Nhật ký trong tù

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhật ký trong tù
獄中日記 Ngục trung nhật ký'
Hình bìa cuốn Ngục trung nhật ký.tif
Hình bìa gốc Ngục trung nhật ký
Thông tin sách
Tác giả Hồ Chí Minh
Quốc gia Việt Nam
Ngôn ngữ Tiếng Hán,
Tiếng Việt
Chủ đề Thời gian ở trong tù
Thể loại Nhật ký
Kiểu sách Tuyển tập thơ
Số trang 64

Nhật ký trong tù (nguyên văn chữ Hán: 獄中日記 - Hán-Việt: Ngục trung nhật ký) là một tác phẩm văn học gồm 133 bài thơ bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh viết từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10 tháng 9 năm 1943[1]. Ngoài ra, phần cuối văn bản là bút ký đọc sách và đọc báo ghi chép tóm tắt những thông tin về quân sự và văn hóa mà Người đọc được trên sách, báo. 

Nhật ký trong tù không chỉ ghi lại những cảnh sinh hoạt trong tù, mà còn có ý nghĩa tố cáo chế độ nhà tù khắc nghiệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch. Để tránh rắc rối với chính quyền Tưởng Giới Thạch, ở bìa đầu cuốn sổ, Hồ Chí Minh đã cẩn thận viết chệch thời gian sáng tác đi 10 năm: "29/8/1932 - 10/9/1933"; nhưng đến cuối tập thơ, trang 53, trên chữ “hoàn” (hết), Hồ Chí Minh đã dùng cùng một thứ chữ để ghi lại thời gian sáng tác chính xác: "29/8/1942 - 10/9/1943"[2].

Tập thơ là một cuốn sổ tay nhỏ, kích thước 12,5 cm x 9,5 cm. Bìa bằng giấy cát tông, có ghi bốn chữ "Ngục trung nhật ký" (tức Nhật ký trong tù) kèm theo bốn câu thơ và một hình vẽ hai nắm tay bị xích. Ruột gồm 82 tờ bằng giấy dã. Trong đó có 64 tờ viết chữ Hán trên một mặt bằng mực tàu, bút lông theo hàng dọc từ trên xuống, từ phải sang trái và 18 tờ để trắng. Từ tờ thứ nhất đến tờ 46 chép 131 bài thơ. Từ tờ 47 đến tờ 52 là mục đọc sách (độc thư lan). Tờ 53 là 2 bài thơ cuối cùng của tập thơ. Từ tờ 62 đến 71 là mục đọc báo (khán báo lan).

Từ năm 1960, tác phẩm này được dịch ra tiếng Việt, được nhiều người đánh giá là một thể hiện khác của con người Hồ Chí Minh qua cách nhìn là một nhà thơ. Đến nay đã được xuất bản nhiều lần, dưới nhiều hình thức khác nhau, được dịch và giới thiệu ở nhiều nước trên thế giới, nhiều lần được thể hiện bằng thư pháp chữ Việt, Hán, Triều Tiên, Nhật Bản... Ngày 1 tháng 10 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra quyết định công nhận bảo vật quốc gia cho tác phẩm "Ngục trung Nhật ký".[3] [4]

Giá trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tập thơ "Nhật ký trong tù" đã được một số nhà phê bình đánh giá. Theo BBC, không chỉ các tác giả Việt Namphương Tây mà ngay chính các nhân vật của Trung Quốc - quê hương của thơ chữ Hán - như Quách Mạt Nhược, Viên Ưng, Hoàng Tranh đều ca ngợi tập thơ này.[5].

Xuân Diệu có viết: "Thơ Nhật ký trong tù theo ý tôi, rất dễ và rất khó. Dễ là dễ hiểu, giản dị, gần gũi với mọi người, các bài có cơ sở đầu tiên ở thực tế dễ thông cảm. Nhưng nếu chưa nâng tâm trí mình lên đúng mức thì chưa thấy hết các tinh tuý ở bên trong thơ, cho nên nói là rất khó... Người xưa nói: "Đối diện đàm tâm" nghĩa là mặt nhìn mặt miệng không nói mà hai tâm hồn trò chuyện, như vậy là tinh vi lắm, là cái thứ im lặng rất cao đàm tâm được với nhau... Cái hay vô song của tập thơ là chất người cộng sản Hồ Chí Minh, được đào tạo trong lò hun đúc của Lê nin mà vẫn mang cái tinh anh của Nguyễn Trãi, Văn Thiên Tường..."[6]

Một số bài thơ trích từ "Nhật ký trong tù"[sửa | sửa mã nguồn]

Đường đời hiểm trở[sửa | sửa mã nguồn]

世路難  [sửa | sửa mã nguồn]

走遍高山與峻岩, 

那知平路更難堪。 

高山遇虎終無恙, 

平路逢人卻被監。 

余原代表越南民, 

擬到中華見要人。 

無奈風波平地起, 

送余入獄作嘉賓。 

忠誠我本無心疚, 

卻被嫌疑做漢奸。 

處世原來非易易, 

而今處世更難難。

Thế lộ nan 

(phiên âm)

Tẩu biến cao sơn dữ tuấn nham, 

Na tri bình lộ cánh nan kham. 

Cao sơn lộ hổ chung vô dạng, 

Bình lộ phùng nhân khước bị giam. 

Dư nguyên đại biểu Việt Nam dân, 

Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân. 

Vô nại phong ba bình địa khởi, 

Tống dư nhập ngụ tác gia tân. 

Trung thành ngã bản vô tâm cứu, 

Khước bị hiềm nghi tố Hán gian. 

Xử thế nguyên lai phi dị dị, 

Nhi kim xử thế cánh nan nan.

Đường đời hiểm trở

(Nam Trân dịch)

Đi khắp đèo cao, khắp núi cao, 

Ngờ đâu đường phẳng lại lao đao! 

Núi cao gặp hổ mà vô sự, 

Đường phẳng gặp người bị tống lao?! 

Ta là đại biểu dân Việt Nam, 

Tìm đến Trung Hoa để hội đàm; 

Ai ngỡ đất bằng gây sóng gió, 

Phải làm "khách quý" ở nhà giam! 

Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng, 

Lại bị tình nghi là Hán gian; 

Xử thế từ xưa không phải dễ, 

Mà nay, xử thế khó khăn hơn.

Tờ gốc chép bài Thế lộ nan

Giải đi sớm[sửa | sửa mã nguồn]

早解

一次雞啼夜未闌

群星擁月上秋山

征人已在征途上

迎面秋風陣陣寒

東方白色已成紅

幽暗殘餘早一空

暖氣包羅全宇宙

行人詩興忽加濃

Tảo giải
(phiên âm)

Nhất thứ kê đề dạ vị lan

Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san

Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng

Nghênh diện thu phong trận trận hàn.

Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng

U ám tàn dư tảo nhất không

Noãn khí bao la toàn vũ trụ

Hành nhân thi hứng hốt gia nồng.

Giải đi sớm
(Nam Trân dịch)

Gà gáy một lần đêm chửa tan

Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn;

Người đi cất bước trên đường thẳm,

Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.

Phương đông màu trắng chuyển sang hồng,

Bóng tối đêm tàn, quét sạch không;

Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,

Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng.

Nghe tiếng giã gạo[sửa | sửa mã nguồn]

聞舂米聲

米被舂時很痛苦

既舂之後白如綿

人生在世也這樣

困難是你玉成天

Văn thung mễ thanh
(phiên âm)

Mễ bị thung thì, hẩn thống khổ,

Ký thung chi hậu, bạch như miên;

Nhân sinh tại thế dã giá dạng,

Khốn nạn thị nhĩ ngọc thành thiên.

Nghe tiếng giã gạo
(Văn Trực, Văn Phụng dịch)

Gạo đem vào giã bao đau đớn,

Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông;

Sống ở trên đời người cũng vậy,

Gian nan rèn luyện mới thành công.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]