Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Lãnh tụHồ Chí Minh
Bí thư thứ nhấtNguyễn Anh Tuấn
Lãnh đạo bởiCommunist Party of Vietnam flag.svg Đảng Cộng sản Việt Nam
Thành lập26 tháng 3 năm 1931; 90 năm trước (1931-03-26)
Báo chíTiền phong
Thiếu niên Tiền phong và Nhi đồng
Tổ chức thanh niênHội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam
Hội Sinh viên Việt Nam
Thành viên  (2017)6,4 triệu
Ý thức hệChủ nghĩa Mác-Lênin
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thuộc quốc gia Việt Nam
Thuộc tổ chức quốc tếLiên đoàn Thanh niên Dân chủ thế giới
Màu sắc chính thức     Xanh dương
Trang webdoanthanhnien.vn
Trụ sở Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là một tổ chức chính trị – xã hội của thanh niên Việt Nam. Tổ chức này do Đảng Cộng sản Việt NamChủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện.[1]

Tổ chức này được coi là vườn ươm đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý tương lai cho Đảng Cộng sản Việt Nam, là "cánh tay nối dài" của nhà nước.[2] Đoàn Thanh niên được tổ chức và vận hành theo mô hình hành chính từ trung ương xuống đến các cấp xã, phường với đầy đủ chức danh thuộc biên chế ăn lương nhà nước.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàn cảnh ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 3 năm 1931, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 2, Trung ương Đảng đã dành một phần quan trọng để bàn về công tác thanh niên, đặt ra vấn đề "... tổ chức ra Thanh niên cộng sản đoàn là nhiệm vụ để thâu phục một bộ phận quan trọng của vô sản giai cấp, là một vấn đề cần thiết mà Đảng phải giải quyết", chủ trương thống nhất các tổ chức thanh niên thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương, nhằm thu hút thanh niên phấn đấu cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

Trên cơ sở Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 2, một số Ủy viên Trung ương Đảng đã được cử phụ trách các vấn đề liên quan tới thanh niên trong các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương. Cuối tháng 4 năm 1931, từ nước ngoài, ở Trung Kỳ, Xứ ủy Đoàn được thành lập trên cơ sở các Đoàn Ủy ban Cán sự Đoàn các cấp. Ở một số tỉnh đã hình thành cấp Tỉnh ủy Đoàn và Huyện ủy Đoàn, trên cơ sở các chi bộ thanh niên thuộc đảng bộ.

Từ năm 1931 đến năm 1935, Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương tiếp tục phát triển ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Nam Bộ. Tháng 3 năm 1935, tại Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất ở Ma Cao, Trung ương Đảng đã công nhận chính thức Chương trình hành động của Đoàn công bố từ 1933 và đề xuất việc triệu tập Đại hội Đoàn toàn quốc. Nhưng do tình hình thay đổi, đại hội sau đó đã không họp được.

Thời kỳ từ năm 1936 đến năm 1955[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1936, Mặt trận Dân chủ Đông Dương được thành lập, một tổ chức thanh niên hoạt động công khai trên cơ sở Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương, lấy tên là Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương. Ngày 5 tháng 5 năm 1938, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đoàn thanh niên Dân chủ Đông Dương đã họp công khai ở Hà Nội và bầu ra Ban chấp hành Trung ương Đoàn.

Năm 1939, khi chính quyền thực dân đàn áp phong trào dân chủ Đông Dương, Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương rút vào hoạt động bí mật. Năm 1940, Trung ương Đảng đã thành lập Đoàn Thanh niên phản đế Đông Dương để tổ chức quần chúng thanh niên đấu tranh chống đế quốc. Đoàn Thanh niên phản đế sau đó đã tham gia hai cuộc khởi nghĩa là Khởi nghĩa Bắc SơnKhởi nghĩa Nam Kỳ.

Trong suốt 20 năm, do điều kiện lịch sử, nhiều tổ chức thanh niên do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập đã cùng hoạt động song song. Ngày 28 tháng 9 năm 1948, Ban Thường vụ Trung ương có Chỉ thị gửi các cấp bộ Đảng "Về việc củng cố Thanh niên Cứu quốc, phát triển Đoàn thanh niên Việt Nam để thống nhất Mặt trận thanh niên". Tháng 6 năm 1949, Hội nghị Thanh vận của Đảng được tổ chức tại Việt Bắc, do ông Hoàng Quốc Việt chủ trì. Tại Hội nghị này, một quyết định thành lập Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cứu quốc Trung ương được đưa ra, Nguyễn Lam được chỉ định làm Trưởng tiểu Ban thanh vận Trung ương đồng thời là Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam.

Thời kỳ từ năm 1955 đến năm 1976[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi giành được quyền kiểm soát miền Bắc, trong phiên họp vào tháng 9 năm 1955, Bộ Chính trị đã chủ trương đổi tên Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam thành Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam và tên gọi này được chính thức thông qua tại Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam.

Tại Đại hội toàn quốc lần thứ 3 họp từ ngày 22 đến 25 tháng 3 năm 1961, các đại biểu đã quyết định lấy ngày 26 tháng 3 năm 1931 (ngày cuối của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 2, dành để bàn bạc và quyết định những vấn đề rất quan trọng đối với công tác thanh niên) làm ngày thành lập Đoàn hàng năm.

Tại miền Nam, một tổ chức bộ phận của Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam hoạt động với tên gọi Đoàn Thanh niên Cách mạng Miền Nam, là một tổ chức thành viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Tại miền Bắc, tháng 2 năm 1970, Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam được đổi tên thành Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh để kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa qua đời trước đó 5 tháng. Cùng thời gian này, Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng miền Nam cũng đổi tên thành Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Hồ Chí Minh.

Sau năm 1976[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Việt Nam thống nhất, tháng 12 năm 1976, Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Hồ Chí MinhĐoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh hợp nhất với tên gọi Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Tên gọi của Đoàn qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 26 tháng 3 năm 1931, để phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng, Đoàn đã đổi tên nhiều lần. Tên gọi của Đoàn qua các thời kỳ như sau:

  • Từ ngày 26 tháng 3 năm 1931 đến năm 1937, tên gọi của Đoàn là Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương.
  • Từ năm 1937 đến năm 1939, tên gọi của Đoàn là Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương.
  • Từ tháng 11 năm 1939 đến năm 1941, tên gọi của Đoàn là Đoàn Thanh niên Phản đế Đông Dương.
  • Từ tháng 5 năm 1941 đến năm 1956, tên gọi của Đoàn là Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam.
  • Từ ngày 25 tháng 10 năm 1956 đến năm 1970, tên gọi của Đoàn là Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam.
  • Từ tháng 2 năm 1970 đến tháng 11 năm 1976, tên gọi của Đoàn là Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh.
  • Từ tháng 12 năm 1976 đến nay, tên gọi của Đoàn là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo báo cáo của Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI (2017) thì Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hiện có khoảng 6,4 triệu Đoàn viên trên tổng số khoảng 23,6 triệu thanh niên Việt Nam (từ 16 - 30 tuổi)[3]. Theo BBC thì tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố lớn nhất Việt Nam, vào năm 2005 có khoảng 70% thanh niên đang đứng ngoài hàng ngũ Đoàn Thanh niên Cộng sản (khoảng 390.000 Đoàn viên trên tổng số 2,3 triệu người từ độ tuổi 16 đến 30).[4]

Cơ quan lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan lãnh đạo cao nhất là Đại hội Đại biểu toàn quốc, được triệu tập 5 năm một lần. Cơ quan lãnh đạo của Đoàn ở mỗi cấp là Đại hội Đại biểu hoặc Đại hội Đoàn viên ở cấp đó. Giữa hai kỳ Đại hội cơ quan lãnh đạo là Ban Chấp hành do Đại hội Đoàn cùng cấp bầu ra. Giữa 2 kỳ họp Ban Chấp hành, cơ quan lãnh đạo là Ban Thường vụ do Ban chấp hành cùng cấp bầu ra. Riêng ở cấp Trung ương, Ban Chấp hành còn bầu ra Ban Bí thư là cơ quan thường trực của Ban Thường vụ do Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn đứng đầu.

Sự lãnh đạo của Đảng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ra, để khằng định cho sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với công tác Đoàn cũng như tạo điều kiện để các đồng chí cán bộ Trung ương Đoàn là Đảng viên được sinh hoạt Đảng, trong hệ thống tổ chức của Đoàn đã thành lập Đảng bộ Trung ương Đoàn tương đương tổ chức Đảng bộ cấp huyện trực thuộc Đảng ủy khối cơ quan Trung ương, đồng chí Nguyễn Anh Tuấn hiện là Bí thư Đảng ủy Trung ương Đoàn.

Hệ thống tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Chi đoàn là tổ chức tế bào của Đoàn, là hạt nhân nòng cốt đoàn kết, tập hợp thanh thiếu nhi. Tính đến năm 2017, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có 267.495 chi đoàn (trong đó: khu vực nông thôn 97.584 chi đoàn; khu vực đô thị 26.475 chi đoàn; khu vực trường học 99.426 chi đoàn; khu vực doanh nghiệp 17.429 chi đoàn; khu vực hành chính sự nghiệp 17.183 chi đoàn; khu vực lực lượng vũ trang 9.382 chi đoàn)[5]

Hệ thống tổ chức của Đoàn được tổ chức từ Trung ương xuống cơ sở gồm có 4 cấp. Tính đến năm 2017, số lượng tổ chức ở mỗi cấp như sau:

  • Cấp cơ sở gồm Đoàn cơ sở và Chi đoàn cơ sở (Có hơn 44.454 tổ chức cơ sở Đoàn với 21.720 đơn vị Đoàn cơ sở và 22.734 đơn vị Chi Đoàn cơ sở)
  • Cấp Huyện và tương đương (có 1.377 đơn vị Đoàn cấp huyện và tương đương, gồm 705 quận, huyện, thị, thành đoàn và 672 đoàn tương đương cấp huyện)
  • Cấp Tỉnh và tương đương (có 67 đơn vị Đoàn cấp tỉnh và tương đương, gồm 63 tỉnh, tỉnh thành Đoàn và 4 Đoàn trực thuộc[6])
  • Cấp Trung ương

Các cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương Đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Các cơ quan chuyên trách Trung ương Đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Có 3 Văn phòng và 10 Ban chuyên trách

  • Văn phòng Trung ương Đoàn, Chánh Văn phòng: Nguyễn Bình Minh
  • Văn phòng Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam, Chánh Văn phòng kiêm Tổng thư ký: Nguyễn Thị Ngà
  • Văn phòng Đảng – Đoàn thể cơ quan Trung ương Đoàn, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy: Nguyễn Thanh Tùng
  • Ban Tổ chức Trung ương Đoàn, Trưởng Ban: Nguyễn Ngọc Lương (kiêm nhiệm)
  • Ban Kiểm tra Trung ương Đoàn (Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đoàn), Trưởng Ban: Bùi Minh Tuấn
  • Ban Tuyên giáo Trung ương Đoàn, Trưởng Ban: Nguyễn Thái An
  • Ban Thanh niên Nông thôn Trung ương Đoàn, Trưởng Ban: Nguyễn Thị Thu Vân
  • Ban Thanh niên Công nhân và Đô thị Trung ương Đoàn, Trưởng Ban: Trần Hữu
  • Ban Thanh niên Trường học Trung ương Đoàn (Thường trực Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam), Trưởng Ban: Nguyễn Minh Triết (kiêm nhiệm)
  • Ban Công tác Thiếu nhi Trung ương Đoàn (Thường trực Hội đồng Trung ương Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh), Trưởng Ban: Nguyễn Phạm Duy Trang (kiêm nhiệm)
  • Ban Đoàn kết Tập hợp Thanh niên Trung ương Đoàn (Thường trực Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam), Trưởng Ban: Nguyễn Hải Minh
  • Ban Thanh niên Xung phong Trung ương Đoàn (Thường trực Ban Chỉ huy Lực lượng Thanh niên Xung phong Trung ương), Trưởng Ban: Nguyễn Hồng Hải
  • Ban Quốc tế Trung ương Đoàn, Phó Trưởng Ban phụ trách: Trịnh Thị Mai Phương

Các tổ chức Đoàn ở địa phương, đơn vị[sửa | sửa mã nguồn]

Có 63 tỉnh, thành Đoàn và 5 Đoàn trực thuộc Trung ương

  • Thành Đoàn Hà Nội, Bí thư: Chu Hồng Minh
  • Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, Bí thư: Phan Thị Thanh Phương
  • Thành Đoàn Cần Thơ, Bí thư: Đào Chí Nghĩa
  • Thành Đoàn Hải Phòng, Bí thư: Đào Phú Thùy Dương
  • Thành Đoàn Đà Nẵng, Bí thư: Nguyễn Mạnh Dũng
  • Tỉnh Đoàn An Giang, Bí thư: Lâm Thành Sĩ
  • Tỉnh Đoàn Bà Rịa - Vũng Tàu, Bí thư: Hồ Thị Ánh Tuyết
  • Tỉnh Đoàn Bạc Liêu, Bí thư: Ngô Vũ Thăng
  • Tỉnh Đoàn Bắc Giang, Bí thư: Thân Trung Kiên
  • Tỉnh Đoàn Bắc Kạn, Bí thư: Nông Bình Cương
  • Tỉnh Đoàn Bắc Ninh, Bí thư: Nguyễn Đức Sâm
  • Tỉnh Đoàn Bến Tre, Bí thư: Hà Quốc Cường
  • Tỉnh Đoàn Bình Dương, Bí thư: Nguyễn Thị Ngọc Xuân
  • Tỉnh Đoàn Bình Định, Bí thư: Hà Duy Trung
  • Tỉnh Đoàn Bình Phước, Bí thư: Trần Quốc Duy
  • Tỉnh Đoàn Bình Thuận, Bí thư: Lê Thị Bích Liên
  • Tỉnh Đoàn Cao Bằng, Bí thư: Hoàng Hồng Diệu
  • Tỉnh Đoàn Cà Mau, Bí thư: Nguyễn Hoàng Đạo
  • Tỉnh Đoàn Điện Biên, Bí thư: Đặng Thành Huy
  • Tỉnh Đoàn Đắk Lắk, Bí thư: H' Giang Niê
  • Tỉnh Đoàn Đắk Nông, Bí thư: H Vi Ê Ban
  • Tỉnh Đoàn Đồng Nai, Bí thư: Hồ Hồng Nguyên
  • Tỉnh Đoàn Đồng Tháp, Bí thư: Huỳnh Minh Thức
  • Tỉnh Đoàn Gia Lai, Bí thư: Nguyễn Hoàng Phong
  • Tỉnh Đoàn Hòa Bình, Bí thư: Hoàng Xuân Giao
  • Tỉnh Đoàn Hà Giang, Bí thư: Đỗ Thị Hương
  • Tỉnh Đoàn Hà Nam, Bí thư: Trần Ngọc Nam
  • Tỉnh Đoàn Hà Tĩnh, Bí thư: Lê Thành Đông
  • Tỉnh Đoàn Hưng Yên, Bí thư: Bùi Huy Cường
  • Tỉnh Đoàn Hải Dương, Bí thư: Sái Thị Yến
  • Tỉnh Đoàn Hậu Giang, Bí thư: Phạm Thị Thùy Dung
  • Tỉnh Đoàn Khánh Hòa, Bí thư: Bùi Hoài Nam
  • Tỉnh Đoàn Kiên Giang, Bí thư: Lê Trung Hồ
  • Tỉnh Đoàn Kon Tum, Bí thư: Xiêng Thanh Phúc
  • Tỉnh Đoàn Lai Châu, Bí thư: Nguyễn Tiến Thịnh
  • Tỉnh Đoàn Long An, Bí thư: Võ Trần Tuấn Thanh
  • Tỉnh Đoàn Lào Cai, Bí thư: Hà Đức Minh
  • Tỉnh Đoàn Lâm Đồng, Bí thư: Trần Thị Chúc Quỳnh
  • Tỉnh Đoàn Lạng Sơn, Bí thư: Nguyễn Tuấn Nam
  • Tỉnh Đoàn Nam Định, Bí thư: Triệu Văn Thái
  • Tỉnh Đoàn Nghệ An, Bí thư: Lê Văn Lương
  • Tỉnh Đoàn Ninh Bình, Bí thư: Đinh Thị Phượng
  • Tỉnh Đoàn Ninh Thuận, Bí thư: Nguyễn Hữu Tuấn
  • Tỉnh Đoàn Phú Thọ, Bí thư: Nguyễn Thanh Tâm
  • Tỉnh Đoàn Phú Yên, Bí thư: Phan Xuân Hạnh
  • Tỉnh Đoàn Quảng Bình, Bí thư: Trần Quốc Tuấn
  • Tỉnh Đoàn Quảng Nam, Bí thư: Phạm Thị Thanh
  • Tỉnh Đoàn Quảng Ngãi, Bí thư: Đặng Minh Thảo
  • Tỉnh Đoàn Quảng Ninh, Bí thư: Hoàng Văn Hải
  • Tỉnh Đoàn Quảng Trị, Bí thư: Nguyễn Khánh Vũ
  • Tỉnh Đoàn Sóc Trăng, Bí thư: Võ Kim Chuyền
  • Tỉnh Đoàn Sơn La, Bí thư: Cầm Thị Huyền Trang
  • Tỉnh Đoàn Thanh Hóa, Bí thư: Lê Văn Trung
  • Tỉnh Đoàn Thái Bình, Bí thư: Nguyễn Minh Hồng
  • Tỉnh Đoàn Thái Nguyên, Bí thư: Ngô Thế Hoàn
  • Tỉnh Đoàn Thừa Thiên - Huế, Bí thư: Trần Gia Công
  • Tỉnh Đoàn Tiền Giang, Bí thư: Nguyễn Thị Uyên Trang
  • Tỉnh Đoàn Trà Vinh, Bí thư: Huỳnh Thị Hằng Nga
  • Tỉnh Đoàn Tuyên Quang, Bí thư: Nguyễn Thị Thanh Huyền
  • Tỉnh Đoàn Tây Ninh, Bí thư: Trần Lê Duy
  • Tỉnh Đoàn Vĩnh Long, Bí thư: Nguyễn Huỳnh Thu
  • Tỉnh Đoàn Vĩnh Phúc, Bí thư: Đỗ Thị Thanh Hương
  • Tỉnh Đoàn Yên Bái, Bí thư: Đoàn Thị Thanh Tâm
  • Đoàn khối các cơ quan Trung ương, Bí thư: Trần Hữu
  • Đoàn khối các doanh nghiệp Trung ương, Bí thư: Hoàng Thị Minh Thu
  • Đoàn Thanh niên Bộ Công an, Bí thư: Đồng Đức Vũ
  • Ban Thanh niên Quân Đội, Trưởng Ban: Trần Viết Năng

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung ương Đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Có 10 trung tâm, 1 Học viện, 1 Viện nghiên cứu, 1 Bảo tàng, 1 Ban Phát thanh, 3 cơ quan Báo chí, 2 Nhà xuất bản, 2 công ty trực thuộc

  • Trung tâm Hợp tác Phát triển quốc tế Thanh niên, Giám đốc: Bùi Diễm Hường
  • Trung tâm Truyền hình Thanh niên, Giám đốc: Lê Duy Hưng Thịnh
  • Trung tâm Dịch vụ việc làm thanh niên Trung ương Đoàn, Giám đốc: Đặng Đình Thanh
  • Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp Thanh niên, Giám đốc: Lương Thanh Phong
  • Trung tâm Trung tâm Hỗ trợ thanh thiếu nhi Việt Nam, Giám đốc: Nguyễn Quốc Văn
  • Trung tâm Hướng dẫn hoạt động thanh thiếu nhi Trung ương, Giám đốc: Nguyễn Đình Kiểm
  • Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và tài năng trẻ, Giám đốc: Nguyễn Thiên Tú
  • Trung tâm Thanh thiếu niên miền Nam, Giám đốc: Nguyễn Minh Khánh
  • Trung tâm Thanh thiếu niên miền Trung, Giám đốc: Lê Văn Ri
  • Trung tâm Thanh thiếu niên Trung ương, Giám đốc: Nguyễn Thanh Hảo
  • Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam, Giám đốc: Nguyễn Hải Đăng
  • Viện Nghiên cứu thanh niên, Viện trưởng: Đỗ Ngọc Hà
  • Bảo tàng Tuổi trẻ Việt Nam, Giám đốc: Nguyễn Việt Hà
  • Ban Phát thanh Thanh thiếu nhi, Trưởng Ban: An Ngọc Quang
  • Báo Tiền phong, Tổng Biên tập: Lê Xuân Sơn
  • Báo Thanh niên, Tổng Biên tập: Nguyễn Quang Thông
  • Báo Thiếu niên Tiền phong và Nhi đồng, Tổng Biên tập: Nguyễn Phan Khuê
  • Nhà xuất bản Thanh niên, Giám đốc: Lê Thanh Hà
  • Nhà xuất bản Kim Đồng, Giám đốc: Phạm Quang Vinh
  • Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một Thành viên Sản xuất và Xuất nhập khẩu Thanh niên Việt Nam, Phó Giám đốc: Trương Hoàng Anh
  • Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một Thành viên Tổng đội Thanh niên Xung phong Trường Sơn, Giám đốc: Nguyễn Kim Sơn

Ban Bí thư Trung ương Đoàn khóa XI[sửa | sửa mã nguồn]

Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Anh Tuấn (sinh năm 1979), Uỷ viên Trung ương Đảng khoá XIII, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, Bí thư Đảng ủy Trung ương Đoàn, Thủ trưởng Cơ quan Trung ương Đoàn, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam.

Bí thư Trung ương Đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệm vụ và quyền hạn của Đoàn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Theo điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tại điều 2 và điều 3 có quy định nhiệm vụ và quyền hạn của đoàn như sau:

  • Nhiệm vụ của đoàn viên:[7]
    1. Luôn luôn phấn đấu vì lý tưởng của Đảng và Bác Hồ. Tích cực học tập, lao động rèn luyện, tham gia các hoạt động xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
    2. Gương mẫu chấp hành và vận động thanh, thiếu niên thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và chính quyền. Chấp hành Điều lệ Đoàn và các nghị quyết của Đoàn; tích cực tuyên truyền về tổ chức Đoàn trong thanh niên; sinh hoạt đoàn và đóng đoàn phí đúng quy định.
    3. Liên hệ mật thiết với thanh niên, tích cực xây dựng Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh; giúp đỡ thanh niên và đội viên trở thành đoàn viên.
  • Quyền của đoàn viên:
    1. Yêu cầu tổ chức Đoàn đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, được giúp đỡ và tạo điều kiện để phấn đấu trưởng thành.
    2. Ứng cử, đề cử và bầu cử vào cơ quan lãnh đạo các cấp của Đoàn
    3. Được thông tin, thảo luận, chất vấn, phê bình, biểu quyết, đề nghị và bảo lưu ý kiến của mình về công việc của Đoàn.

Các kỳ đại hội toàn quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội lần thứ Thời gian Địa điểm Số đại biểu Số Uỷ viên Ban chấp hành được bầu Nội dung
I 7 tháng 2 - 14 tháng 2 năm 1950 Xã Cao Vân, huyện Đại Từ, Thái Nguyên 400 5
  • Điểm nhấn: Đại hội Đoàn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
  • Chủ đề Đại hội: "Chiến đấu và xây dựng tương lai"
  • Bí thư thứ nhất được bầu: Nguyễn Lam
II 25 tháng 10 - 4 tháng 11 năm 1956 Hà Nội 479 30
  • Điểm nhấn: Đại hội Đoàn của thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Đoàn được chính thức đổi sang tên mới là Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam
  • Bí thư thứ nhất được bầu: Nguyễn Lam
III 23 tháng 3 - 25 tháng 3 năm 1961 Hà Nội 677 71
  • Điểm nhấn: Đại hội Đoàn của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam
  • Bí thư thứ nhất được bầu: Nguyễn Lam. Sau khi Nguyễn Lam chuyển công tác (1962), Vũ Quang được bầu. Sau khi Vũ Quang chuyển công tác (1978), Đặng Quốc Bảo được bầu
IV 20 tháng 11 - 22 tháng 11 năm 1980 Hà Nội 623 113
  • Điểm nhấn: Đại hội Đoàn của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước
  • Bí thư thứ nhất được bầu: Đặng Quốc Bảo. Sau khi Đặng Quốc Bảo chuyển công tác (1982), Vũ Mão được bầu
V 27 tháng 11 - 30 tháng 11 năm 1987 Hà Nội 750 150
  • Điểm nhấn: Đại hội Đoàn đầu tiên của thời kỳ đổi mới
  • Bí thư thứ nhất được bầu: Hà Quang Dự
VI 15 tháng 10 - 18 tháng 10 năm 1992 Hà Nội 797 91
  • Điểm nhấn: Tổ chức hai phong trào hành động cách mạng "Thanh niên lập nghiệp" và "Tuổi trẻ giữ nước"
  • Khẩu hiệu hành động: "Đoàn kết, sáng tạo vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh, vì hạnh phúc của tuổi trẻ và nhân dân"
  • Bí thư thứ nhất được bầu: Hồ Đức Việt. Sau khi Hồ Đức Việt chuyển công tác (1996), Vũ Trọng Kim được bầu
VII 26 tháng 11 - 29 tháng 11 năm 1997 Hà Nội 899 125
  • Điểm nhấn: Tiếp tục phát triển và nâng hai phong trào "Thanh niên lập nghiệp" và "Tuổi trẻ giữ nước" lên một tầm cao mới
  • Khẩu hiệu hành động: Thanh niên Việt Nam xung kích, sáng tạo vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; vì tương lai tươi sáng của tuổi trẻ
  • Bí thư thứ nhất được bầu: Vũ Trọng Kim. Sau khi Vũ Trọng Kim chuyển công tác, Hoàng Bình Quân được bầu.
VIII 8 tháng 12 - 11 tháng 12 năm 2002 Hà Nội 898 134
  • Điểm nhấn: Đại hội Đoàn đầu tiên của thế kỷ XXI,
  • Khẩu hiệu hành động: “Tuổi trẻ Việt Nam thi đua học tập, rèn luyện, lao động sáng tạo, xung kích, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
  • Bí thư thứ nhất được bầu: Hoàng Bình Quân. Sau khi Hoàng Bình Quân chuyển công tác, Đào Ngọc Dung được bầu. Sau khi Đào Ngọc Dung chuyển công tác, Võ Văn Thưởng được bầu.
IX 17 tháng 12 - 21 tháng 12 năm 2007 Hà Nội 1033 145
  • Điểm nhấn: Lần đầu tiên xác định đồng hành, chăm lo, bồi dưỡng thanh niên là một trong những nội dung quan trọng của công tác Đoàn; Triển khai phong trào "5 xung kích" và "4 đồng hành"
  • Chủ đề Đại hội: "Nâng cao chất lư­ợng tổ chức Đoàn; tăng c­ường bồi dư­ỡng lý t­ưởng cách mạng; đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp; xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ tổ quốc"
  • Khẩu hiệu hành động: Tuổi trẻ Việt Nam xây hoài bão lớn, đoàn kết, xung kích, sáng tạo, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
  • Bí thư thứ nhất được bầu: Võ Văn Thưởng. Sau khi Võ Văn Thưởng chuyển công tác (2011), Nguyễn Đắc Vinh được bầu.
X 11 tháng 12 - 14 tháng 12 năm 2012 Hà Nội 997 151
  • Điểm nhấn: Sửa đổi và phát triển 02 phong trào "5 xung kích" và "4 đồng hành"
  • Chủ đề Đại hội: "Xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh; tăng cường bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, giáo dục đạo đức lối sống; cổ vũ thanh niên thi đua học tập, rèn luyện, lao động sáng tạo, xung kích tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"
  • Khẩu hiệu hành động: Tuổi trẻ Việt Nam xây hoài bão lớn, rèn đức, luyện tài, đoàn kết, sáng tạo, xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
  • Bí thư thứ nhất được bầu: Nguyễn Đắc Vinh. Sau khi Nguyễn Đắc Vinh chuyển công tác (4/2016), Lê Quốc Phong được bầu.
XI 10 tháng 12 - 13 tháng 12 năm 2017 Hà Nội 999 151
  • Điểm nhấn: Lần đầu triển khai 3 phong trào hành động cách mạng và 3 chương trình đồng hành với thanh niên
  • Chủ đề Đại hội: "Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng; xây dựng Đoàn vững mạnh; Đoàn kết, phát huy thanh niên xung kích, tình nguyện, sáng tạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa"
  • Khẩu hiệu hành động: "Tuổi trẻ Việt Nam tiên phong, bản lĩnh, đoàn kết, sáng tạo, phát triển"
  • Bí thư thứ nhất được bầu: Lê Quốc Phong. Sau khi Lê Quốc Phong chuyển công tác (10/2020), Nguyễn Anh Tuấn được bầu

Các phong trào hành động của Đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1950: Phong trào "Tòng quân giết giặc lập công"
  • Năm 1956: Phong trào "Lao động kiến thiết Tổ quốc"
  • Năm 1960: Phong trào "Thi đua trở thành người lao động tiên tiến"
  • Năm 1961: Phong trào "Những người tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất"
  • Năm 1964: Phong trào "Ba sẵn sàng" ở miền Bắc:
  1. Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu dũng cảm và sẵn sàng gia nhập các lực lượng vũ trang nhân dân.
  2. Sẵn sàng khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, học tập trong bất kỳ tình huống nào.
  3. Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần đến.
  • Năm 1965: Phong trào "Năm xung phong" ở miền Nam:
  1. Xung phong tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch.
  2. Xung phong tòng quân giết giặc.
  3. Xung phong trong các cuộc đấu tranh chính trị ở nông thôn cũng như đô thị.
  4. Xung phong phục vụ tiền tuyến, vào các đội thanh niên xung phong công tác phục vụ chiến trường.
  5. Xung phong sản xuất nông nghiệp trong nông thôn.
  • Năm 1976: Thực hiện cuộc vận động "Ba mũi tên tiến công tiêu cực" và "Toàn Đoàn tham gia xây dựng Đảng"
  • Năm 1982–1983: "3 chương trình hành động cách mạng của tuổi trẻ" (lương thực, tiết kiệm, việc làm)"
  • Năm 1983: Cuộc "Hành quân theo bước chân những người anh hùng"
  • Năm 1984: Nghị quyết 7 (khoá IV) bổ sung và đề ra 5 chương trình hành động Cách mạng của tuổi trẻ.
  • Năm 1985: Cuộc "Vận động xây dựng nếp sống xã hội chủ nghĩa" trong thanh niên
  • Năm 1987: Với các phong trào: "Tuổi trẻ xung kích sáng tạo, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên mặt trận kinh tế chính sách xã hội, an ninh" và "Học tập tiến quân vào khoa học kỹ thuật"
  • Năm 1992: Triển khai "Cuộc vận động xây dựng chi đoàn mạnh" và 4 phong trào: "3 mục tiêu dân số và kế hoạch hoá gia đình"; "Phấn đấu xây dựng bộ đội cụ Hồ"; "Sản xuất kinh doanh giỏi"; "Thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy"
  • Năm 1997: Phong trào lớn: "Thanh niên lập nghiệp" và "Tuổi trẻ giữ nước"
  • Năm 2002: Phát triển phong trào: "Tuổi trẻ thi đua tình nguyện, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"
  • Năm 2007: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tập trung triển khai hai phong trào lớn là: "5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc" và "4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp"

- 5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc:

  1. Xung kích lao động sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội.
  2. Xung kích, tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng.
  3. Xung kích bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
  4. Xung kích thực hiện cải cách hành chính.
  5. Xung kích trong hội nhập kinh tế quốc tế.

- 4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp:

  1. Đồng hành với thanh niên trong học tập, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ.
  2. Đồng hành với thanh niên trong nghề nghiệp và việc làm.
  3. Đồng hành với thanh niên trong nâng cao sức khỏe thể chất và đời sống văn hoá tinh thần.
  4. Đồng hành với thanh niên trong phát triển kỹ năng xã hội.
  • Năm 2012: Triển khai 2 phong trào: "Xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc" và "Đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp" trên cơ sở những bài học kinh nghiệm của hai phong trào "5 xung kích, 4 đồng hành"
  • Năm 2017: Triển khai "3 phong trào hành động cách mạng phát huy vai trò xung kích, tình nguyện, sáng tạo của thanh niên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" và "3 chương trình đồng hành với thanh niên"[8]

- 3 phong trào phong trào hành động cách mạng phát huy vai trò xung kích, tình nguyện, sáng tạo của thanh niên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:

  1. Thanh niên tình nguyện.
  2. Tuổi trẻ sáng tạo.
  3. Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc.

- 3 chương trình đồng hành với thanh niên:

  1. Đồng hành với thanh niên trong học tập.
  2. Đồng hành với thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp.
  3. Đồng hành với thanh niên rèn luyện và phát triển kỹ năng trong cuộc sống, nâng cao thể chất, đời sống văn hóa tinh thần.

Chính khách xuất thân từ lãnh đạo Đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Từ vị trí Bí thư thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Lam (1922 - 1990): Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa I, II, III và giữ chức vụ này liên tục 12 năm. Sau khi thôi chức Bí thư thứ nhất TW Đoàn thanh niên cộng sản, ông tham gia nhiều công tác trong bộ máy Chính phủ và Đảng: Bí thư Thành ủy Hà nội, Bộ trưởng - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (1969 - 1973), Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (1973 - 1974), (1981 - 1982), Trưởng ban Công nghiệp TW, Phó Thủ tướng (1980 - 1982), Bí thư Trung ương Đảng khóa IV, khóa V, Trưởng ban Kinh tế Trung ương.
  • Vũ Quang (1926 - 2006): Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa III và giữ chức vụ này liên tục 16 năm. Sau khi thôi chức bí thư thứ nhất TW Đoàn thanh niên cộng sản, ông tham gia nhiều công tác ở các Ban của Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng, Ủy viên Hội đồng nhà nước; Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội; Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phó trưởng ban Công nghiệp Trung ương Đảng; Phó trưởng ban Kinh tế Trung ương Đảng; Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ.
  • Đặng Quốc Bảo (1927 - nay): Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa III, IV. Sau rời cương vị Bí thư thứ nhất, chuyển công tác, làm Phó Giáo sư, Thiếu tướng, Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự, Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Ủy viên Trung ương Đảng khóa IV, Trưởng ban Khoa giáo Trung ương cho đến khi nghỉ hưu.
  • Vũ Mão (1939 - 2020): Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa IV. Sau khi thôi chức Bí thư thứ nhất, ông tham gia nhiều công tác ở các Ban của Trung ương Đảng, sau đó là ở các Ủy ban của Quốc hội như Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội. Chức vụ cao cấp cuối cùng mà ông đảm nhận là Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.
  • Hà Quang Dự (1945 - nay): Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa V. Người dân tộc Tày. Sau khi rời công tác Đoàn và nhậm một số chức vụ khác, ông làm Bộ trưởng phụ trách công tác thanh niên và thể dục thể thao của Chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục Thể thao rồi nghỉ hưu.
  • Hồ Đức Việt (1947 - 2013): Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa VI. Từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 10. Ở Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam IX, ông là Ủy viên Trung ương, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường của Quốc hội. Trước đó, sau khi rời cương vị Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, ông Việt được điều động làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, Phó ban thường trực Ban Tổ chức TW một thời gian ngắn, rồi sau đó là Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên trước khi quay trở lại Hà Nội nhận nhiệm vụ tại Quốc hội.
  • Vũ Trọng Kim (1953 - nay): Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa VI, VII. Sau khi rời ghế Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, ông được điều động về tỉnh Quảng Trị làm Bí thư Tỉnh ủy. Còn cách Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam X một thời gian ngắn, ông về Hà Nội nhậm chức Phó Trưởng ban Thường trực Ban Dân vận TW, kiêm nhiệm Bí thư Đảng uỷ khối cơ quan Dân vận Trung ương, sau đó là Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hiện nay ông đang là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Trung ương Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Tư pháp của Quốc hội.
  • Hoàng Bình Quân (1959 - nay): Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa VII, VIII. Sau khi rời cương vị Bí thứ thứ nhất Trung ương Đoàn, ông đảm nhiệm các chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Tuyên Quang, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện đã nghỉ hưu.
  • Đào Ngọc Dung (1962 - nay): Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa VIII. Sau khi vi phạm quy chế thi nghiên cứu sinh tại hội đồng thi Học viện Hành chính Quốc gia (vào tháng 5 năm 2006, chỉ sau khi bầu là Ủy viên Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam 1 tháng) đã được điều về làm Bí thư Ban cán sự Đảng ngoài nước. Tháng 7 năm 2007, khi sắp xếp lại hệ thống tổ chức Đảng ở các cơ quan Trung ương, ông được điều về làm Phó Ban phụ trách vấn đề Tây Bắc và sau đó là Bí thư tỉnh ủy Yên Bái, trúng cử Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Hiện là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
  • Võ Văn Thưởng (1970 - nay): Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa VIII, IX, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, nguyên Phó Bí thư thường trực Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, nguyên Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương. Hiện là Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng
  • Nguyễn Đắc Vinh (1972 - nay): Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa IX, X, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, nguyên Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, hiện là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Quốc hội[9]
  • Lê Quốc Phong (1978 - nay): Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa X, XI; hiện là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp.

Các Bí thư trung ương khác[sửa | sửa mã nguồn]

Họ tên Năm sinh - Năm mất Khóa Các chức vụ từng nắm giữ Ghi chú
Hồ Trúc ?-? 1, 2, 3 Bí thư Quận ủy quận V Hà Nội năm 1947, nguyên Tổng thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Phó trưởng ban Khoa giáo TW, Hội trưởng Hội Cờ Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam
Lê Xuân Đồng 2, 3 Ủy viên Ban thường vụ TW Đoàn khóa II, nguyên Phó trưởng ban Tuyên huấn TW, Phó trưởng ban Thường trực Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương
Hoàng Minh Chính 1920-2008 2 Tổng Đoàn trưởng Đoàn Thanh niên Việt Nam, Tổng Thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Tổng thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam, Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin
Lê Bình 3
Lê Đức Chỉnh 1918-2011 3 Bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên, Phó bí thư tỉnh ủy Hà Tĩnh, Khu ủy viên Khu tự trị Tây Bắc, Tổng cục trưởng Tổng cục thể dục thể thao, Chủ tịch Ủy ban Olympic Việt Nam tên thật Hoàng Ngọc Chương
Lưu Minh Châu 3 Nguyên Bí thư Thành Đoàn Hà Nội
Nguyễn Văn Đệ 1927- 3 Phó Bí thư thành đoàn Hà Nội, Trưởng ban chỉ đạo Thanh niên xung phong trung ương (chống Mỹ cứu nước), Bí thư đoàn Thanh niên giao thông trung ương, đại biểu quốc hội Việt Nam khóa IV giữ chức vụ Phó chủ nhiệm Ủy ban ngân sách quốc hội, Trưởng đoàn chuyên gia thanh niên Việt Nam tại Campuchia, Vụ trưởng, Kiểm sát viên cao cấp của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bí thư Ban Chấp hành Đảng bộ khối các cơ quan công nghiệp trung ương.
Nguyễn Tiên Phong 3, 4 Phó Ban dân vận Trung ương Đảng còn gọi là Lê Đỗ An
Tạ Quang Chiến 1925- 3 Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục Thể thao, Chủ tịch Ủy ban Olympic Việt Nam, Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Y tế Xã hội của Quốc hội khóa VII
Phan Minh Tánh 1929- 3 Bí thư Đoàn Thanh niên Cách mạng miền nam, Ủy viên Ủy ban quân quản TP HCM, Thành ủy viên Giám đốc Sở Nông nghiệp TP HCM, Ủy viên Thường vụ Thành ủy TP HCM, Phó chủ tịch UBND TP HCM, Phó bí thư thành ủy TP HCM, Ủy viên TƯ Đảng khóa VII, Trưởng ban dân vận TW, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội
Nguyễn Thị Ngọc Khanh 3
Trần Lê Dũng 3 còn gọi là Trần Mậu Minh
Nguyễn Đức Toàn 3
Lương Văn Nghĩa 3 Anh hùng Lao động, Ủy viên dự khuyết TW Đảng khóa IV, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp
Nguyễn Thị Hằng 1944- 3, 4 Ủy viên Ủy ban đối ngoại của Quốc hội, Thứ trưởng và Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh xã hội, Ủy viên TW Đảng, hiện là Chủ tịch Hội Dạy nghề Việt Nam
Lê Thanh Đạo 1944- 3, 4 Chủ tịch Hội đồng Đội TW khóa 1. Trung tá Không quân, Anh hùng lực lượng vũ trang năm 29 tuổi, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa V, Ủy viên Hội đồng Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, Ủy viên TW Đảng khóa VII, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Phó Ban dân vận TW.
Phạm Công Khanh 1937- 3, 4 Ủy viên Ủy ban Dự thảo Hiến pháp, Uỷ viên Ủy ban Dự án pháp luật của Quốc hội, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và giáo dục của Quốc hội
Lê Quang Vịnh 1936- 4 Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Bí thư quận ủy Côn Đảo, nguyên Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ
Phan Văn Chương 4 Phó ban đối ngoại TW, Chủ tịch Uỷ ban Việt Nam Đoàn kết và hợp tác Á - Phi - Mỹ La Tinh
Hồ Anh Dũng 1941- 4 Ủy viên Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu thanh niên, nguyên Ủy viên TW Đảng, Tổng Giám đốc Đài truyền hình Việt Nam, Uỷ viên Đảng đoàn Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, hiện là Phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nga, Chủ tịch Ủy ban Việt Nam đoàn kết với nhân dân Palextin
Vũ Quốc Hùng 1940- 4 Chủ tịch Hội Sinh viên, Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Ủy viên TW Đảng khóa VII, khóa VIII, khóa IX, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra TW
Trần Phương Thạc 1939-2000 4 Bí thư tỉnh đoàn Quảng Trị, Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời Thị xã Đông Hà năm 1973, nguyên Phó trưởng Ban cán sự Đảng ngoài nước
Lương Công Đoan 1945- 4 Thư ký Liên hiệp Công đoàn tỉnh Phú Yên, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên
Lưu Minh Trị 4 Bí thư Thành đoàn Hà Nội, Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hà Nội, Phó chủ tịch UBND TP Hà Nội hiện là Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội
Phạm Chánh Trực 4 Bí thư Thành đoàn TP HCM, Phó chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh, Phó Bí thư thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Phó ban Kinh tế TW, Trưởng ban quản lý Khu công nghệ cao TP HCM, hiện là Chủ tịch HĐQT Công ty CP Chíp Sáng
Phan Thế Hùng 1942 4 Ủy viên TW Đảng, Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc, Phó ban Nội chính TW
Nguyễn Minh Triết 1942 4 Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng an ninh Quốc gia
Huỳnh Đảm 1948 4 Phó bí thư tỉnh Đoàn Cà Mau, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Chủ tịch HĐND Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hiện là Ủy viên TW Đảng, Chủ tịch Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Nguyễn Thước 5 Nguyên là Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân. Hiện đã nghỉ hưu.
Vũ Xuân Hồng 1950 5 Nguyên là Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam; Tổng thư ký Hội Việt - Mỹ; Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam. Hiện đã nghỉ hưu
Phạm Phương Thảo 1952- 5, 6 Chủ tịch Hội đồng Đội Trung ương khóa III. Nguyên là Phó Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa, Phó Chủ tịch UBND Thành phố, Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Thành ủy, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện đã nghỉ hưu
Trịnh Tố Tâm 1945-1997 5 Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nguyên là Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Hiện đã mất.
Nguyễn Duy Hùng 5 Nguyên là Chánh Văn phòng Ban Tổ chức Trung ương; Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật. Hiện đã nghỉ hưu
Phùng Ngọc Hùng 1950- 5 Chủ tịch Hội đồng Đội Trung ương khóa II. Nguyên là Phó chủ nhiệm Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em; Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Hiện đã nghỉ hưu.
Trần Hoàng Thám 1953- 5 Nguyên là Ủy viên Ban Thường vụ Thành uỷ, Trưởng ban An ninh - Nội chính Thành ủy, Trưởng Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Thành phố, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh; Phó Chủ tịch chuyên trách Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hiện đã nghỉ hưu
Thái Hiền Lương 1956- 5 Nguyên là Cục trưởng Cục Hành chính - Quản trị 2, Văn phòng Chính phủ. Hiện đã nghỉ hưu
Trương Thị Mai 1958- 6, 7 Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn khóa VII. Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam khóa III, IV. Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, XIII. Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII, XIII. Nguyên là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Quốc hội; Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, Trưởng Ban Dân vận Trung ương. Hiện là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương
Ngô Văn Triển 1961- 6 Nguyên là Phó Bí thư Thường trực Quận ủy Quận 10, Phó Trưởng ban thường trực Ban Dân vận Thành ủy, Trưởng Ban Dân tộc UBND Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện đã nghỉ hưu
Trần Lưu Hải 1953- 6 Ủy viên Trung ương Đảng khóa X, XI, Nguyên là Bí thư Tỉnh ủy Hòa Bình; Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương. Hiện đã nghỉ hưu.
Vũ Văn Tám 1958- 7 Nguyên là Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình; Thứ trưởng Bộ Thủy sản. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Hiện đã nghỉ hưu
Bùi Đặng Dũng 1961- 8 Chủ tịch Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam khóa VII. Nguyên là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội. Hiện đã nghỉ hưu
Lê Mạnh Hùng 1961- 8 Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn khóa VIII. Nguyên là Phó Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái; Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương; Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương. Hiện đã nghỉ hưu
Đoàn Văn Thái 1962- 8 Nguyên là Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Trung ương Hội Chữ Thập đỏ Việt Nam. Hiện là Phó Giám đốc Trung tâm Đào tạo trực Trung ương Hội Chữ Thập đỏ Việt Nam
Nguyễn Thành Phong 1962- 8 Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn khóa VIII. Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, XII, XIII. Nguyên là Bí thư Quận ủy, Chủ tịch UBND Quận 2 - Thành phố Hồ Chí Minh; Phó Bí thư, Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre; Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện là Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương
Nông Quốc Tuấn 1963- 8 Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam khóa V. Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI. Nguyên là Phó Bí thư, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang. Hiện là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc
Lâm Thị Phương Thanh 1967- 8, 9 Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn khóa IX. Chủ tịch Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam khóa VII. Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, XIII. Nguyên là Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn. Hiện là Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng
Bùi Văn Cường 1965- 8 Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI (dự khuyết), XII, XIII. Nguyên là Phó Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai; Phó Trưởng Ban Dân vận Trung ương; Bí thư Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương; Chủ tịch Tổng Liên Đoàn Lao động Việt Nam; Bí thư Tỉnh ủy Đắc Lăk. Hiện là Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội
Nguyễn Lam 1965- 8 Chủ tịch Hội đồng Đội Trung ương khóa V. Nguyên là Ủy viên Thường trực, Phó Chủ tịch chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hiện là Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương
Nguyễn Hoàng Hiệp 1969- 9 Nguyên là Phó Chủ tịch chuyên trách Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bắc Kạn. Hiện là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Phan Văn Mãi 1973- 9, 10 Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn khóa IX, X. Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam khóa VI. Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, XIII. Nguyên là Phó Bí thư, Phó Bí thư Thường trực, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Bến Tre. Hiện là Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh
Nguyễn Thị Hà 1971- 9, 10 Chủ tịch Hội đồng Đội Trung ương khóa VI, VII. Nguyên là Phó Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh. Hiện là Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Dương Văn An 1971- 9, 10 Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIIII. Nguyên là Phó Bí thư Tỉnh ủy Bình Thuận. Hiện là Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Thuận
Nguyễn Mạnh Dũng 1973- 9, 10 Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn khóa X. Hiện là Phó Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang
Đặng Quốc Toàn 1977- 10 Hiện là Bí thư Quận ủy Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
Nguyễn Long Hải 1976- 10 Chủ tịch Hội đồng Đội Trung ương khóa VII. Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII (dự khuyết). Nguyên là Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn. Hiện là Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương
Nguyễn Phi Long 1976- 10 Chủ tich Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam khóa VII. Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII (dự khuyết). Nguyên là Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định. Hiện là Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Chi phí cho Đoàn năm 2014 là 360 tỷ đồng, năm 2016 là 340 tỷ đồng, ngân sách phê duyệt trong năm 2019 là 322 tỷ đồng.[10] Theo đánh giá Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, tuy tiêu tốn nhiều tiền ngân sách, nhưng tổ chức Đoàn Thanh niên đã bị một số bộ phận người dân cho là đang "quý tộc hóa", ngày càng xa rời quần chúng, khiến các hội đoàn "thực tế trở thành một phần của bộ máy quan liêu, tính đại diện cho quần chúng ngày càng giảm dần".[11][12]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh”. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2013.
  2. ^ “Nhận rõ trách nhiệm "vườn ươm" đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý tương lai”. Báo Hà Nội Mới. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020.
  3. ^ “Toàn văn dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ XI”.
  4. ^ “Khi thanh niên vào đảng Cộng sản”. BBC.
  5. ^ Theo Báo cáo chuyên đề Công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi nhiệm kỳ 2012 - 2017 của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ chí Minh
  6. ^ Gồm: Đoàn khối các cơ quan Trung ương, Đoàn khối các doanh nghiệp Trung ương, Ban Thanh niên Quân đội và Đoàn Thanh niên Bộ Công an
  7. ^ “Điều lệ đoàn”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2012.
  8. ^ “Toàn văn Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI”. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2018.
  9. ^ “Ông Nguyễn Đắc Vinh giữ chức Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội”.
  10. ^ “Các hội, đoàn thể tiêu tốn hơn 45.000 tỷ đồng mỗi năm”. Báo điện tử Dân Trí. Truy cập 3 tháng 12 năm 2019.
  11. ^ “VN: Hội đoàn vẫn ngốn 1,3 tỷ đô ngân sách?” (bằng tiếng Anh). BBC News. Truy cập 3 tháng 12 năm 2019.
  12. ^ “Lãng phí ngân sách nuôi Hội đoàn nhà nước”. Đài Á Châu Tự do. Truy cập 3 tháng 12 năm 2019.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]