Dị tính luyến ái

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Cờ của cộng đồng người Dị tính luyến ái

Dị tính luyến ái là sự hấp dẫn về tình cảm, tình dục hoặc hành vi tình dục giữa những người khác giới tính hoặc khác giới. Với vai trò là một xu hướng tính dục, dị tính luyến ái là một hình mẫu ổn định của những hấp dẫn về cảm xúc, tình cảm, và/ hoặc tình dục với những người khác giới tính; đồng thời liên quan đến khả năng tự nhận dạng dựa trên những hấp dẫn đó, những hành vi liên quan, và sự tham gia vào một cộng đồng bao gồm những người có chung những sự hấp dẫn đó. Những người dị tính luyến ái thường được gọi là thẳng.

Cùng với song tính luyến áiđồng tính luyến ái, dị tính luyến ái là một trong ba nhánh chính của xu hướng tính dục trong phổ liên tục dị tính-đồng tính. Trong các nền văn hoá khác nhau, phần lớn là người dị tính, và hoạt động tình dục dị tính là kiểu hoạt động tình dục phổ biến nhất.

Chưa có bằng chứng khoa học nào về nguyên nhân chính xác của xu hướng tính dục, nhưng có nhiều giả thuyết cho rằng nó bắt nguồn từ sự tác động qua lại một cách phức tạp của các nhân tố di truyền, nội tiết tố và môi trường, và không được coi là một lựa chọn. Mặc dù chưa có lý thuyết nào về căn nguyên của xu hướng tính dục được ủng hộ rộng rãi, các nhà khoa học thiên về các lý thuyết dựa trên cơ sở sinh học. Có nhiều bằng chứng ủng hộ các nguyên nhân về mặt phi xã hội và sinh học hơn về mặt xã hội, đặc biệt đối với nam giới.

Cụm từ người dị tính hoặc dị tính luyến ái thường được áp dụng cho con người, những hành vi dị tính luyến ái có thể được tìm thấy ở tất cả các loài động vật có vú và các động vật khác, vì đây là yếu tố thiết yếu cho sinh sản hữu tính.

Thuật ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Các thuật ngữ về đồng tính luyến ái

Hetero- xuất phát từ tiếng Hy Lạp ἕτερος [hétéros], có nghĩa là "bên khác" hoặc "người khác", được sử dụng trong khoa học như một tiền tố có nghĩa là "khác nhau"; và từ tiếng Latinh chỉ giới tính (nghĩa là đặc điểm giới tính hoặc phân biệt giới tính).

Cách dùng hiện nay của thuật ngữ dị tính luyến ái xuất phát từ truyền thống phân loại tính cách phổ biến ở thế kỷ 19. Thuật ngữ dị tính luyến ái (heterosexual) được đặt ra cùng với từ đồng tính luyến ái (homosexual) bởi Karl Maria Kertbeny vào năm 1869. Các thuật ngữ này không được sử dụng rộng rãi vào cuối thế kỷ 19, nhưng được Richard von Krafft-Ebing và Albert Moll mang trở lại vào khoảng năm 1890. Danh từ này được dùng nhiều hơn từ đầu những năm 1920, nhưng phải đến những năm 1960 mới trở nên phổ biến. Từ rút gọn thông tục dị tính (hetero) được chứng thực lần đầu tiên từ năm 1993. Năm 1900, lần đầu tiên danh từ trừu tượng dị tính luyến ái (heterosexuality) được ghi chép lại. Từ “dị tính luyến ái” được liệt kê trong Từ điển Quốc tế Mới của Merriam-Webster vào năm 1923 như một thuật ngữ y học cho “đam mê tình dục không lành mạnh đối với người khác giới”; tuy nhiên, năm 1934, trong ấn bản thứ hai không rút gọn của cuốn từ điển này, nó được định nghĩa là “biểu hiện của sự đam mê tình dục dành cho người khác giới; tính dục bình thường”.

Trong tiếng lóng LGBT, từ “breeder” được dùng với nghĩa phỉ báng người dị tính. Hạ vị của dị tính luyến ái bao gồm linh hoạt thiên dị tính (heteroflexible).

Từ này có thể được viết thành “dị tính” (hetero). Thuật ngữ thẳng bắt nguồn từ một từ tiếng lóng của giới đồng tính dành cho người dị tính vào giữa thế kỉ 20, cơ bản là xuất phát từ cụm từ “to go straight” - “đi vào con đường ngay thẳng” (như trong cụm “straight and narrow” - “lối sống đàng hoàng và ngay thẳng”), hoặc ngừng quan hệ đồng tính. Tác giả G. W. Henry là một trong những người đầu tiên sử dụng nó theo nghĩa này vào năm 1941. Sách của Henry đề cập đến những cuộc đối thoại giữa người đồng tính nam và đưa vào thuật ngữ này để liên hệ với những người tự nhận dạng bản thân từng là người đồng tính. Nghĩa của từ này thay đổi theo thời gian và hiện nay đơn giản là một thuật ngữ thông tục chỉ người dị tính. Một số ý kiến phản đối việc sử dụng từ “thẳng” vì thuật ngữ này ám chỉ những người không dị tính là không đàng hoàng.

Nhân khẩu học[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chính: Nhân khẩu học của xu hướng tính dục

Trong tổng quan nghiên cứu năm 2016, Bailey và cộng sự khẳng định họ “cho rằng trong tất cả các nền văn hoá, đại đa số các cá nhân có xu hướng tính dục đặc biệt hướng đến giới tính khác (tức là dị tính) và không có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy dữ liệu nhân khẩu học về xu hướng tính dục thay đổi nhiều theo thời gian hay địa điểm. Các hoạt động tình dục dị tính giữa một nam và một nữ cho tới nay là hoạt động phổ biến nhất trong các hoạt động tình dục theo xu hướng quan hệ ngoài luồng.

Dựa trên một số nghiên cứu lớn, có 89% đến 98% người chỉ có một mối quan hệ dị tính trong suốt cuộc đời, nhưng tỉ lệ này giảm xuống còn 79% đến 84% đối với những hấp dẫn và hành vi đồng giới được báo cáo.

Một nghiên cứu năm 1992 chỉ ra rằng 93.9% nam giới ở Anh chỉ từng trải nghiệm quan hệ dị tính một lần, trong khi đó con số này ở Pháp là 95.9%. Theo một cuộc thăm dò ý kiến thực hiện năm 2008, 85% người Anh chỉ trải qua quan hệ tình dục khác giới, và những người Anh nhận dạng bản thân là dị tính chiếm 94%. Tương tự, một khảo sát bởi Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh (ONS) vào năm 2010 cho thấy 95% người Anh nhận dạng bản thân là người dị tính, 1.5% cho rằng họ là người đồng tính hoặc song tính, và 3.5% còn lại đưa ra những câu trả lời mơ hồ như “không biết” hoặc “khác”, hoặc không phản hồi. Ở Hoa Kỳ, theo báo cáo của viện Williams tháng 4 năm 2011, 96% hay gần 250 triệu người trưởng thành là người dị tính.

Một cuộc thăm dò ý kiến vào tháng 10 năm 2012 của Gallup cung cấp thông tin mới về số liệu nhân khẩu học của những người nhận dạng là người dị tính, đưa đến kết luận rằng 96.6% (với sai số ±1%) những người Mỹ trưởng thành là người dị tính. Kết quả như dưới đây:

Tuổi/ Giới Người dị tính Người không phải dị tính Không biết/ Không trả lời
18–29 90.1% 6.4% 3.5%
30–49 93.6% 3.2% 3.2%
50–64 93.1% 2.6% 4.3%
65+ 91.5% 1.9% 6.5%
18–29, Nữ 88.0% 8.3% 3.8%
18–29, Nam 92.1% 4.6% 3.3%

Một khảo sát của YouGov năm 2015 thực hiện trên 1000 người trưởng thành tại Hoa Kỳ cho kết quả: 89% nhận dạng là người dị tính, 4% là người đồng tính (người đồng tính nam và nữ mỗi bên chiếm 2%) và 4% là người song tính (một trong hai giới tính).

Trong tổng quan năm 2016, Bailey và cộng sự khẳng định rằng đối với các khảo sát ở phương Tây thời gian gần, số người dị tính hoàn toàn chiếm 93% ở nam và 87% ở nữ, 4% nam giới và 10% nữ giới không hoàn toàn dị tính.

Nghiên cứu khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh học và môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chính: Sinh học và xu hướng tính dụcMôi trường và xu hướng tính dục

Chưa có yếu tố quyết định cơ bản và duy nhất nào cho xu hướng tính dục từng được chứng minh một cách thuyết phục, nhưng các nhà khoa học tin rằng sự kết hợp của các yếu tố di truyền, nội tiết tố và môi trường quyết định xu hướng tính dục. Họ ủng hộ sử dụng các lý thuyết sinh học để giải thích các nguyên nhân của xu hướng tính dục, vì có nhiều bằng chứng ủng hộ các nguyên nhân sinh học, phi xã hội hơn là các nguyên nhân xã hội, đặc biệt là đối với nam giới.

Các yếu tố liên quan đến sự phát triển xu hướng tính dục dị tính bao gồm di truyền, nội tiết tố trước khi sinh, cấu trúc não và tương tác của chúng với môi trường.

Nội tiết tố trước khi sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chính: Nội tiết tố trước sinh và xu hướng tính dục và Khoa học thần kinh và xu hướng tính dục

Cấu trúc của thụ thể androgen (sợi xoắn màu cầu vồng) phức hợp với testosterone (que trắng)
Testosterone tham gia vào quá trình nam tính hoá của não bộ
Estradiol kích thích các thụ thể androgen.

Sinh học thần kinh về quá trình nam tính hóa của não đã được tìm hiểu khá kỹ càng. Estradioltestosterone, được xúc tác bởi enzyme 5α-reductase thành dihydrotestosterone, hoạt động dựa trên các thụ thể androgen trong não để nam tính hóa nó. Nếu có ít thụ thể androgen (những người mắc hội chứng không nhạy cảm với androgen) hoặc quá nhiều androgen (những phụ nữ bị tăng sản thượng thận bẩm sinh), có thể gây ra những ảnh hưởng về thể chất và tâm lý. Có ý kiến cho rằng cả dị tính luyến ái ở nam và nữ đều là kết quả của quá trình này. Trong những nghiên cứu này, dị tính luyến ái ở nữ có liên quan đến mức độ nam tính hóa thấp hơn so với ở người đồng tính nữ, mặc dù đối với dị tính luyến ái ở nam, kết quả ủng hộ cả mức độ nam tính hóa cao hơn và thấp hơn so với người đồng tính nam.

Động vật và sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chính: Hành vi tình dục ở động vật và Giao phối

Xem thêm: Kết đôi và Tiếng gọi bạn tình

Xem thêm: Hành vi đồng tính luyến ái ở động vật

Tinh tinh lùn (Vượn Bonobo) giao phối
ruồi giả ong giao phối khi đang bay


Sinh sản hữu tính trong thế giới động vật được tạo điều kiện thông qua hoạt động tình dục khác giới, mặc dù cũng có những động vật sinh sản vô tính, bao gồm động vật nguyên sinh và động vật không xương sống bậc thấp.

Tình dục sinh sản không đòi hỏi xu hướng tính dục dị tính, vì xu hướng tính dục thường xét đến một khuôn mẫu bền vững bao gồm hấp dẫn tình dục và tình cảm trong một thời gian dài, dẫn đến liên kết xã hội lâu dài, trong khi đó sinh sản chỉ cần một hành động giao cấu đơn lẻ: thụ tinh noãn bằng tinh trùng.

Sự linh hoạt tính dục[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chính: Bản dạng tính dục và Linh hoạt tính dục

Xu hướng tính dụcbản dạng xu hướng tính dục thường không được phân biệt, điều này có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá chính xác bản dạng tính dục và khả năng thay đổi của xu hướng tính dục; bản dạng xu hướng tính dục có thể thay đổi xuyên suốt cuộc đời của một cá nhân, và có thể có hoặc không đồng dạng với giới tính sinh học, hành vi tình dục hoặc xu hướng tính dục thực sự.[1][2][3] Xu hướng tính dục bền vững và khó thay đổi đối với đa số cá nhân, nhưng một vài nghiên cứu chỉ ra rằng xu hướng tính dục của nhiều người có thể thay đổi, nhất là ở nữ giới. Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ phân biệt xu hướng tính dục (hấp dẫn bẩm sinh) và bản dạng xu hướng tính dục (có thể thay đổi bất cứ lúc nào).[4]

Một nghiên cứu năm 2012 kết luận rằng 2% trong số 2560 người trưởng thành tham gia có sự thay đổi trong bản dạng xu hướng tính dục trong thời kì 10 năm. Đối với nam giới, sự thay đổi xảy ra ở 0.78% người nhận dạng bản thân là dị tính, 9.52% ở người đồng tính, và 47% ở người song tính. Đối với nữ giới, thay đổi diễn ra ở 1.36% người dị tính, 63.6% người đồng tính, và 63.6% người song tính.[5]

Nghiên cứu trong hai năm bởi Lisa M. Diamond trên 80 người nữ không phải dị tính (từ 16-23 tuổi) báo cáo rằng một nửa những người tham gia đã thay đổi xu hướng tính dục nhiều hơn một lần, một phần ba trong số họ thay đổi trong hai năm sau đó. Diamond kết luận rằng “mặc dù hấp dẫn tình dục khá bền vững, bản dạng và hành vi tính dục linh hoạt hơn”.[6]

Dị tính linh hoạt là một dạng xu hướng tính dục hay hành vi tình dục theo hoàn cảnh, có đặc điểm là hoạt động tình dục đồng giới tối thiểu, đa phần theo xu hướng dị tính luyến ái, để phân biệt với song tính luyến ái. Nó được miêu tả là "chủ yếu là thẳng".[5]

Nỗ lực thay đổi xu hướng tính dục[sửa | sửa mã nguồn]

Main article: Nỗ lực thay đổi xu hướng tính dục

Nỗ lực thay đổi xu hướng tính dục là những phương pháp nhằm thay đổi xu hướng tính dục, dùng để biến đổi những người đồng tính và song tính thành dị tính luyến ái. Đa số các nhà khoa học và chuyên gia tâm lý không tin rằng xu hướng tính dục là một lựa chọn.[3] Không có nghiên cứu khoa học nào có thể kết luận rằng những nỗ lực thay đổi xu hướng tính dục là có hiệu quả.[2]

Xã hội và văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Lịch sử tính dục ở người và chiến lược giao phối ở người

Một cặp đôi dị tính, một nam và một nữ trong một mối quan hệ tình cảm thân mật, là cốt lõi hình thành các gia đình hai thế hệ.[6] Nhiều xã hội xuyên suốt quá trình lịch sử từng đòi hỏi một cặp đôi phải kết hôn trước khi chung sống, nhưng việc áp dụng hay tuân thủ điều lệ này đã thay đổi đáng kể.

Biểu tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống những biểu tượng dị tính có lịch sử từ những chế tác sớm nhất của loài người, với những biểu tượng giới, đồ khắc cho nghi lễ cầu sự sinh sôi nảy nở, và trong nghệ thuật nguyên thủy. Về sau, những biểu tượng đó được thể hiện thông qua tính tượng trưng của các nghi lễ cầu sinh sôi nảy nở và việc thờ phụng đa thần, thường có những hình ảnh cơ quan sinh sản của con người, như Lingam trong đạo Hindu. Những biểu tượng dị tính hiện đại trong các xã hội bắt nguồn từ truyền thống châu Âu và vẫn có liên hệ tới những biểu tượng được sử dụng trong những tín ngưỡng cổ này. Một trong số đó là sự kết hợp biểu tượng của Mars, thần chiến tranh La Mã, biểu tượng tối cực của nam tính, và Venus, nữ thần tình yêu và sắc đẹp La Mã, biểu tượng tối cực của nữ tính. Kí tự Unicode cho biểu tượng kết hợp này là ⚤ (U+26A4).

Góc nhìn lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vốn không cần tạo ra khái niệm dị tính cho đến khi có một khái niệm khác để tương phản và so sánh với từ này. Jonathan Ned Katz xác định thời điểm định nghĩa của dị tính luyến ái được dùng với nghĩa như ngày nay là từ cuối thế kỉ 19. Theo như Katz, vào thời Victoria, tình dục được xem như một cách thức để sản sinh thế hệ sau, và người ta không cho rằng mối quan hệ giữa các giới tính là gợi dục rõ ràng. Cơ thể được coi là một công cụ để sinh sản, “năng lượng của con người, được coi như một hệ thống khép kín và vô cùng có giới hạn, từng chỉ dùng để sinh con và dùng trong công việc, không phải để phí phạm vào những khoái cảm dâm dục.”

Katz tranh luận rằng những tư tưởng hiện đại về tính dục và nhục dục bắt đầu mở mang ở Mĩ và Đức ở phần sau thế kỉ 19. Nền kinh tế biến chuyển và “sự thay đổi trong gia đình từ cả người làm tới người hưởng dụng” dẫn tới những thay đổi về giá trị đạo đức. Đạo đức nghề nghiệp thời Victoria đã thay đổi, khoái cảm được coi trọng hơn nhiều, và điều này mở đường cho sự biến chuyển trong những tư tưởng về tính dục ở người. Văn hóa tiêu dùng đã tạo ra một thị trường cho nhục dục, khoái cảm trở thành hàng hóa. Cũng thời điểm ấy, các bác sĩ y khoa bắt đầu có thêm quyền lực và ảnh hưởng. Họ phát minh một mẫu hình y khoa của “tình yêu bình thường”, trong đó người đàn ông và phụ nữ khỏe mạnh tận hưởng tình dục như một phần của “lý tưởng mới về mối quan hệ nam nữ, bao gồm sự gợi dục cần thiết, tất yếu, bình thường”. Hình mẫu này cũng có một bản trái ngược, đó là “Kẻ biến thái thời Victoria”, hàm chỉ tất cả những ai khác với chuẩn mực xã hội. Sự đối ngược căn bản của các giới tính là nền tảng cho những thu hút tình dục bình thường và lành mạnh. “Sự chú ý đối với những bất thường về tình dục tạo ra nhu cầu đặt tên cho những chuẩn tình dục thông thường, để dễ dàng tách bạch những người nam và nữ bình thường với thứ lệch lạc ấy.” Sự tạo thành khái niệm dị tính củng cố sự tồn tại trong xã hội của những trải nghiệm dị tính đã có tự trước và đặt ra ý niệm về tính tiêu chuẩn được bảo đảm, xác thực của nó.

Góc nhìn tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Tôn giáo và tính dục

Marcantonio Franceschini - Adam and Eve - 316 - Mauritshuis.jpg

Nhiều tôn giáo khởi nguồn từ Abraham tin rằng Adam và Eva là cặp đôi loài người đầu tiên và là tổ tiên của nhân loại.

Trong đạo Hindu, Shinvalingam (dương vật của Shiva) và Yoni (tử cung của Shakti) thường được tôn thờ như một biểu tượng dị tính của quyền lực tối thượng

Truyền thống Do Thái – Cơ Đốc có một số đoạn kinh liên quan tới dị tính luyến ái. Sách Sáng thế nói rằng Chúa tạo ra phụ nữ bởi “Đàn ông một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho hắn một trợ tá tương xứng với hắn”, sách Sáng Thế  2:18 (bản của vua James) và rằng “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt,” sách Sáng thế 2:24 (bản của vua James). Trong I Cô-rinh-tô (I Corinthians), người Cơ Đốc giáo được răn rằng:

Bây giờ, tôi đề cập tới những điều anh em đã viết cho tôi: đàn ông không gần đàn bà là điều tốt. Nhưng để tránh hiểm họa dâm ô, thì mỗi người hãy có vợ có chồng. Chồng hãy làm tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy. Vợ không có quyền trên thân xác mình, nhưng là chồng; cũng vậy, chồng không có quyền trên thân xác mình, nhưng là vợ. Vợ chồng đừng từ chối nhau, trừ phi hai người đồng ý sống như vậy trong một thời gian để chuyên lo cầu nguyện; rồi hai người lại ăn ở với nhau, kẻo vì hai người không tiết dục nổi mà Xa-tan lợi dụng để cám dỗ. Điều tôi nói đó là một sự nhân nhượng chứ không phải là một mệnh lệnh. (bản Quốc tế mới)

Phần lớn những truyền thống tôn giáo trên thế giới dành từ hôn lễ cho sự kết hợp dị tính, nhưng cũng có những ngoại lệ, trong đó có một số truyền thống Phật giáoHindu giáo, người theo Phổ Quát Nhất Thể giáo, Giáo hội Cộng đồng Metropolitan, một số giáo khu Anh giáo, một số giáo đoàn của: Giáo Hữu Hội, Giáo hội Canada, Do Thái giáo cải cách và bảo thủ.

Hầu hết các tôn giáo tin rằng quan hệ tình dục giữa người đàn ông và phụ nữ được cho phép, nhưng có một số tôn giáo tin rằng đó là tội lỗi, như người Shaker, Hiệp hội hòa bình, và Tu viện Ephrata. Những tôn giáo này thường coi tất cả mối quan hệ thể xác là tội lỗi, và đề xướng việc thề sinh sống độc thân. Một số tôn giáo yêu cầu phải sống độc thân cho một số chức vụ, chẳng hạn như linh mục Công giáo, tuy nhiên, Giáo hội Công giáo cũng coi việc kết hôn dị tính là thiêng liêng và cần thiết.[6]

Định chuẩn hóa dị tính và tư tưởng thượng tôn dị tính[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Phong trào cựu đồng tính, Tổ chức dị tính vì một môi trường đạo đức và Hiệp hội quốc gia về nghiên cứu và liệu pháp cho đồng tính luyến ái

Hình ảnh thường được in trên áo phông Lễ Tự hào Dị tính.

Định chuẩn hóa dị tính biểu thị hoặc liên quan tới quan điểm đề xướng dị tính luyến ái là chuẩn mực hay được ưu ái hơn của con người. Quan điểm này có thể áp đặt những vai trò giới nghiêm ngặt cho nam và nữ giới. Khái niệm này được phổ biến bởi Michael Warner vào năm 1991[7]. Nhiều học giả về giới và tính dục lập luận rằng dị tính bắt buộc, việc khẳng định những chuẩn mực dị tính lặp đi lặp lại liên tục, là một khía cạnh của  thượng tôn dị tính. Dị tính luyến ái bắt buộc là tư tưởng mà dị tính ở nữ giới bị áp đặt và củng cố bởi xã hội phụ hệ. Dị tính luyến ái khi ấy được nhìn nhận như xu hướng hay nghĩa vụ tự nhiên của hai giới tính. Vì vậy, những ai khác biệt với tiêu chuẩn dị tính bị coi là lệch lạc, ghê tởm.

Tư tưởng thượng tôn dị tính là một dạng thiên vị hay kì thị có lợi cho tính hướng và mối quan hệ khác giới. Tư tưởng này có thể bao gồm nhận định rằng tất cả mọi người đều là người dị tính và có thể bao gồm nhiều kiểu kì thị với người đồng tính nam và nữ, người song tính, người vô tính, người dị tính linh hoạt, hay người chuyển giới và các cá nhân phi nhị nguyên giới.

Lễ tự hào dị tính là một khẩu hiệu nổi lên trong cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, được sử dụng chủ yếu bởi các hội nhóm xã hội bảo thủ như là một lập trường và chiến lược chính trị. Khái niệm này được mô tả là phản hồi cho tự hào đồng tính,cụm từ được dùng bởi nhiều hội nhóm LGBT vào đầu những năm 1970 hoặc những nơi cho phép tổ chức các phong trào tự hào đồng tính.[8]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trang 188 “Nhiều người tin rằng sự mang thai có thể xảy ra khi xuất tinh ngoài…”
  2. ^ a ă 7. “Không có bằng chứng chắc chắn nào có thể nêu lên nguyên do cụ thể của đồng tính luyến ái; tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu đồng ý rằng những yếu tố về sinh học và xã hội ảnh hưởng tới quá trình hình thành xu hướng tính dục.”
  3. ^ a ă 8. “Phần đông các tổ chức sức khỏe và sức khỏe tâm lí không nhìn nhận rằng xu hướng tính dục là một lựa chọn.”
  4. ^ 24. Bogaert lập luận rằng: “Độ phổ biến của đồng tính nam đang gây tranh cãi. Một ước tính ban đầu được trình diện nhiều là 10% (ví dụ, Marmor, 1980; Voeller,1990). Một số dữ liệu gần đây thể hiện bằng chứng ủng hộ ước tính này (Bagley và Tremblay, 1998), thế nhưng những lần lấy mẫu thử quốc gia trên diện rộng gần đây chỉ ra rằng độ phổ biến của đồng tính ở nam trong xã hội phương Tây hiện đại, bao gồm Hoa Kì, thấp hơn ước tính ban đầu này (ví dụ, 1-2% trong nghiên cứu của Billy và những người khác, 1993; 2-3% trong nghiên cứu của Laumann và những người khác, 1994; 6% trong nghiên cứu của Sell và những người khác, 1995; 1-3% trong nghiên cứu của Wellings và những người khác, 1994). Tuy nhiên ta cũng ghi nhận rằng đồng tính luyến ái được định nghĩa khác nhau trong những nghiên cứu này. Ví dụ, một số nghiên cứu sử dụng hành vi đồng tính chứ không phải thu hút đồng tính làm định nghĩa của đồng tính luyến ái (ví dụ, trong nghiên cứu của Billy và những người khác, 1993); nhiều nhà nghiên cứu tính dục (ví dụ, Bailey cùng một số người khác, 2000; Bogaert, 2003; Money, 1988; Zucker và Bradley,1995) giờ nhấn mạnh sự thu hút hơn là những hành động rõ ràng khi khái niệm hóa xu hướng tính dục.” (trang 33) Và còn “… độ phổ biến của đồng tính luyến ái ở nam giới (cụ thể là thu hút đồng tính) thay đổi theo thời gian và theo các xã hội (và vì vậy mà là một “mục tiêu di động”) một phần là do hai tác nhân: (1) sự khác biệt giữa tỉ lệ sinh hay số người trong gia đình; và (2) ảnh hưởng của thứ tự sinh anh em trai. Hơn nữa, dù cho có được đo lường ở một quốc gia tại một thời điểm, tỉ lệ đồng tính luyến ái ở nam giới có thể thay đổi và không thể khái quát chung cho các thời kì hay các xã hội.” (trang 33)
  5. ^ a ă 44. “Sự linh hoạt tính dục là sự linh hoạt phụ thuộc vào tình huống ở khả năng phản hồi về tình dục của một người, khiến cho một vài cá nhân có thể có ham muốn với nam hoặc nữ ở một số trường hợp, dù người đó có xu hướng tính dục chung thế nào… Chúng tôi dự đoán ở tất cả các nền văn hóa phần lớn các cá nhân có khuynh hướng về tình dục duy chỉ với người khác giới (là dị tính) và chỉ một thiểu số các cá nhân có khuynh hướng về tình dục (dù có duy chỉ hay không) với người đồng giới.” “Xu hướng tính dục là một phần sâu kín của căn tính cá nhân và thường thì khá ổn định. Bắt đầu với những cảm xúc nhục dục thuở ban đầu, phần đông mọi người nhớ việc cảm thấy thu hút với người hoặc khác giới hoặc đồng giới. […] Sự thật rằng xu hướng tính dục thường khá ổn định không loại trừ khả năng ở một số người hành vi tình dục có thể thay đổi xuyên suốt quãng đời họ.” “Nghiên cứu chỉ ra rằng xu hướng tính dục của nữ giới có nhiều khả năng thay đổi hơn nam giới một chút (Baumeister 2000; Kinnish cùng những người khác, 2005). Khái niệm cho rằng xu hướng tính dục có thể thay đổi theo thời gian được gọi là linh hoạt tính dục. Cho dù linh hoạt tính dục có xảy ra với một số phụ nữ, điều đó không có nghĩa rằng phần lớn phụ nữ sẽ thay đổi tính dục khi lớn tuổi hơn – thực ra, tính dục ở phần lớn mọi người thường ổn định theo thời gian.”
  6. ^ a ă â 50. ”Cốt lõi của mỗi gia đình là một cặp đôi dị tính nuôi con họ tới tuổi trưởng thành – gọi là gia đình hạt nhân.”
  7. ^ 60. “Không quá ngạc nhiên, những cá nhân trên bục tự hào không chỉ bị chỉ trích bởi người dị tính mà còn bởi nhiều cá nhân LGBT khác, những người không thoải mái khi áp đặt số đông phải cùng chịu sự không thoải mái. Những cá nhân dị tính có thể thể hiện sự bối rối với khái niệm “lễ tự hào đồng tính”, phản bác rằng họ không bàn về ‘lễ tự hào dị tính.’
  8. ^ 59. “Một chiến thuật khá mới được dùng để phản đối chống lại sự hiện diện của những người đồng tính nữ/song tính/đồng tính nam/chuyển giới chính là chiến lược ‘lễ tự hào dị tính.’ ”