Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá I

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Đông Dương
Khóa I
1935-1951
Flag of the Communist Party of Vietnam.svg
Đảng kỳ Đảng Cộng sản Đông Dương
Nhiệm kỳ 31/3/1935 – 19/2/1951
15 năm, 325 ngày
Tổng Bí thư Lê Hồng Phong
Hà Huy Tập
Nguyễn Văn Cừ
Trường Chinh

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá I được bầu ra tại Đại hội lần thứ I họp tại Macao tháng 3 năm 1935. Trong suốt khóa (1935-1951), một số ủy viên Trung ương đã hy sinh và một số người mới được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 1935-1936[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá I được bầu ra tại Đại hội lần thứ I gồm 13 ủy viên với 9 uỷ viên chính thức và 4 uỷ viên dự khuyết. Trên thực tế bầu được 12 ủy viên, khuyết 1 ủy viên do Xứ ủy Trung kỳ chỉ định sau:

Ban Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương gồm: Lê Hồng Phong, Đinh Thanh, Hoàng Đình Giong, Ngô Tuân, Nguyễn Văn Dựt.

Từ tháng 4-9/1935, 8 ủy viên Trung ương lần lượt bị sa lưới mật thám Pháp, Đinh Thanh hy sinh, các ủy viên Trung ương còn lại và ủy viên Thường vụ bị mất liên lạc với nhau, nên đến tháng 9/1935, Ban Thường vụ và Ban Chấp hành Trung ương đã không còn và kết thúc. Trong hoàn cảnh đó, Ban Chỉ huy hải ngoại trực tiếp chỉ đạo công tác trong nước thay thế Ban Chấp hành Trung ương nhưng chỉ hoạt động chủ yếu tại Bắc Kỳ.

Giai đoạn 1936-1937[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Hội nghị Thượng Hải tháng 7 năm 1936, Ban Chỉ huy hải ngoại phân công Hà Huy Tập về trong nước gây dựng cơ sở cách mạng. Ngày 12/10/1936, tại Hội nghị Trung ương được tổ chức tại Nam Kỳ, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời được thành lập gồm 13 ủy viên:

Lê Hồng Phong và Phùng Chí Kiên (khi đó hoạt động trong nước) là đại diện Ban Chỉ huy hải ngoại trong Ban Chấp hành Trung ương lâm thời.

Ban Thường vụ gồm : Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Chí Diểu, Võ Văn Tần

Giai đoạn 1937-1938[sửa | sửa mã nguồn]

Nhằm thống nhất tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ; đề ra những chủ trương mới, thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển, Ban Chấp hành Trung ương nhóm họp Hội nghị mở rộng tại Nam Kỳ. Sau Hội nghị Hà Huy Tập tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư.

Đầu tháng 9 năm 1937, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị mở rộng tại Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định. Hội nghị củng cố Ban Chấp hành Trung ương gồm 11 ủy viên:

  • Hà Huy Tập - Tổng Bí thư,
  • Võ Văn Ngân,
  • Phan Đăng Lưu,
  • Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt),
  • Nguyễn Văn Cừ,
  • Nguyễn Văn Trọng (Nguyễn Chí Diểu),
  • Phùng Chí Kiên,
  • Võ Văn Tần,
  • Lê Hồng Phong,
  • Nguyễn Ái Quốc,
  • Ngô Văn Tâm.

Ban Thường vụ gồm có: Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên, Nguyễn Chí Diểu, Võ Văn Tần, Nguyễn Văn Cừ

Giai đoạn 1938-1940[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 3/1938, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn thể tại Tân Thới Nhất, gần Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định. Hội nghị kiện toàn Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 11 ủy viên:

  • Nguyễn Văn Cừ,
  • Hà Huy Tập,
  • Lê Hồng Phong (về Nam Kỳ ngày 10/11/1937),
  • Nguyễn Chí Diểu,
  • Võ Văn Ngân,
  • Võ Văn Tần,
  • Nguyễn Ái Quốc,
  • Phùng Chí Kiên,
  • Hoàng Quốc Việt,
  • ...

Ban Thường vụ gồm: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Võ Văn Tần, Nguyễn Chí Diểu; sau bổ sung thêm Lê Duẩn và Phan Đăng Lưu vào Ban Thường vụ năm 1939. Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư.

Ban Bí thư gồm Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong.

Sau Hội nghị Trung ương một số ủy viên bị bắt, Nguyễn Chí Diểu và Võ Văn Ngân mất vì bị bệnh, Ban Chấp hành Trung ương quyết định bổ sung ủy viên Trung ương gồm:

  • Lê Duẩn (bổ sung giữa năm 1938),
  • Phan Đăng Lưu (bổ sung giữa năm 1938).
  • Nguyễn Hữu Tiến (bổ sung năm 1939).

Sau khi Thế chiến 2 bùng nổ, đầu tháng 11/1939, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị tại Bà Điểm Hóc Môn - Gia Định. Ban Chấp hành Trung ương quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương.

Sau Hội nghị, 5 ủy viên Trung ương sa vào tay địch gồm: Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn (17/1/1940), Lê Hồng Phong (6/2/1940), Hà Huy Tập (30/3/1940), Võ Văn Tần (21/4/1940). Do hầu hết các uỷ viên Trung ương hoạt động trong xứ bị bắt, chỉ còn Phan Đăng Lưu, nên Ban Chấp hành Trung ương tan vỡ.

Giai đoạn 1940-1941[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11/1940, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản được thành lập tại Bắc Kỳ gồm:

Ban Thường vụ Trung ương gồm: Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Hoàng Văn Thụ và Hạ Bá Cang.

Giai đoạn 1941-1945[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa tháng 5/1941, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng diễn ra tại Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Hội nghị bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 7 chính thức và 4 dự khuyết:

Ủy viên chính thức
Ủy viên dự khuyết

Ban Thường vụ gồm: Trường Chinh, Hạ Bá Cang và Hoàng Văn Thụ. Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư.

Cuối năm 1941, Trần Đăng Ninh bị bắt; cuối tháng 8/1943, Hoàng Văn Thụ bị bắt. Ban Chấp hành Trung ương quyết định bổ sung gồm:

Đến đầu tháng 8/1945, Ban Chấp hành Trung ương gồm: Trường Chinh (Tổng Bí thư), Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng, Lê Đức Thọ, Trần Đăng Ninh (dự khuyết), Vũ Anh (dự khuyết). Các ủy viên khác được phân công sang các lực lượng Việt Minh.

Tại Hội nghị Toàn quốc họp tại Tân Trào tháng 8/1945, Hội nghị quyết định bầu bổ sung: Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Hoan, Chu Văn TấnVõ Nguyên Giáp; nâng số Ủy viên Trung ương lên 10 người.

Giai đoạn 1945-1951[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng tháng 8/1945, Ban Chấp hành Trung ương gồm:

Ban Thường vụ gồm: Hồ Chí Minh (Chủ tịch nước), Trường Chinh (Tổng Bí thư), Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ (tới 1948), Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng (bổ sung 1948).

Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ: Hoàng Văn Thụ (1941–44), Văn Tiến Dũng (1944), Nguyễn Văn Trân (1944-45),

Bí thư Xứ ủy Trung kỳ: Nguyễn Chí Thanh (1945–1948),

Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ: Trần Văn Giàu (1943–45) - Xứ ủy Tiên phong, Dân Tôn Tử (Trần Văn Vi)- Xứ ủy Giải phóng (1945), Tôn Đức Thắng (1945), Lê Duẩn (1945–46), Phạm Hùng (1946), Lê Duẩn (1946–51), Phó Bí thư Xứ ủy: Lê Đức Thọ (1948–51), Nguyễn Văn Kỉnh.

Danh sách Ủy viên chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân sự Ban Chấp hành Trung ương giai đoạn 1935 đến trước đại hội II năm 1951 điều chỉnh trong các năm sau đó (danh sách chưa đầy đủ):

  1. Lê Hồng Phong
  2. Hà Huy Tập
  3. Nguyễn Văn Cừ
  4. Võ Văn Ngân
  5. Trường Chinh (từ 1940)
  6. Đinh Thanh
  7. Hoàng Văn Thụ
  8. Hoàng Văn Nọn
  9. Nguyễn Văn Dựt
  10. Nguyễn Chí Diểu
  11. Võ Nguyên Hiến
  12. Thẩu Xỉ (người Lào)
  13. Ngô Tuân
  14. Nguyễn Ái Quốc (từ 1941)
  15. Lê Duẩn
  16. Phan Đăng Lưu (từ năm 1938)
  17. Võ Văn Tần (từ năm 1937)
  18. Nguyễn Hữu Tiến
  19. Phùng Chí Kiên
  20. Hoàng Quốc Việt
  21. Nguyễn Chí Thanh (từ tháng 8-1945)
  22. Hoàng Văn Hoan (từ tháng 8-1945)
  23. Chu Văn Tấn (từ tháng 8-1945)
  24. Vũ Anh (từ 1941)
  25. Võ Nguyên Giáp (từ tháng 8-1945)
  26. Lê Đức Thọ (chính thức từ tháng 8-1945, trước đó từ 1944 là ủy viên dự khuyết)
  27. Nguyễn Lương Bằng (chính thức từ tháng 8-1945, trước đó là ủy viên dự khuyết)
  28. Tôn Đức Thắng, từ 1947
  29. Phạm Văn Xô
  30. Hoàng Đình Giong
  31. Đinh Văn Di
  32. Bùi San
  33. Hồ Xuân Lưu
  34. Nguyễn Văn Minh

Danh sách Ủy viên dự khuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Thường vụ Trung ương[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Thường vụ Trung ương do Đại hội I (1935) bầu ra có 5 người, đứng đầu là Lê Hồng Phong. Nhân sự Ban Thường vụ được điều chỉnh những năm sau đó (danh sách hiện chưa sưu tầm được đầy đủ). Năm 1936 Hà Huy Tập được cử giữ chức Tổng Bí thư. Năm 1937, Nguyễn Văn Cừ vào Ban Thường vụ. Tại hội nghị Trung ương năm 1938 Ban Thường vụ có Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Võ Văn Tần và Nguyễn Chí Diểu. Năm 1939 Lê Duẩn được cử vào Ban Thường vụ. Năm 1940, Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt lập ban lãnh đạo.

Ban Thường vụ Trung ương được bầu ra tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8, khóa I (họp từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941), gồm Trường Chinh, Hoàng Văn ThụHoàng Quốc Việt, đứng đầu là Tổng Bí thư Trường Chinh.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Ban Thường vụ Trung ương gồm Hồ Chí Minh, Trường Chinh,Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, sau bổ sung thêm Nguyễn Lương Bằng.

Tổng Bí thư[sửa | sửa mã nguồn]

Trên thực tế, những năm 1935-1938, Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập là những lãnh đạo cao nhất. Lê Hồng Phong là Ủy viên Ban chấp hành Quốc tế cộng sản, trong khi Hà Huy Tập là Bí thư Ban Chỉ huy Hải ngoại (có quyền hơn Ban chấp hành Trung ương thời điểm đó) trước khi là Tổng Bí thư đảng. Năm 1938 Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư và sau đó Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập bị Pháp bắt. Kể từ năm 1941 khi Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) về nước thì ông là lãnh tụ của đảng, chủ trì nhiều cuộc họp của TW và Ban Thường vụ. Trường Chinh trong vai trò Tổng Bí thư cũng chủ trì nhiều cuộc họp của TW cũng như Ban Thường vụ khi Hồ Chí Minh bận hoặc không có điều kiện dự.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa

I | II | III | IV | V | VI | VII | VIII | IX | X | XI | XII |