Xuân Diệu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ngô Xuân Diệu
Xuân Diệu thời trẻ.
Xuân Diệu thời trẻ.
Sinh2 tháng 2, 1916
Phước Hòa, Tuy Phước, Bình Định, Việt Nam
Mất18 tháng 12, 1985(1985-12-18) (69 tuổi)
Hà Nội, Việt Nam
Nơi an tángNghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội, Việt Nam
Bút danhXuân Diệu, Trảo Nha
Nghề nghiệpNhà thơ, nhà báo, nhà phê bình văn học
Quốc tịchViệt Nam Việt Nam
Dân tộcKinh
Học vấnTú tài, Cử nhân luật
Giai đoạn sáng tác1936—1985
Thể loạiTrữ tình
Chủ đềThơ tình
Trào lưuPhong trào Thơ mới
Giải thưởng nổi bậtGiải thưởng Hồ Chí Minh
Phối ngẫuBạch Diệp
(đã ly dị trước năm 1970)

Ngô Xuân Diệu (2 tháng 2 năm 1916 — 18 tháng 12 năm 1985), là nhà thơ, nhà báo, nhà văn viết truyện ngắn và nhà phê bình văn học người Việt Nam. Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới đầu thế kỷ XX. Được đánh giá là "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới",[1] Xuân Diệu nổi tiếng với tập Thơ thơ (1938), thể hiện một tiếng nói riêng biệt chịu ảnh hưởng văn hoá phương Tây, đặc biệt là chủ nghĩa tượng trưng Pháp. Ông là một trong những người đầu tiên áp dụng thủ pháp thơ phương Tây như enjambment vào thơ Việt Nam,[2] dù đôi khi vẫn tuân theo hình thức truyền thống như lục bát. Trong khoảng thời gian từ năm 1936 đến năm 1944, thơ của ông đã thể hiện một triết lý bi quan, tuyệt vọng về tình ái nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi hừng hực sức sống. Nhờ đó, Xuân Diệu còn được mệnh danh là "ông hoàng thơ tình". Sau khi theo Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1945, thơ ông chủ yếu ca ngợi Đảng Lao động Việt Nam, Hồ Chí Minh, và các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; ông không còn sáng tác thơ tình nhiều như trước. Khi qua đời năm 1985, ông để lại khoảng 450 bài thơ, cùng một số truyện ngắn, tiểu luận phê bình.

Dù những bài thơ tình của ông dùng những cách diễn đạt và đại từ thường dùng chỉ các mối quan hệ khác giới, nhưng nhiều người, kể cả bạn thân ông, khẳng định Xuân Diệu là người đồng tính. Theo nhà văn Tô Hoài,[3] việc ông đồng tính được những người lính cùng ông trong thời gian hoạt động tại căn cứ địa cách mạng biết tới, thậm chí còn bị quân đội ngăn cấm. Tới nay, tác động của xu hướng tình dục trong thơ ca ông vẫn là một chủ đề gây tranh cãi.[4][5]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Xuân Diệu, quê quán làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh tại quê mẹ Gò Bồi, thôn Tùng Giản, Phước Hòa, Tuy Phước, tỉnh Bình Định.[6] Cha là ông Ngô Xuân Thọ (trong tộc phả ghi là Ngô Xuân Thụ) và mẹ là bà Nguyễn Thị Hiệp. Sau này ông lấy tên làng là Trảo Nha làm bút danh. Xuân Diệu sống ở Tuy Phước đến năm 11 tuổi thì ông vào Nam học ở Quy Nhơn.[7]

Bắt đầu sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1936, Xuân Diệu ra Huế nhập học trường Khải Định, tại đây ông gặp Huy Cận và tốt nghiệp trường tú tài năm 1937. Sau đó, ông ra Hà Nội học trường Luật và viết báo, là thành viên của nhóm Tự Lực văn đoàn, một tổ chức văn học gồm phần lớn các cây bút trẻ Việt Nam được đào tạo dưới hệ thống giáo dục thuộc địa, thông thạo cả văn học Việt Nam lẫn phương Tây. Ông đến với nhóm khá muộn, song đã tự tạo dựng danh tiếng cho mình như một chỗ dựa vững chắc trong giới trí thức Việt Nam, xuất bản những cuốn tiểu thuyết lãng mạn mục đích giải trí cùng với những tác phẩm châm biếm gây phẫn nộ cả xã hội đương thời lẫn chính quyền Pháp.[8] Trong số đồng nghiệp của ông có Thế Lữ, chuyên làm thơ mang tính kỳ ảo và viết truyện ngắn trinh thám, chịu ảnh hưởng chủ nghĩa lãng mạn Pháp và nhà văn Edgar Allan Poe.[9] Theo các nhà phê bình văn học Hoài Thanh và Hoài Chân, Xuân Diệu mượn cảm hứng từ cùng một chủ đề lãng mạn, nhưng ông "đốt cảnh Bồng Lai và xua ai nấy về hạ giới".[10] Họ cũng chỉ ra Xuân Diệu chịu ảnh hưởng từ Charles Baudelaire, so sánh khía cạnh thơ ông với Anna de NoaillesAndré Gide, đánh giá thơ ông là đỉnh cao thơ Việt Nam chịu ảnh hưởng Pháp.[11][12]

Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1938 đến 1940, Xuân Diệu sống với nhà thơ và người bạn đời Huy Cận[13] tại số 40 Hàng Than, Hà Nội.[14] Sau khi Nhật đảo chính Pháp vào tháng 9 năm 1940, nhiều thành viên Tự lực văn đoàn tập trung hoàn toàn vào chính trị, trong đó có người sáng lập Nhất Linh. Cuối năm 1940, ông vào Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) làm viên chức (tham tá thương chánh). Một số thành viên còn lại, như Đại Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí, bị Pháp bắt giam tại Nhà tù Sơn La, đánh dấu khởi đầu sự lụi tàn của nhóm. Khi Xuân Diệu trở lại Hà Nội năm 1942, hầu hết các nhà văn ông từng làm việc cùng đều đã ly tán hoặc tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Ông sống bằng nghề viết văn trong suốt hai năm cho đến khi tham gia phong trào Việt Minh. Trong kháng chiến, Xuân Diệu di tản lên chiến khu Việt Bắc, hoạt động văn nghệ cách mạng. Trong hồi ký Cát bụi chân ai của nhà văn Tô Hoài, chính trong thời gian này, Xuân Diệu đã vài lần quan hệ với đồng đội, gồm với cả chính Tô Hoài, và bị cấp chỉ huy khiển trách.[15]

Giữa hai cuộc chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Một ngôi nhà trên phố Điện Biên Phủ, xưa gọi là đường Cột Cờ. Xuân Diệu sống tại 24 đường Cột Cờ, gia đình Huy Cận sống trên gác, còn ông ở dưới cho đến khi mất năm 1985.

Hòa bình lập lại năm 1954, Xuân Diệu về sống tại Hà Nội, viết báo và sáng tác thơ. Năm 1956, ông kết hôn với nữ đạo diễn Bạch Diệp 27 tuổi, nhưng mối tình không được viên mãn và cả hai sớm chia tay. Bạch Diệp sau đó tái hôn với một người đàn ông khác, còn Xuân Diệu sống một mình trong một căn hộ ngay bên dưới gia đình Huy Cận, người đã kết hôn với Ngô Xuân Như, em gái Xuân Diệu.

Từ 1955 đến tháng 6 năm 1958, Xuân Diệu bị lôi kéo vào Phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm nổi tiếng lúc bấy giờ. Khi Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất kết thúc, một số cải cách của chính quyền mới dẫn đến kết quả tai hại, những tiếng nói bất đồng chính kiến ​​bắt đầu dấy lên trong số những người ủng hộ Việt Minh và hiện đang đòi quyền tự do chỉ trích những hành động sai trái của chính phủ. Dù chính phủ thừa nhận những sai sót, song phong trào sớm phát triển từ việc chỉ trích chính phủ sang công kích cá nhân và kêu gọi đại tu, gây ra rạn nứt giữa các nhà văn ủng hộ chính phủ và những nhân vật bất đồng chính kiến ​​như Lê Đạt hay Trần Dần. Cuối cùng, Xuân Diệu, Huy Cận và những người khác, chọn đứng về phía chính phủ; trong một đáp trả công bố vào tháng 5 năm 1958, ông cáo buộc những kẻ như Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm

Bên cạnh sáng tác thơ, ông còn tham gia viết báo cho các tờ Ngày NayTiên Phong. Ông là một trong những người sáng lập Đoàn báo chí Việt Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam.[16][17]

Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới" (Hoài Thanh), "ông hoàng của thơ tình".

Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực văn đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào "Thơ Mới". Tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai đoạn này: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), truyện ngắn Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945).

Hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió được giới văn học xem như là hai kiệt tác của ông ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi sự sống, niềm vui và đam mê sống. Và ca ngợi tình yêu thì làm sao mà không ca ngợi tuổi trẻ, mùa xuân, ca ngợi thiên nhiên là tổ ấm và cái nôi của tình yêu. Và Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc đến đau đớn nỗi thời gian trôi chảy, sự mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cửu, tất cả đã được diễn tả bằng những câu thơ xúc động, có khi đậm đà triết lý nhân sinh.

— Huy Cận,  [cần dẫn nguồn]

Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh, đảng viên Việt Nam Dân chủ Đảng, sau tham gia Đảng Cộng sản. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội. Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệViệt Bắc.

Xuân Diệu tham gia ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam.

Từ đó, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một "dòng thơ công dân". Bút pháp của ông chuyển biến phong phú về giọng vẻ: có giọng trầm hùng, tráng ca, có giọng chính luận, giọng thơ tự sự trữ tình. Tiêu biểu là: Ngọn quốc kỳ (1945), Một khối hồng (1964), Thanh ca (1982), Tuyển tập Xuân Diệu (1983).

Là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam, Xuân Diệu đã để lại khoảng 450 bài thơ (một số lớn nằm trong di cảo chưa công bố), một số truyện ngắn, và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học.

Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I. Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa Dân chủ Đức năm 1983.[cần dẫn nguồn]

Ông qua đời năm 1985.

Ảnh hưởng của thơ nước Pháp đối với Xuân Diệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Câu thơ nổi tiếng của Xuân Diệu: Yêu là chết trong lòng một ít là sự vay mượn của câu thơ của Edmond Haraucourt: Partir, c'est mourir un peu (Đi là chết đi một ít).[18]
  • Mau với chứ, vội vàng lên với chứ/ Em, em ơi, tình non đã già rồi...

được lấy cảm hứng từ câu nói của Alfred de Musset nói với George Sand: Dépêche-toi, George, notre amour est vieux (Nhanh lên em, George, mối tình chúng ta đã già rồi).[18]

  • Những câu dịch sát chữ từ câu thơ Pháp:

Hơn một loài hoa đã rụng cành [19]/ Plus d'une espèce de fleurs a quitté les branches[18]

Cuộc sống riêng tư[sửa | sửa mã nguồn]

Xuân Diệu lập gia đình với NSND Bạch Diệp nhưng hai người đã ly dị và không có con chung[20]. Sau khi ly dị, ông sống độc thân cho đến lúc mất vào năm 1985.

Xuân Diệu là người cùng quê Hà Tĩnh với Huy Cận (làng Ân Phú, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh) nên khi gặp nhau, hai ông đã trở thành đôi bạn thân. Vợ của Huy Cận, bà Ngô Thị Xuân Như là em gái của Xuân Diệu. Quan hệ thân thiết giữa 2 người được một số trang báo lớn đưa tin, nhiều người nghi vấn và cho rằng Xuân Diệu cùng với người bạn thân của ông – Huy Cận là hai nhà thơ đồng tính[21][22][23][24][25]. Huy Cận và Xuân Diệu từng ở chung một nhà nhiều năm. Bài thơ "Tình trai" của Xuân Diệu và "Ngủ chung" của Huy Cận được cho là viết về đề tài đó. Theo hồi ký Cát bụi chân ai của Tô Hoài thì Xuân Diệu từng bị kiểm điểm về việc này[26]. Tuy nhiên, cũng có một số các bài thơ khác của ông lại viết về nhà thơ Hoàng Cát, như bài thơ Em đi là để gửi tặng nhà thơ này.

Con nuôi của ông là Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ - con trai nhà thơ Huy Cận, và cũng là cháu ruột của ông (cậu ruột).

Câu nói nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tập Chân dung và đối thoại, Trần Đăng Khoa ghi lại câu nói của Xuân Diệu:

"Nhà văn tồn tại ở tác phẩm. Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết."

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Thơ

Văn xuôi

  • Phấn thông vàng (1939, truyện ngắn), 17 truyện
  • Trường ca (1945, bút ký), 9 bài
  • Miền Nam nước Việt (1945, 1946, 1947, bút ký)
  • Việt Nam nghìn dặm (1946, bút ký)
  • Việt Nam trở dạ (1948, bút ký)
  • Ký sự thăm nước Hung (1956, bút ký)
  • Triều lên (1958, bút ký)

Tiểu luận phê bình

  • Thanh niên với quốc văn (1945)
  • Tiếng thơ (1951, 1954)
  • Những bước đường tư tưởng của tôi (1958, hồi ký)
  • Ba thi hào dân tộc (1959)
  • Phê bình giới thiệu thơ (1960)
  • Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm (1961)
  • Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961)
  • Dao có mài mới sắc (1963)
  • Thi hào dân tộc Nguyễn Du (1966)
  • Đi trên đường lớn (1968)
  • Thơ Trần Tế Xương (1970)
  • Đọc thơ Nguyễn Khuyến (1971)
  • Và cây đời mãi xanh tươi (1971)
  • Mài sắt nên kim (1977)
  • Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978)
  • Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập I, 1981; tập II, 1982)
  • Tìm hiểu Tản Đà (1982).

Dịch thơ

  • Thi hào Nadim Hitmet (1962)
  • V.I. Lênin (1967)
  • Vây giữa tình yêu (1968)
  • Việt Nam hồn tôi (1974)
  • Những nhà thơ Bungari (1978, 1985)
  • Nhà thơ Nicôla Ghiđen (1982).[27]

Tác phẩm được phổ nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Yêu được Châu Kỳ phổ thành Đừng nói xa nhau. Ngoài ra, Phạm Duy cũng phổ nhạc bài thơ này thành Yêu là chết Trong Lòng.
  • Nguyệt cầm được Cung Tiến phổ nhạc.
  • Vì sao được Phạm Duy phổ thành Mộ khúc.

Giải thưởng và tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ông đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996).

Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Tên của ông được đặt cho một đường phố ở Hà Nội, một con đường ở thành phố Quy Nhơn (Bình Định), là tên của 1 trường trung học phổ thông ở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định và 1 trường THCS tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

Tại thành phố Đồng Hới, Quảng Bình có con đường mang tên Xuân Diệu ở phường Nam Lý

Ông được lập nhà tưởng niệm và nhà thờ ở làng Trảo Nha, thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (bên cạnh đường lên Ngã Ba Đồng Lộc).

Tại TPHCM Có 1 con đường mang tên ông ở quận 4

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hoài Thanh và Hoài Chân (2006). Thi nhân Việt Nam (1932–1941). Nhà xuất bản Văn học. tr. 132.
  2. ^ Thanh Thảo (28 tháng 4 năm 2016). “Xuân Diệu: Tương tác Thơ và Đời”. Tạp chí điện tử Văn Hiến Việt Nam. Truy cập 24 tháng 12 năm 2020.[liên kết hỏng]
  3. ^ Tô Hoài: Don’t expect much from old people Lưu trữ 2007-01-25 tại Wayback Machine. (10 tháng 1 năm 2007). VietNamNet Bridge. Truy cập 11 tháng 4 năm 2007.
  4. ^ Chu Văn Sơn (2003). Ba đỉnh cao của thơ mới: Xuân Diệu – Nguyễn Bính – Hàn Mặc Tử. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
  5. ^ Nguyễn Quốc Vinh (1997). “Deviant Bodies and Dynamics of Displacement of Homoerotic Desire in Vietnamese Literature from and about the French Colonial Period (1858–1954)”. Truy cập 24 tháng 12 năm 2020.
  6. ^ Vương Tâm. “Thi sĩ Xuân Diệu với quê mẹ Gò Bồi”. Văn nghệ Công an. Truy cập 24 tháng 12 năm 2020.
  7. ^ Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe (2010). “The Heart and Mind of the Poet Xuân Diệu: 1954–1958”. Journal of Vietnamese Studies. 5 (2): 7. doi:10.1525/vs.2010.5.2.1.
  8. ^ Phan, Ngoc (Tháng 3 năm 1998). “À la rencontre de deux cultures : l'influence de la littérature française au Viêt-nam”. Aséanie. 1. Truy cập 24 tháng 12 năm 2020.
  9. ^ Phạm Đình Ân (2006). Thế Lữ – về tác gia và tác phẩm. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
  10. ^ Hoài Thanh và Hoài Chân (2006). Thi nhân Việt Nam (1932–1941). Nhà xuất bản Văn học. tr. 39.
  11. ^ Hoài Thanh và Hoài Chân 2006, tr.39.
  12. ^ Jamieson, Neil (1992). “Shattered Identities and Contested Images: Reflections of Poetry and History in 20th-Century Vietnam”. Crossroads: An Interdisciplinary Journal of Southeast Asian Studies. 7 (2): 86–88. JSTOR 40860398. Truy cập 24 tháng 12 năm 2020.
  13. ^ Mark McLelland and Vera Mackie (2014). Routledge Handbook of Sexuality Studies in East Asia. Taylor & Francis Group. tr. 255. ISBN 9781317685746.
  14. ^ “Lời "tự thú" của thi sĩ Xuân Diệu”. Người đưa tin. 28 tháng 12 năm 2012. Truy cập 24 tháng 12 năm 2020.
  15. ^ Tô Hoài (2017). Cát bụi chân ai. Nhà xuất bản Hội Nhà văn.
  16. ^ [liên kết hỏng][liên kết hỏng][liên kết hỏng][liên kết hỏng][liên kết hỏng] Có một Xuân Diệu nhà báo
  17. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Tạp chí điện tử Hồn Việt. 22 tháng 4 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2020. Truy cập 24 tháng 2 năm 2020. Đã định rõ hơn một tham số trong |tựa đề=|title= (trợ giúp)
  18. ^ a b c [1] Ảnh hưởng của văn học Pháp vào văn học Việt Nam
  19. ^ Xuân Diệu, Đây mùa thu tới, Thơ thơ, `1938
  20. ^ .Chuyện về người vợ của thi sĩ Xuân Diệu
  21. ^ Tô Hoài: Don’t expect much from old people. (2007-01-10). VietNamNet Bridge. Truy cập 2007-04-11. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2010.
  22. ^ Famous Vietnamese poet (Huy Cận) từ trần ở tuổi 86 (2005-02-20). Báo Thanh Niên. Truy cập vào ngày 11 tháng 4 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2009.
  23. ^ 'Vạch trần' nỗi khổ 'tình trai' của nhà thơ Xuân Diệu”. nguoiduatin.vn. Tháng 6 năm 2013. Truy cập 2 tháng 4 năm 2014.
  24. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. news.zing.vn. Tháng 6 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2016. Truy cập 2 tháng 4 năm 2014. Đã định rõ hơn một tham số trong |tựa đề=|title= (trợ giúp)Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  25. ^ “Lột tả đêm tân hôn kỳ lạ của Xuân Diệu”. nguoiduatin.vn. Tháng 6 năm 2013. Truy cập 2 tháng 4 năm 2014.
  26. ^ Tô Hoài, - BBC Việt ngữ
  27. ^ “Tiểu sử Xuân Diệu”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2014.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]