Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam

Flag of the Communist Party of Vietnam.svg
Đảng kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam

Khóa thứ XII
(2016 - tới nay)
Ủy viên
Ủy viên chính thức 180 ủy viên
Ủy viên dự khuyết 20 ủy viên
Cơ cấu tổ chức
Cơ quan chủ quản Đại hội Đại biểu Toàn quốc
Chức năng Cơ quan lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng
Cấp hành chính Cấp xã/phường/thị trấn
Văn bản Ủy quyền Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
Phương thức liên hệ
Trụ sở
Địa chỉ Văn phòng Trung ương Đảng
1A, Hùng Vương, Phường Điện Biên, Quận Ba Đình, Hà Nội
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Coat of arms of Vietnam.svg

Chính trị và chính phủ
Việt Nam


Các nước khác

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (viết tắt là BCH hoặc BCHTW) là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam được bầu trong Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp giữa các nhiệm kì đại hội là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ.

Đứng đầu Ban Chấp hành Trung ương hiện là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương.

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương do đại hội đại biểu toàn quốc bầu và số lượng Ủy viên do đại hội quyết định. Năm 1976 sau Đại hội IV thì số Ủy viên là 101 người. Đến Đại hội VIII thì số Ủy viên tăng lên 170[1]. Ban Chấp hành Trung ương khóa X gồm 160 Ủy viên chính thức và 41 Ủy viên dự khuyết. Đến Đại hội XI gồm 175 Ủy viên chính thức và 25 Ủy viên dự khuyết. Đại hội Đại hội XII (2016) có 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết.

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổ chức chỉ đạo thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc; quyết định những chủ trương, chính sách về đối nội, đối ngoại, công tác quần chúng và công tác xây dựng đảng; chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ tiếp theo, Đại hội đại biểu toàn quốc bất thường (nếu có).
  • Bầu Bộ Chính trị; bầu Tổng Bí thư trong số Ủy viên Bộ Chính trị; thành lập Ban Bí thư gồm Tổng Bí thư, một số Ủy viên Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương bầu trong số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và một số Ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công; bầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương; bầu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong số Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Quyết định số lượng Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
  • Triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc thường lệ 5 năm một lần; có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn, nhưng không quá một năm. Khi Ban Chấp hành Trung ương xét thấy cần hoặc khi có hơn một nửa số cấp Ủy trực thuộc yêu cầu thì Ban Chấp hành Trung ương triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc bất thường.

Ban Chấp hành trung ương có thẩm quyền giới thiệu người ra ứng cử Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ để Quốc hội thảo luận và phê chuẩn [2][3], tham gia ý kiến về nhân sự Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội và các thành viên Chính phủ.

Theo Điều lệ Đảng thì Ban Chấp hành Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị. Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, khiển trách, cảnh cáo Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên.

Điều lệ Đảng sửa đổi năm 2011 có quy định mới mở rộng quyền Ban Chấp hành Trung ương "căn cứ tình hình thực tế quyết định chỉ đạo thí điểm một số chủ trương mới". Theo quy định hiện hành thì Ban Chấp hành Trung ương có quyền xem xét về vấn đề Hiến pháp, trước khi Quốc hội thông qua.

Phương thức làm việc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Họp thường lệ sáu tháng một lần; họp bất thường khi cần. Các phiên họp của Ban Chấp hành Trung ương đều là họp kín, biểu quyết theo quy định của đảng. Tổng Bí thư chủ trì công việc của Ban Chấp hành Trung ương, kết luận các phiên họp Hội nghị Trung ương. Các Ủy viên Bộ Chính trị thay nhau điều hành các phiên họp của Trung ương Đảng.

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên Ban Chấp hành Trung ương thường gồm các quan chức cấp cao trong bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể ở cấp trung ương và cấp tỉnh. Các Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương thường đảm nhiệm các cương vị quan trọng: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư, Phó Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Trưởng và một số Phó Trưởng ban các Ban của đảng, Bộ trưởng các bộ và chức vụ tương đương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòngThứ trưởng Bộ Công an, Chủ nhiệm các Ủy ban quan trọng của Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Bí thư các tỉnh thành, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể Phụ nữ, Nông dân, Thanh niên, Liên đoàn Lao động, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hìnhĐài Tiếng nói Việt Nam, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân dân, Tư lệnh các Quân chủng, Quân khu, Bộ đội Biên phòng, Tổng Kiểm toán Nhà nước và một số chức vụ quan trọng khác.

Ban Chấp hành Trung ương xem xét việc chuyển Ủy viên Trung ương dự khuyết có đủ điều kiện để thay thế Ủy viên Trung ương chính thức khi khuyết.

Quyền hạn của các Ủy viên Trung ương Đảng theo quy định của Đảng, bao gồm tham gia quyết định các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền Ban Chấp hành Trung ương, và các quyền khác. Các Ủy viên dự khuyết không có quyền biểu quyết.

Tại kỳ họp 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã bàn và quyết nghị quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, với các tiêu chuẩn được đặt ra với Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước.

Theo quy định hiện hành thì hàng năm, sẽ lấy phiếu tín nhiệm các thành viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, với đối tượng ghi phiếu tín nhiệm là các Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.[4]

Cơ quan tham mưu giúp việc[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Chấp hành Trung ương Đảng có 10 cơ quan tham mưu giúp việc là:

  1. Văn phòng Trung ương Đảng
  2. Ban Tổ chức Trung ương
  3. Ban Tuyên giáo Trung ương
  4. Ban Dân vận Trung ương
  5. Ban Đối ngoại Trung ương
  6. Ban Kinh tế Trung ương
  7. Ban Nội chính Trung ương
  8. Ủy ban Kiểm tra Trung ương
  9. Ban Cán sự Đảng Ngoài nước
  10. Hội đồng Lý luận Trung ương

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện có bốn cơ quan đào tạo cán bộ, nghiên cứu, báo chí, xuất bản. Về mặt tổ chức, các cơ quan này tương đương với các Ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam:

  1. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
  2. Báo Nhân dân
  3. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật
  4. Tạp chí Cộng sản

Các Đảng ủy cơ quan trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Quân ủy Trung ương
  2. Đảng ủy Công an Trung ương
  3. Đảng ủy Khối cơ quan Trung ương
  4. Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương
  5. Ban Cán sự Đảng các cơ quan, bộ, ngành; Đảng đoàn các cơ quan, tổ chức Hội cấp trung ương
  6. Tỉnh ủy, Thành ủy trực thuộc trung ương

Ban Chấp hành Trung ương trước Đại hội lần thứ nhất của đảng[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Chấp hành Trung ương lâm thời thành lập sau Hội nghị thành lập đảng tháng 2 năm 1930 có: Trịnh Đình Cửu (phụ trách Ban chấp hành lâm thời), Nguyễn Hới, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao, Phạm Hữu Lầu, Hoàng Quốc Việt, Lưu Lập Đạo (bổ sung), sau đến tháng 7 bổ sung thêm Trần Phú. Ít lâu sau hội nghị trên, Trịnh Đình Cửu xin rút khỏi Ban Chấp hành Trung ương lâm thời để nhận công tác ở Xử Ủy Bắc Kỳ. Một số bị Pháp bắt sau đó (Nguyễn Hới, Hoàng Quốc Việt, Phạm Hữu Lầu, sau Nguyễn Hới hi sinh). Xứ Ủy Nam Kỳ cử Nguyễn Trọng Nhã và Ngô Đức Trì tham gia Ban Chấp hành TW lâm thời.

Sau Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ nhất tháng 10 năm 1930, Ban Chấp hành Trung ương gồm 6 Ủy viên: Trần Phú, Ngô Đức Trì, Nguyễn Trọng Nhã, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao. Tổng Bí thư: Trần Phú.

Phong trào nổi dậy 1930-1931, nổi bật là Xô-viết Nghệ Tĩnh bị Pháp đàn áp. Tổ chức của đảng bị tan vỡ, kể cả Ban Chấp hành TW, Trần Phú, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc... hi sinh. Cuối năm 1931, Lê Hồng Phong trở về Trung Quốc bắt liên lạc với cán bộ Việt Nam ở nước ngoài như: Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Thụ... mục đích lập lại Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng và thảo chương trình hành động của Đảng.

Tháng 3 năm 1934, Ban chỉ huy ở ngoài được thành lập gồm có Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Dựt do Lê Hồng Phong làm Bí thư. Sau đó còn có thêm các người khác như Phùng Chí Kiên. Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng trước Đại hội I có chức năng như là Ban chấp hành Trung ương Lâm thời và được Quốc tế cộng sản công nhận, quy định rõ chức năng nhiệm vụ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Abuza, Zachary. Renovating Politics in Contemporary Vietnam. Boulder, CO: Lynne Rienner Publishers, 2001. Trang 19.
  2. ^ “Thủ tướng Chính phủ sẽ trả lời chất vấn? - VnExpress”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015. 
  3. ^ “Các ông Trần Đức Lương, Phan Văn Khải, Nguyễn Văn An chính thức xin từ nhiệm:Các ông Trần Đức Lương, Phan Văn Khải, Nguyễn Văn An chính thức xin từ nhiệm”. Báo Bắc Kạn. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015. 
  4. ^ Quy định số 165-QĐ/TW ngày 18/2/2013 của Bộ Chính trị

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa

I | II | III | IV | V | VI | VII | VIII | IX | X | XI | XII |