cao dân trí để không cả tin, không cho thói đạo đức giả có chỗ đứng.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Khái niệm đạo đức và một số phạm trù cơ bản
  2. ^ Học viện chính trị Quốc gia. Giáo trình đạo đức học. Hà Nội-nxb Chính trị Quốc gia, 2000, trang 816)
  3. ^ a ă â Những nguyên tắc trong rèn luyện đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh
  4. ^ Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, Nhà xuất bảnGD 2000
  5. ^ Truyện đạo đức xưa và nay, Nguyễn Văn Lũy, Bùi Ngọc Sơn, Đỗ Cao Dũng sưu tầm, Nhà xuất bảnGD 2009
  6. ^ a ă â Để không còn thói đạo đức giả
  7. ^ a ă KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2012
  8. ^ THÓI ĐẠO ĐỨC GIẢ
  9. ^ a ă â b Ai cho giáo viên trung thực
  10. ^ a ă 10 câu nói bất hủ của Bill Gate
  11. ^ Các triều đại Việt Nam, Quỳnh Cư-Đỗ Đức Hùng, Nhà xuất bản Thanh niên 2005
  12. ^ GS Trần Hữu Dũng gửi thư cho một bạn trẻ, Bài đã được xuất bản.: 14/01/2009, TuanVietNam
  13. ^ Đặt mại dâm lên bàn nghị sự
  14. ^ “GS Châu nói về 'dối trá' và 'đớn hèn'. BBC tiếng Việt. 20 tháng 1, 2013. 
  15. ^ “Mất niềm tin sẽ mất tất cả - Tuổi Trẻ Online”. Tuổi Trẻ Online. 27 tháng 8 năm 2012. Truy cập 25 tháng 9 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]