Chính trị Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Coat of arms of Vietnam.svg

Chính trị và chính phủ
Việt Nam


Các nước khác

Chính trị Việt Nam đi theo nguyên mẫu nhà nước xã hội chủ nghĩa đơn đảng. Một hiến pháp mới được thông qua vào tháng 11 năm 2013, tái khẳng định vai trò trung tâm của Đảng Cộng sản Việt Nam (trong thời gian 1951-1976 có tên là Đảng Lao động Việt Nam) trong chính trị và xã hội, phác thảo việc tái tổ chức chính phủ và tăng cường cải cách thị trường trong nền kinh tế. Dù Việt Nam là một quốc gia đơn đảng, việc đi theo đường lối tư tưởng chính thống của Đảng đã giảm bớt phần quan trọng và ưu tiên so với mục tiêu phát triển kinh tế.[1]

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Cách tổ chức chính trị ở Việt Nam được sắp xếp theo trục dọc với Đảng Cộng sản giữ địa vị trên hết, không như mô hình tam quyền phân lập như các tổ chức chính phủ dân chủ nghị viện khác. Mô hình khác biệt này được Ủy ban pháp luật của Quốc hội Việt Nam xác nhận.[2] Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng trong Hội nghị Trung ương lần thứ năm của Đảng cộng sản Việt Nam năm 2012 tại Hà Nội đã thẳng thừng bác bỏ nguyên tắc tam quyền phân lập vốn là nền tảng chính trị của hầu hết các quốc gia trên thế giới, ông cho rằng "quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp".[3]

Cựu Bộ trưởng Bộ Tư pháp Việt Nam Nguyễn Đình Lộc (tại nhiệm từ năm 1992 đến 2002) thì cho là Việt Nam tuân theo mô hình "quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có phân công, phối hợp giữa các quyền lực đó" với một đảng lãnh đạo và cầm quyền.[4]

Quyền lực quan trọng nhất bên trong Chính phủ Việt Nam - ngoài Đảng Cộng sản - là các cơ quan hành pháp do hiến pháp năm 2013 quy định: các chức vụ chủ tịch nước và thủ tướng. Chủ tịch nước Việt Nam hoạt động với tư cách nguyên thủ quốc gia cùng trên danh nghĩa là Thống lĩnh các lực lượng vũ trang và Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh. Thủ tướng Việt Nam lãnh đạo một chính phủ hiện gồm năm phó thủ tướng và 22 bộ trưởng và các ủy ban, tất cả các chức vụ và ủy ban trên đều được Quốc hội thông qua.

Dưới đây là Sơ đồ tổ chức của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2015:

Tổ chức Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 2015.png

Phân bố quyền lực[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến pháp 2013 tái khẳng định vai trò ưu tiên của Đảng Cộng sản tuy nhiên cũng theo bản hiến pháp đó thì Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là tổ chức duy nhất nắm quyền lập pháp. Cơ quan này có trách nhiệm to lớn trong việc giám sát mọi chức năng của chính phủ.

Từng được coi là một cơ quan chỉ để phê chuẩn, Quốc hội đã vươn ra tiếp nhận vai trò quan trọng hơn trong việc thực thi quyền lực thông qua trách nhiệm lập pháp, nhất trong những năm 2000 trở đi. Tuy nhiên, Quốc hội vẫn là đối tượng chịu sự lãnh đạo của Đảng. Khoảng gần 90% đại biểu Quốc hội là đảng viên. Số còn lại dù không phải là đảng viên, nhưng phải được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua mới có thể tranh cử vào Quốc hội.

Quốc hội họp hai lần một năm, mỗi lần kéo dài từ 7 đến 10 tuần; đại biểu quốc hội có nhiệm kỳ 5 năm.

Việt Nam có một cơ quan tư pháp riêng biệt, nhưng nhánh này có vai trò khá mờ nhạt. Nói chung, số lượng luật sư còn ít và các thủ tục tòa án còn khá sơ khai.

Đảng Cộng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Những viên chức chủ chốt
Chức vụ Tên Đảng Từ
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng Đảng Cộng sản 19/1/2011
Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh Đảng Cộng sản 4/2/2016

Bộ chính trị với 15 thành viên hiện nay, được bầu ra vào tháng 1 năm 2011 và do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đứng đầu, quyết định chính sách của chính phủ; Ban Bí thư gồm 10 người giám sát việc thi hành chính sách hàng ngày. Dù đã có một số nỗ lực nhằm giảm sự chồng chéo giữa các vị trí của đảng và chính quyền, cách quản lý này hiện vẫn đang được áp dụng và mở rộng. Các thành viên chính của Bộ chính trị như Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Sinh Hùng hiện cũng giữ các vị trí cao trong chính phủ và Quốc hội. Ngoài ra, Đảng ủy Quân sự Trung ương của đảng, 1 thành viên từ Bộ chính trị và các ủy viên Trung ương Đảng trong quân đội, quyết định chính sách quốc phòng.

Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành 5 năm một lần để đưa ra phương hướng lãnh đạo của đảng và chính phủ. Đại hội toàn quốc lần thứ 10 Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành từ ngày 12 tháng 1 năm 2011 và kết thúc ngày 19 tháng 1 năm 2011 với 1.376 đại biểu.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng với 175 thành viên, Uỷ viên dự khuyết là 25, do đại hội toàn quốc của đảng bầu ra, họp (thường kì) hai lần một năm.

Năm 2016 Đại hội Đảng nhóm họp hơn 1510 đảng ủy từ các tỉnh thành. Danh sách ứng cử viên được Trung ương Đảng Cộng sản soạn ra và đại hội sẽ bỏ phiếu chọn 180 người (2016) vào Trung ương và 16 người vào Bộ Chính trị, đứng đầu là Tổng bí thư. Đây những nhân vật quyền lực nhất trong chính quyền.[5]

Nhà nước[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nhà nước Việt Nam
Những viên chức chủ chốt
Chức vụ Tên Đảng Từ
Chủ tịch nước Trần Đại Quang Đảng Cộng sản 02/04/2016
Phó chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh Đảng Cộng sản 08/04/2016

Nhà nước Việt Nam bao gồm 4 cơ quan là:

Đứng đầu Nhà nước là Chủ tịch nước Việt Nam do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội với nhiệm kỳ 5 năm.

Lập pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Quốc hội Việt Nam
Những viên chức chủ chốt
Chức vụ Tên Đảng Từ
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân Đảng Cộng sản 5/4/2016
Các Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng Đảng Cộng sản 23/7/2007
Uông Chu Lưu Đảng Cộng sản 23/7/2007
Phùng Quốc Hiển Đảng Cộng sản 04/04/2016
Đỗ Bá Tỵ Đảng Cộng sản 04/04/2016

Quốc hội Việt Nam theo mô hình đơn viện. Đại biểu Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu lên với nhiệm kỳ 5 năm.

Đứng đầu Quốc hội là Chủ tịch Quốc hội Việt Nam do các đại biểu bầu ra.

Với Việt Nam là một quốc gia độc đảng, điều này có nghĩa là chỉ có một đảng chính trị duy nhất theo luật pháp quy định có quyền nắm quyền cai trị. Chiếu theo điều 4 của Hiến pháp năm 2013 thì đảng đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên nhiều người Việt Nam trong và ngoài nước, nhất là những người bất đồng chính kiến, cho rằng không có một điều luật nào trong các văn bản hiện hành cấm các chính đảng khác thành lập và hoạt động tại Việt Nam.Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một tổ chức chính trị ngoại vi của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng làm trung gian để thông qua và thanh lọc chọn ra danh sách những người có quyền ứng cử. Trong số 500 đại biểu Quốc hội thì chỉ có khoảng 10% đại biểu không phải là đảng viên

Hành pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chính phủ Việt Nam
Những viên chức chủ chốt
Chức vụ Tên Đảng Từ
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc Đảng Cộng sản 07/04/2016
Các Phó thủ tướng Phạm Bình Minh Đảng Cộng sản 13/11/2013
Trương Hòa Bình Đảng Cộng sản 09/04/2016
Vương Đình Huệ Đảng Cộng sản 09/04/2016
Vũ Đức Đam Đảng Cộng sản 13/11/2013
Trịnh Đình Dũng Đảng Cộng sản 09/04/2016

Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội Việt Nam và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Chính phủ chịu sự giám sát của Quốc hội và Chủ tịch nước. Chính phủ phải chấp hành:

1. Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội

2. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

Chính phủ Việt Nam được thành lập trong kỳ họp thứ nhất của Quốc hội mỗi khóa và có nhiệm kỳ là 5 năm.

Đứng đầu Chính phủ Việt Nam là Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng do Chủ tịch nước chỉ định trong số đại biểu Quốc hội và được Quốc hội phê chuẩn; các Phó thủ tướng do Thủ tướng chỉ định. Các thành viên Chính phủ do Chủ tịch nước chỉ định theo đề xuất của Thủ tướng và được Quốc hội phê chuẩn.

Tư pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Những viên chức chủ chốt
Chức vụ Tên Đảng Từ
Chánh án Tối cao Nguyễn Hòa Bình Đảng Cộng sản 8/4/2016
Các Phó Chánh án Tối cao Bùi Ngọc Hòa Đảng Cộng sản 17/11/2011
Tống Anh Hào Đảng Cộng sản 8/9/2011
Nguyễn Sơn Đảng Cộng sản 8/9/2011
Nguyễn Văn Thuân Đảng Cộng sản 8/10/2014
Nguyễn Thúy Hiền Đảng Cộng sản 12/8/2015
Nguyễn Văn Hạnh Đảng Cộng sản 11/3/2015

Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam là cơ quan xét nhà nước xử cao nhất.. Tòa án trên nguyên tắc là cơ quan xét xử độc lập với Chính phủ. Tuy nhiên, Hiến pháp Việt Nam không chấp nhận quy chế tam quyền phân lập, tức là không tách riêng 3 nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp ra, và không cho phép 3 nhánh khống chế lẫn nhau.

Đứng đầu Tòa án Tối cao là Chánh án Tối cao, do Chủ tịch nước chỉ định và Quốc hội phê chuẩn.

Những viên chức chủ chốt
Chức vụ Tên Đảng Từ
Viện trưởng Kiểm sát Tối cao Lê Minh Trí Đảng Cộng sản 8/4/2016
Phó Viện trưởng Kiểm sát Tối cao Nguyễn Hải Phong Đảng Cộng sản
Nguyễn Thị Thủy Khiêm Đảng Cộng sản
Lê Hữu Thể Đảng Cộng sản
Trần Công Phàn Đảng Cộng sản
Bùi Mạnh Cường Đảng Cộng sản
Nguyễn Văn Khánh Đảng Cộng sản

Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao là cơ quan kiểm sát và công tố nhà nước cao nhất.

Đứng đầu Viện Kiểm sát Tối cao là Viện trưởng Kiểm sát Tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm theo Hiến pháp.

Hiện nay, cả 3 nhánh này đều phải phối hợp trong công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật dưới sự lãnh đạo thống nhất và toàn bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do vậy, tính độc lập của ngành tòa án còn khá nhiều hạn chế. Tòa án thường phải nghe theo các cơ quan điều tra (Bộ Công an) và cơ quan tố tụng (Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao - trực thuộc Quốc hội).[cần dẫn nguồn]


Mặt trận Tổ quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Những viên chức chủ chốt
Chức vụ Tên Đảng Từ
Chủ tịch Mặt trận Nguyễn Thiện Nhân Đảng Cộng sản 5/9/2013
Tổng Thư ký Mặt trận Vũ Trọng Kim Đảng Cộng sản 9/1/2008

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị Việt Nam, là tổ chức liên minh và liên hiệp các tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo, và các đoàn thể thanh thiếu niên tại Việt Nam. MTTQVN do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Trong các cuộc bầu cử quốc hội tại Việt Nam, các ứng cử viên đều phải được Mặt trận Tổ quốc phê chuẩn để đưa vào danh sách ứng cử viên. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc còn đảm nhiệm việc giám sát cuộc bầu cử.

Đứng đầu MTTQVN là Chủ tịch Mặt trận do Ủy ban Trung ương MTTQVN chọn ra với nhiệm kỳ 5 năm.

Các đảng chính trị và các cuộc bầu cử[sửa | sửa mã nguồn]

Không có các đảng chính trị đối lập hợp pháp ở Việt Nam, dù một số nhóm đối lập có tồn tại và hoạt động ở nước ngoài, bên trong các cộng đồng người Việt tại các nước như PhápHoa Kỳ. Tại Việt Nam sau năm 2006 có một số đảng đối lập hoạt động công khai, dù không được nhà nước Việt Nam chấp nhận và bị đặt ngoài vòng pháp luật. Những nhóm nổi bật gồm có Đảng Việt Tân, Đảng Vì Dân Đảng Thăng Tiến Việt Nam, Đảng Dân Chủ, Đảng Nhân dân Hành Động và Chính phủ Việt Nam tự do. Chính phủ Việt Nam tự do đã tuyên bố chịu trách nhiệm về một số hành động khủng bố bên trong Việt Nam.

Mặc dù có những ý kiến muốn lập ra những chính đảng khác hoạt động trong nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 10 tháng 9, 2013 đã khẳng định lập trưởng không chấp nhận một số điểm cơ bản, trong đó có việc không chấp nhận "hình thành tổ chức chính trị đối lập".[6]

Các đảng chính trị cũ gồm Việt Nam Quốc dân Đảng, đảng Cần Lao, và Việt Nam Duy Tân Hội ở thời thuộc địa.

Ngoài ra còn có một số nhóm tự nhận "đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền" tại Việt Nam do một số người dân trong nước lập ra, mà không trực thuộc Mặt trận Tổ quốc, như Khối 8406, Liên Minh Dân Chủ Nhân quyền Việt Nam, Câu lạc bộ Nhà Báo Tự Do.

Các khu vực hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tỉnh Việt Nam

Việt Nam được chia thành 58 tỉnh: An Giang, Bắc Giang, Bắc Kạn, Bạc Liêu, Bắc Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bến Tre, Bình Định, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cao Bằng, Đắk Lắk, Đắk Nông, Điện Biên, Đồng Nai, Đồng Tháp, Gia Lai, Hà Giang, Hải Dương, Hà Nam, Hà Tĩnh, Hoà Bình, Hậu Giang, Hưng Yên, Khánh Hoà, Kiên Giang, Kon Tum, Lai Châu, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Lào Cai, Long An, Nam Định, Nghệ An, Ninh Bình, Ninh Thuận, Phú Thọ, Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Sơn La, Tây Ninh, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hoá, Thừa Thiên-Huế, Tiền Giang, Trà Vinh, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc, Yên Bái.

Và 5 thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh): Cần Thơ, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các tổ chức quốc tế có tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam là thành viên của Liên hiệp quốc, Hiệp hội các nước sử dụng tiếng Pháp, ASEANAPEC. Năm 2005 Việt Nam tham gia khai trương Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, với mục đích để thay thế ASEAN trong tương lai. Việt Nam được phép gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 07 tháng 11 năm 2006.

Ngoài ra Việt Nam còn tham gia ACCT, AsDB, ESCAP, FAO, G-77, IAEA, IBRD, ICAO, ICRM, IDA, IFAD, IFC, IFRCS, ILO, IMF, IMO, Inmarsat, Intelsat, Interpol, IOC, IOM (quan sát viên), ISO, ITU, NAM, OPCW, UN, UNCTAD, UNESCO, UNIDO, UPU, WCL, WCO, WFTU, WHO, WIPO, WMO, WTO.

Các ý kiến đánh giá về hệ thống chính trị Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Hai hệ thống Đảng và Nhà nước song hành nhưng Đảng là tối thượng[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An[7] nhận xét rằng Việt Nam hiện đang mắc lỗi hệ thống: "Lâu nay chúng ta thường mới nói tới cái lỗi của mô hình thôi. Có lẽ, lỗi hệ thống rõ ràng nhất, cụ thể nhất, toàn diện và triệt để nhất chủ yếu là từ khi chúng ta chuyển từ Cách mạng dân tộc dân chủ sang Cách mạng xã hội chủ nghĩa theo mô hình của Cộng hòa Xô Viết... Từ chỗ đánh giá Cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn thành, chúng ta phải chuyển ngay sang Cách mạng xã hội chủ nghĩa theo luận thuyết cách mạng không ngừng. Luận thuyết cách mạng không ngừng là đúng, còn cái sai là ở chỗ chúng ta đánh giá cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn thành tới mức phải chuyển ngay sang cách mạng xã hội chủ nghĩa". Ngoài ra, ông còn cho rằng "Với thể chế như hiện nay ở Việt Nam thì mọi thành công hay thất bại đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng."

Cũng theo ông An, mặc dù "Hiến pháp và Pháp luật đã ghi rất rõ: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật là tối thượng. Song trong thực tiễn thì không ít trường hợp chỉ chị, nghị quyết của Đảng mới là tối thượng. Thực chất chúng ta có hai hệ thống quyền lực song song, đó là hệ thống của Đảng và hệ thống Nhà nước đi kèm theo là hai hệ thống tòa nhà của hai cơ quan đảng và nhà nước cồng kềnh chưa từng có... Quốc hội là nhánh lập pháp có quyền lực cao nhất, song cũng còn nhiều hình thức, thực chất là Trung ương, Bộ Chính trị quyết... Chính phủ là nhánh hành pháp song cũng rất yếu, chủ yếu là chấp hành chỉ thị nghị quyết của Đảng."

Phân tán quyền lực[sửa | sửa mã nguồn]

"Chủ tịch nước từ chỗ tập trung thực quyền như khi Bác Hồ đảm nhận, ngày nay đã dần trở thành hình thức, nghi lễ. Quyền của nguyên thủ quốc gia bị phân tán ra làm ba nơi, ba người nắm giữ, đó là Tổng Bí thư thống lĩnh lực lượng vũ trang, Thủ tướng đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch nước đại diện cho Nhà nước về đối nội và đối ngoại nhưng không thực quyền... Tòa án là nhánh tư pháp lại càng yếu thế... Cả ba nhánh quyền lực đều đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Ban lãnh đạo Đảng (Bộ Chính trị - Ban Chấp hành Trung ương)."

Không theo tam quyền phân lập[sửa | sửa mã nguồn]

"Quyền lực nhà nước được phân công ra làm ba nhánh song lại thống nhất ở nơi Đảng... cần phải được khắc phục theo quy luật thống nhất theo Hiến pháp và Pháp luật, tức là thống nhất ở nơi dân, (tam quyền phân lập). Nếu hiểu ba nhánh quyền lực nhà nước đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được thể chế hoá trong Hiến pháp và Pháp luật là đúng, còn nếu hiểu thống nhất trực tiếp ở ban lãnh đạo hoặc cá nhân lãnh đạo cụ thể nào đó thì lại là sai... Mọi chủ trương chính sách của đảng phải được cụ thể hoá bằng Hiến pháp và Pháp luật. Chấp hành Hiến pháp và Pháp luật là chấp hành sự lãnh đạo của Đảng. Xã hội sẽ được nhà nước quản trị bằng pháp luật, chứ không quản trị bằng chỉ thị, nghị quyết trực tiếp của đảng. Pháp luật là tối thượng."

Thiếu cạnh tranh[sửa | sửa mã nguồn]

"Ở nước có đa đảng tham chính, thông thường các Đảng họ quy định đảng viên của Đảng đó phải bỏ phiếu theo lập trường của Đảng đó... các Đảng tranh giành lá phiếu với nhau, tranh giành lợi ích cho Đảng mình. Ở Việt Nam, Đảng ta không phải tranh giành lá phiếu với đảng nào cả mà chỉ là lá phiếu của những đảng viên, của những người đại biểu nhân dân tán thành hay không tán thành một điểm nào hay cả chủ trương, chính sách nào đó của Ban lãnh đạo Đảng... Trong thực tiễn đã có rất nhiều trường hợp đảng viên trong Quốc hội, kể cả ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương đã bỏ phiếu thuận theo lòng dân, không theo chỉ thị nghị quyết của Bộ chính trị, của Ban chấp hành TƯ và đã được Đảng và Nhà nước chấp nhận, nhân dân đồng tình và hoan nghênh. Đó là điều Đảng ta cần và phải làm khác với các đảng ở các nước có nhiều đảng tham chính để phát huy dân chủ thật sự trong đảng, trong xã hội."

"Dân chủ không đồng nhất với đa Đảng. Mất dân chủ không đồng nhất với một Đảng... Trong Đảng có thể có nhiều đồng chí đưa ra những cương lĩnh tranh cử khác nhau, dăm ba cương lĩnh chẳng hạn, sau đó trong Đảng lựa chọn ra hai ba cương lĩnh tranh cử để đưa ra dân lựa chọn. Như vậy, dân sẽ có cơ hội lựa chọn cương lĩnh tranh cử và người đứng đầu cương lĩnh để trở thành cương lĩnh phát triển của đất nước và nguyên thủ quốc gia trong một nhiệm kỳ xác định... Dân chủ trong Đảng gắn với dân chủ trong dân, trong xã hội sẽ tạo ra sự đồng thuận giữa Đảng và Nhà nước và Nhân dân. Ý Đảng lòng dân là một. Khối đại đoàn kết sẽ được củng cố và tăng cường trong thực tiễn. "

Phe cánh, trách nhiệm tập thể[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài tình thế bị Đảng Cộng sản chi phối, chính quyền Việt Nam còn có hai nhược điểm nữa là:[8]

  1. vấn nạn phe cánh,
  2. cơ chế trách nhiệm tập thể.

Theo nhà phân tích David Koh của Viện Nghiên cứu Đông Nam ÁSingapore thì phe cánh đã ăn sâu vào trong cơ chế nên không thể gỡ ra được. Còn về trách nhiệm tập thể của Bộ Chính trị thay vì tập trung quyền lực đã làm các hoạt động yếu ớt, kém hiệu quả, và tai hại hơn cả là hoàn toàn bế tắc.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]