Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Chính phủ Việt Nam
Flag of Vietnam.svg Coat of arms of Vietnam.svg
Quốc kỳ Quốc huy


Đương nhiệm
Phùng Xuân Nhạ
từ tháng 04 năm 2016


Bổ nhiệm bởi Chủ tịch nước
Nhiệm kỳ 5 năm
Thành lập 2 tháng 9 năm 1945
Người giữ chức đầu tiên Vũ Đình Hòe
Ngân sách 215.167 tỷ đồng (năm 2017)
Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa
Bùi Văn Ga
Phạm Mạnh Hùng
Địa chỉ 35 Đại Cồ Việt, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Website http://www.moet.gov.vn

Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, giáo dục đại học và các cơ sở giáo dục khác về: Mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; quy chế thi, tuyển sinh và văn bằng, chứng chỉ; phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; cơ sở vật chất và thiết bị trường học; bảo đảm chất lượng, kiểm định chất lượng giáo dục; quản lý nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, lịch sử giáo dục nước nhà sang một trang mới. Bộ Quốc gia giáo dục là một trong những Bộ - thành viên Chính phủ - được thành lập ngay từ những ngày đầu. Bộ trưởng đầu tiên là ông Vũ Đình Hòe. Ngày 02/3/1946 trong kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, ông Đặng Thai Mai được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục (thay ông Vũ Đình Hòe sang làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp). Năm 1950, Trung ương Đảng và Chính phủ đã quyết định tiến hành cuộc cải cách giáo dục. Cuộc cải cách này quyết định thực hiện hệ thống trường phổ thông 9 năm và chương trình giảng dạy mới. Giai đoạn này cũng đánh dấu việc thành lập Công đoàn Giáo dục Việt Nam (tháng 7/1951).[2]

Tháng 10/1965, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định phê chuẩn việc thành lập Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, tách khỏi Bộ Giáo dục và bổ nhiệm đồng chí Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng. Sau những năm phát triển giáo dục trong điều kiện hòa bình, lúc này trên toàn miền Bắc nạn mù chữ đã được thanh toán. Cũng trong giai đoạn này, phong trào thi đua “Hai tốt”, “Cờ Ba nhất”, “Sóng Duyên hải”, “Gió đại phong”, “Ba sẵn sàng”… phát triển rộng rãi với mô hình tiêu biểu là trường Phổ thông cấp II Bắc Lý (Hà Nam), trường Tiểu học Cẩm Bình (Hà Tĩnh), phong trào giáo dục xã Ngổ Luống (Hà Đông, Hà Nội). Hệ thống trường bổ túc công nông, trường phổ thông lao động được phát triển mạnh. Ở miền Bắc, mỗi ngày hàng triệu học sinh, sinh viên, các thầy cô giáo vẫn đội mũ rơm, khắc phục muôn vàn khó khăn đến trường học tập, giảng dạy. Hàng loạt trường trung học chuyên nghiệp mới được mở ra ở cả trung ương và địa phương. Mạng lưới các trường đại học và quy mô đào tạo không ngừng được mở rộng.

Sau khi Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên qua đời (10/1975), Thứ trưởng Hồ Trúc kiêm Bí thư Đảng đoàn phụ trách công việc chung của Bộ. Tháng 7/1976 bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam được cử làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Năm 1976, GS, PGS Nguyễn Đình Tứ, Thứ trưởng, Ủy viên dự khuyết TW Đảng khóa IV được cử làm Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp thay Bộ trưởng Tạ Quang Bửu nghỉ hưu. Tháng 1/1979, Bộ Chính trị ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết về cải cách giáo dục. Việc cải cách bắt đầu từ giáo dục phổ thông, song song với việc tiến hành bồi dưỡng giáo viên, theo hướng cải cách giáo dục, từng bước cải cách sư phạm. Năm 1987, theo quyết định của Nhà nước, Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Trung ương được sáp nhập vào Bộ Giáo dục; nhà trẻ, mẫu giáo hợp nhất lại thành ngành học Mầm non, nay còn gọi là bậc học Mầm non. Bộ trưởng Bộ Giáo dục thời kỳ này là GS, Viện sĩ Phạm Minh Hạc. Năm 1988: sáp nhập Tổng cục Dạy nghề vào Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp thành Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề. Năm 1990 Chính phủ quyết định thành lập Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở sáp nhập Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề. Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý thống nhất hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến giáo dục đại học và sau đại học. GS.TS Trần Hồng Quân, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII được bầu giữ chức bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Từ năm 1997 đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo lần lượt qua các thời kỳ lãnh đạo của các Bộ trưởng: Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận và từ 4/2016 đến nay là Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ.

Lãnh đạo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nguyễn Thị Nghĩa: Phụ trách Giáo dục Mầm non, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Trung học, Giáo dục dân tộc.
  2. Bùi Văn Ga: Phụ trách Giáo dục Đại học & Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, Giáo dục Quốc phòng, hợp tác và đào tạo với quốc tế kiêm Phó Chủ tịch Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước.
  3. Phạm Mạnh Hùng: Phụ trách văn phòng, thanh tra, cơ quan Bộ phía Nam.

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Nghị định 69/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo có 26 đơn vị gồm:[4]

Các đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Vụ Giáo dục Mầm non;
  2. Vụ Giáo dục Tiểu học;
  3. Vụ Giáo dục Trung học;
  4. Vụ Giáo dục Đại học;
  5. Vụ Giáo dục dân tộc;
  6. Vụ Giáo dục thường xuyên;
  7. Vụ Giáo dục Quốc phòng và An ninh;
  8. Vụ Giáo dục Chính trị và Công tác học sinh, sinh viên;
  9. Vụ Giáo dục thể chất;
  10. Vụ Tổ chức cán bộ;
  11. Vụ Kế hoạch - Tài chính;
  12. Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường;
  13. Vụ Pháp chế;
  14. Vụ Thi đua - Khen thưởng;
  15. Văn phòng;
  16. Thanh tra;
  17. Cục Quản lý chất lượng;
  18. Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục;
  19. Cục Công nghệ thông tin;
  20. Cục Hợp tác quốc tế;
  21. Cục Cơ sở vật chất;

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc.[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam;
  2. Học viện Quản lý giáo dục;
  3. Trường Cán bộ quản lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh;
  4. Báo Giáo dục và Thời đại;
  5. Tạp chí Giáo dục.

Tổ chức Doanh nghiệp thuộc Bộ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
  2. Viện Nghiên cứu Thiết kế Trường học

Chức năng và nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định 123/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ. Bên cạnh đó, Bộ thực hiện nhiệm vụ quy định mục tiêu giáo dục, đào tạo phù hợp với các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ; ban hành chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên; ban hành, cập nhật và hướng dẫn danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV trình độ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; quy chế đào tạo và liên kết đào tạo.

Bộ có nhiệm vụ quy định khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo trình độ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; các môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo đối với các trình độ đào tạo của cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài.

Về sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định việc biên soạn, thẩm định, phê duyệt tài liệu được phép sử dụng; hướng dẫn việc lựa chọn tài liệu trong các cơ sở giáo dục mầm non; quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa sách giáo khoa; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động, tiêu chuẩn, số lượng và cơ cấu thành viên của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa; ban hành tiêu chí đánh giá sách giáo khoa và phê duyệt sách giáo khoa được phép sử dụng trên cơ sở kết quả thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa; hướng dẫn việc lựa chọn sách giáo khoa trong các cơ sở giáo dục phổ thông.

Quy định việc tổ chức biên soạn, lựa chọn, thẩm định, duyệt và sử dụng tài liệu giảng dạy, giáo trình đào tạo trình độ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; tổ chức biên soạn giáo trình các môn lý luận chính trị, quốc phòng và an ninh để làm tài liệu sử dụng thống nhất trong giảng dạy, học tập trình độ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.

Bộ Giáo dục và Đào tạo còn có nhiệm vụ ban hành chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục, đào tạo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ theo khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và khung trình độ quốc gia Việt Nam; hướng dẫn chi tiết thực hiện phân tầng, xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu, định hướng ứng dụng; điều kiện đảm bảo chất lượng tối thiểu để thực hiện chương trình đào tạo.

Lãnh đạo Bộ các thời kì[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng Bộ Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Cựu Thứ trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Các vấn đề liên quan gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gian lận trong thi cử.
  • Tiêu cực trong việc chạy đua theo thành tích.
  • Tiêu cực trong việc xét tuyển viên chức, thuyên chuyển giáo viên, bổ nhiệm cán bộ quản lý.
  • Khủng hoảng số lượng giảng viên đại học có trình độ tiến sĩ, sinh viên sư phạm thất nghiệp tràn lan.
  • Đạo đức nhà giáo.
  • Học sinh nghỉ học nhiều ở nông thôn.
  • Điểm thi tuyển vào Đại học thấp.
  • Bạo lực học đường.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]