Bộ trưởng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bộ trưởng (tiếng Anh: Minister) là một chính trị gia, giữ một công vụ quan trọng trong chính quyền cấp quốc gia, xây dựng và triển khai các quyết định về chính sách một cách phối hợp cùng các bộ trưởng khác. Bộ trưởng có quyền cấp cao hơn thứ trưởng, giám đốc sở, và thường là thành viên của nội các chính phủ, nội các thường do một thủ tướng đứng đầu.

Ở một số quốc qia và vùng lãnh thổ, bao gốm Hoa Kỳ, Anh, Hồng KôngPhilipin, những người giữ công vụ ngang cấp bộ được gọi là Quốc vụ khanh (Secretary of state), hay được gọi tắt là Tổng thư (secretary).

Từ nguyên học[sửa | sửa mã nguồn]

Từ bộ trưởng (部長) có nguồn gốc Hán-Việt, có nghĩa là "người đứng đầu một bộ", xuất phát từ lục bộ trong thời phong kiến. Việt Nam Cộng hòa xưa gọi chức vụ này là tổng trưởng.

Từ minister xuất hiện trong tiếng Anh thời trung cổ, xuất phát từ ministre trong tiếng Pháp cổ và nguyên gốc là từ minister trong tiếng Latin, có nghĩa là "đầy tớ"[1]. Phần lớn các ngôn ngữ Tây phương đều dùng một từ có gốc từ minister của tiếng Latin.

Ở vài nước như: Hoa Kỳ, Philippines, Hong Kong... bộ trưởng được gọi là secretary (nguyên nghĩa là "bí thư" hay "thư ký"). (Từ secretary còn được sử dụng để chỉ đến phó đại sứ (những người đứng đầu một công sứ quán.)

Lựa chọn[sửa | sửa mã nguồn]

Kiểu bộ trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mỗi quốc gia có các kiểu bộ trưởng riêng, và sẽ có danh xưng riêng, tùy theo số lượng các bộ.
  • Kiểu bộ trường đặc trưng mà hầu như quốc gia nào cũng có:
  • Thành viên Nội các Chính phủ thời Quốc gia Việt Nam (1948-55) và Việt Nam Cộng Hòa (1955-75) có hơi khác đôi chút so với thành phần Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

Thời trước 1975, dưới quyền Thủ tướng và Phó thủ tướng thường đặt ra bốn chức danh là: Quốc vụ khanh, Tổng trưởng, Bộ trưởng và Thứ trưởng (theo vị trí quan trọng từ cao xuống thấp. Riêng Quốc vụ khanh thường là một vị trí cố vấn đặc biệt và quan trọng đối với Thủ tướng)

Ví dụ 1: Chẳng hạn như trong Chính phủ lâm thời Quốc gia Việt Nam - Nội các Nguyễn Văn Xuân (từ 1-6-1948):

- Chủ tịch Hội đồng Tổng trưởng kiêm tổng trưởng Bộ Quốc phòng và tổng trưởng Bộ Nội vụ: Nguyễn Văn Xuân.

- Quốc vụ khanh, phó chủ tịch Hội đồng Tổng trưởng kiêm tổng trấn Nam Phần: Trần Văn Hữu.

- Quốc vụ khanh, tổng trấn Trung Phần: Phan Văn Giáo.

- Quốc vụ khanh, tổng trấn Bắc Phần: Nghiêm Xuân Thiện.

- Quốc vụ khanh, tùng Bộ Quốc phòng: Trần Quang Vinh.

- Tổng trưởng Bộ Tài chánh, kinh tế quốc gia: Nguyễn Trung Vinh. 

- Thứ trưởng tùng Dinh chủ tịch: Đinh Xuân Quảng.

- Thứ trưởng tùng Bộ Nội vụ: Đỗ Quang Giai.

- Thứ trưởng tùng Bộ Quốc gia giáo dục, đặc trách Thanh niên và thể thao: Hà Xuân Tế.

- v.v..

Ví dụ 2: Hoặc như trong Nội các do quốc trưởng Bảo Đại trực tiếp làm Thủ tướng (từ ngày 1-7-1949 đến 18-1-1950)

- Quốc trưởng kiêm thủ tướng: Bảo Đại.

- Phó thủ tướng kiêm tổng trưởng Bộ Quốc phòng: trung tướng Nguyễn Văn Xuân.

- Tổng trưởng Phủ thủ tướng kiêm tổng trưởng Bộ Nội vụ: Vũ Ngọc Trân.

- Bộ trưởng Phủ Thủ tướng kiêm tổng thư ký Chính phủ: Đặng Trinh Kỳ.

- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Trần Quang Vinh.

- Tổng trưởng Bộ Ngoại giao: Nguyễn Phan Long.

- Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Lê Thăng.

- Tổng trưởng Bộ Tư pháp: Nguyễn Khắc Vệ.

- v.v...

Lúc này, một vài bộ quan trọng vừa có 1 Tổng trưởng, vừa có 1 Bộ trưởng, vừa có các Thứ trưởng, nên bộ trưởng có thể xem như là Thứ trưởng thứ nhất của bộ, dười tổng trưởng, nhưng trên các thứ trưởng trong bộ đó.

Ví dụ 3: Hoặc như trong Chính phủ Bảo Đại - Nội các Ngô Đình Diệm (từ 7-7-1954 đến 25-10-1955):

- Quốc trưởng: Bảo Đại.

- Thủ tướng kiêm tổng trưởng Bộ Quốc phòng và tổng trưởng Bộ Nội vụ: Ngô Đình Diệm.

- Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Nguyễn Ngọc Thơ (đến 9-1954).

- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Lê Ngọc Chấn (đến 9-1954).

- Bộ trưởng Phủ Thủ tướng: Trần Chánh Thành (đến 9-1954).

- Bộ trưởng Phủ Thủ tướng đặc nhiệm thông tin: Lê Quang Luật (đến 9-1954).

- Bộ trưởng đặc nhiệm và phát ngôn nhân Phủ thủ tướng: Phạm Duy Khiêm.

- Tổng trưởng Bộ Ngoại giao: Trần Văn Đỗ.

- Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Bùi Văn Thinh.

- Tổng trưởng Kinh tế tài chánh: Trần Văn Của (đến 9-1954).

- Bộ trưởng Bộ Kinh tế: Nguyễn Văn Thoại (đến 9-1954).

- Bộ trưởng Bộ Tài chánh: Trần Hữu Phương.

- Tổng trưởng Bộ Canh nông: Phan Khắc Sửu (đến 9-1954). 

- Quốc vụ khanh: Trần Văn Chương (đến 9-1954).

- v.v...

Trong trường hợp này, tổng trưởng Kinh tế tài chánh có hai "phụ tá', là bộ trưởng Bộ Kinh tế và bộ trưởng Bộ Tái chánh. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Nội vụ giúp Thủ tướng trực tiếp điều hành bộ, trong khi Thủ tướng vẫn kiêm chức Tổng trưởng hai bộ quan trọng đó. Riêng Quốc vụ khanh là cố vấn đặc biệt của Thủ tướng và không trực tiếp nắm bộ nào.

Ví dụ 4: Có nội các chỉ gồm có các tổng trưởng (và các thứ trưởng phụ tá) và Quốc vụ khanh, mà bỏ tên gọi Bộ trưởng. Như Nội các Ngô Đình Diệm cải tổ (10-5-1955 đến 26-10-1955).

Cũng có Nội các chỉ gồm các bộ trưởng (và các thứ trưởng phụ tá) và Quốc vụ khanh, mà bỏ tên gọi Tổng trưởng. Như Chính phủ Ngô Đình Diệm  (26-10-1955 đến 26-10-1956).

Hoặc như Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu - Nội các Nguyễn Cao Kỳ (1965-67) thì đứng đầu Bộ là một Tổng uỷ viên Hành pháp (như tổng trưởng), hoặc 1 Uỷ viên Hành pháp (bộ trưởng), bên dưới có các Thứ uỷ viên Hành pháp (thứ trưởng).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “minister: Definition, Synonyms from Answers.com”. Truy cập 10 tháng 2 năm 2015. 
  2. ^ Thời gian đó một loạt cán bộ ngân hàng vào tù do liên quan đến vụ án Phạm Huy Phước và Tamexco vay tiền quá nhiều để tham ô, dẫn đến vỡ nợ