Yếu tố môi trường trong thiên hướng tình dục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên hướng tình dục
Thiên hướng
Dị tính luyến ái
Đồng tính luyến ái
Song tính luyến ái
Vô tính
Nghiên cứu
Thống kê
Yếu tố sinh học
Yếu tố môi trường
Số lượng anh trai
Đặc điểm tay thuận
Thang Kinsey
Lưới Klein
Tình dục học
Danh sách
Gay flag.svg Chủ đề:Đồng tính,
song tính và hoán tính

Sexes-planetary-sym-dimcolors.svg Chủ đề:Tình dục

Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến quá trình hình thành thiên hướng tình dục đã được nghiên cứu. Tuy nhiên, không có nguyên nhân đơn lẻ nào trong quá trình hình thành thiên hướng tình dục từng được chứng minh. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cả hai [yếu tố sinh học trong thiên hướng tình dục|yếu tố sinh học]] và yếu tố môi trường đều có những ảnh hưởng phức tạp đối với việc hình thành đồng tính, song tính.[1][2] Viện Nhi khoa Hoa KỳHiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ đều khẳng định rằng có nhiều nguyên nhân hình thành nên thiên hướng tình dục.[3][4]

Vài nhà khoa học xếp yếu tố hoócmôn bào thai là một dạng yếu tố môi trường[5] trong khi một số nhà khoa học khác thì phân biệt hai yếu tố này.[3]

Đồng tính chủ yếu do ảnh hưởng từ xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người nghĩ đồng tính là bẩm sinh và do gen quyết định. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Peter BearmanHannah Bruckner, từ Đại học ColumbiaĐại học Yale, khi nghiên cứu dữ liệu từ Trung tâm Y tế quốc gia vị thành niên, cho biết xác suất cả 2 người trong cặp song sinh đều là đồng tính chỉ là 6,7% với nam và 5,3% với nữ. Họ kết luận: kiểu gen chỉ là một trong những nguồn gốc của đồng tính luyến ái, những nguyên nhân khác như ảnh hưởng từ văn hóa, xã hội và gia đình với trẻ em đóng vai trò quan trọng hơn[6]

Giáo sư Peter Sprigg từ Hội đồng nghiên cứu gia đình khẳng định: các nghiên cứu chặt chẽ về các cặp song sinh giống hệt nhau đã làm lập luận “gien đồng tính” là điều không thể. Tám nghiên cứu lớn và hơn nữa từ khắp nơi trên thế giới đã tìm thấy nguyên nhân chủ yếu của đồng tính không phải là do di truyền, mà là là do sự nuôi dưỡng trẻ em. Với những bằng chứng này, Sprigg đơn giản nói: “Không ai sinh ra đã là đồng tính”. Nhà tâm thần học William ByneBruce Parsons tóm tắt: đồng tính luyến ái là một sai lệch tâm lý do môi trường sống, không phải sinh ra đã là như vậy[7].

Tiến sĩ Neil Whitehead cho biết: "Tại mức cao nhất, di truyền chỉ là một yếu tố nhỏ (trong việc hình thành đồng tính)”. Một nghiên cứu rất lớn và đáng tin cậy về song sinh giống hệt nhau ở Úc năm 1991 và năm 1997. Sau đó Úc và Mỹ tiến hành thêm nghiên cứu nơi các bé sinh đôi năm 2000, tiếp theo là một vài nghiên cứu ở Scandinavia. Những nghiên cứu cho thấy: điều chủ yếu gây nên đồng tính phải là "những yếu tố sau khi sinh ra" chứ không phải do bẩm sinh. Khoảng một nửa số đồng tính/lưỡng tính đã từ bỏ quan hệ đồng tính và chuyển sang thích giao hợp với người khác giới trong đời của họ[8]

Nhà nghiên cứu Lisa Diamond, khi xem xét các nghiên cứu về xác định tình dục đồng tính và song tính của nữ, đã tìm thấy rằng "sự thay đổi và tính linh động trong tình dục đồng giới, nó mâu thuẫn với mô hình thông thường cho rằng đồng tính là cố định và bẩm sinh"[9] Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy các hành vi không phù hợp với giới tính ở trẻ em là chỉ báo lớn nhất của tình dục đồng giới ở tuổi trưởng thành[10][11][12][13] Dary Bem cho thấy rằng một số trẻ em khi chứng kiến hành vi tình dục đồng tính có thể bị gợi lên kích thích sinh lý, mà sau này sẽ được chuyển thành kích thích tình dục. Peter Bearman cho rằng những phát hiện của ông ủng hộ giả thuyết rằng hành vi giới tính trong thời thơ ấu và thiếu niên sẽ góp phần hình thành quan hệ đồng tính ở tuổi trưởng thành. Ngoài những tác động cá nhân, cấu trúc xã hội và những ảnh hưởng từ văn hóa xã hội cũng góp phần tạo ra sự thu hút đồng tính.[10]

Tác giả của một công trình nghiên cứu lớn về đồng tính năm 2014, Alan Sanders, tuyên bố rằng "những đặc điểm phức tạp của khuynh hướng tình dục (bao gồm đồng tính) phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ cả di truyền lẫn ảnh hưởng từ môi trường sống."[14] Nhà nghiên cứu McConaghy (năm 2006) cho thấy không có mối quan hệ giữa mức độ xúc cảm đồng tính với hành vi đồng tính luyến ái, dẫn ông đến kết luận rằng ảnh hưởng của thứ tự sinh về mức độ xúc cảm đồng tính không phải do yếu tố sinh học, mà đó là một quá trình ảnh hưởng từ xã hội.[15]

Năm 2010, nghiên cứu của trường Queen MaryViện Nghiên cứu KarolinskaStockholm đã theo dõi 3.826 cặp song sinh cùng trứng và nhận thấy: dù có bộ gen giống hệt nhau, tỷ lệ số cặp song sinh cùng là đồng tính khi trưởng thành là rất thấp. Nghiên cứu kết luận: môi trường sống không chia sẻ là yếu tố đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành đồng tính luyến ái, trong khi yếu tố bẩm sinh chỉ có vai trò nhỏ tới trung bình. Cụ thể, ảnh hưởng từ di truyền chiếm 34-39%, ảnh hưởng từ môi trường sống không chia sẻ lên mỗi cá nhân (đã loại bỏ các yếu tố môi trường chia sẻ) chiếm 61-66% trong việc hình thành đồng tính nam, tỷ lệ tương ứng đối với đồng tính nữ là 18% và 80%[16][17]

Không phù hợp giới tính thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng không phù hợp giới tính thời thơ ấu (childhood gender nonconformity) là yếu tố tiên đoán tốt nhất đồng tính luyến ái ở người lớn.[18][19] Daryl Bem đề xuất rằng vài trẻ em thích các hoạt động tiêu biểu của giới tính đối lập. Các trẻ phù hợp giới tính cảm thấy khác với những trẻ có giới tính đối lập với mình trong khi những trẻ không phù hợp giới tính lại cảm thấy khác với những trẻ cùng giới tính với mình. Do đó trẻ có thể cảm thấy bị kích thích sinh lý khi gần người mà trẻ cho là "khác" với mình. Những kích thích sinh lý này sau đó sẽ chuyển thành ham muốn tình dục. Các nhà nghiên cứu cho rằng sự không phù hợp giới tính từ nhỏ có thể là do kiểu gen, hoócmôn giai đoạn bào thai, cá tính, cách chăm sóc của cha mẹ và các yếu tố môi trường khác. Peter Bearman chỉ ra rằng trẻ trai sinh đôi cùng với một trẻ gái có khả năng bị hấp dẫn cùng giới gấp hai lần trừ khi trẻ có thêm một người anh. Ông ta nói sự phát hiện này đã ủng hộ giả thuyết rằng hòa nhập theo giới tính (gender socialization) kém thời thơ ấu và thiếu niên sẽ hình thành sự ưa thích tình cảm đồng giới. Ông đề xuất rằng cha mẹ của những cặp sinh đôi nam nữ thường đối xử trung tính với chúng, song một người anh trai nếu có sẽ giúp hình thành cơ chế hòa nhập theo giới tính cho người em trai.[10]

Ảnh hưởng từ gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà nghiên cứu có bằng chứng cho thấy người đồng tính nam có người cha ít yêu thương và ít quan tâm hơn đồng thời thân thiết với mẹ hơn là người nam không đồng tính.[20] Họ cho rằng từ điều này có thể kết luận rằng yếu tố gia đình thời thơ ấu là nhân tố quan trọng của đồng tính luyến ái[21] hoặc cha mẹ cố tình đối xử với con như vậy để sửa một đặc tính về mặt giới tính nào đó của con.[22][23] Michael Ruse cho rằng cả hai khả năng trên là đúng trong nhiều trường hợp khác nhau.[24]

Theo một nghiên cứu đối với 275 người nam trong quân đội Đài Loan, Shu và Lung kết luận rằng "sự ít bảo bọc của người cha và sự quan tâm của người mẹ là nhân tố chính hình thành sự đồng tính ở nam giới". Những yếu tố chính hình thành đồng tính luyến ái là "sự ít gắn bó với người cha, cuộc sống nội tâm và đặc thù thần kinh".[25] Một nghiên cứu báo cáo rằng người đồng tính nam sớm thân thiết với mẹ hơn những người đồng tính nữ.[26] Một nghiên cứu năm 2000 đối với các cặp sinh đôi người Mỹ cho thấy yếu tố gia đình, ít nhất là một phần của kiểu gen, ảnh hưởng đến thiên hướng tình dục.[27]

Có nghiên cứu cho thấy người đồng tính nam có nhiều đáng kể anh chị em hơn người đồng tính nữ. Người đồng tính nữ có nhiều đáng kể anh chị em hơn người nam dị tính.[28] Một nghiên cứu năm 2006Đan Mạch so sánh những người kết hôn đồng tính và những người kết hôn dị tính. Người kết hôn dị tính thường có cha mẹ trẻ, cha mẹ chênh lệch ít tuổi, có mối quan hệ ổn định với cha mẹ, large sibships và là em trong gia đình. Những người có cha mẹ ly hôn thường ít kết hôn dị tính hơn những người có cha mẹ hạnh phúc. Người nam kết hôn đồng tính thường có mẹ lớn tuổi, cha mẹ ly hôn, cha đi vắng hoặc là con út. Người nữ kết hôn đồng tính thường mồ côi mẹ ở tuổi thanh niên, là con một hay con út hoặc con gái duy nhất trong gia đình.[21]

Con nuôi của cặp đồng tính[sửa | sửa mã nguồn]

Các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học như Kirk Patrick, Susan Golombok, Ann Spencer, Michael Rutter, Richard Green... cho biết: Khi nghiên cứu các cặp sinh đôi và con nuôi của các cặp đồng tính nữ, bằng chứng cho thấy thiên hướng tình dục là kết quả tác động phức tạp từ cả yếu tố sinh học và yếu tố môi trường và sự nuôi dạy. Các nghiên cứu này đã tìm thấy sự liên hệ về việc phát triển thiên hướng tình dục của trẻ em theo chiều hướng tương tự như cha mẹ nuôi của chúng, có nghĩa là nếu cha mẹ nuôi là người đồng tính thì khả năng đứa trẻ có hành vi đồng tính sẽ tăng lên.[29][30][31]

Một nghiên cứu mới vào năm 2012 của Mark Regnerus, giáo sư tại Đại học Texas được đăng trên Tạp chí nghiên cứu xã hội Hoa Kỳ đã cung cấp thêm nhiều thông tin về vấn đề này. Nghiên cứu khảo sát 15.000 thanh niên, khảo sát kỹ 3.000 thanh niên trong đó 175 được nuôi lớn bởi người đồng tính nữ và 73 bởi người đồng tính nam. Kết quả cho thấy: trong ngắn hạn, các cặp đồng tính có thể nuôi con tốt như vợ chồng thông thường; nhưng về dài hạn, sự khiếm khuyết về giới tính (thiếu vắng cha hoặc mẹ để nuôi dạy đứa trẻ) là không thể khắc phục được, và con nuôi của họ khi bước vào tuổi thành niên sẽ có tỷ lệ quan hệ đồng tính cao hơn, cụ thể[32]:

Áp phích của Phong trào Bảo vệ trẻ em của chúng ta tại Mỹ
Vấn đề gặp phải Con nuôi cặp đồng tính nữ Con nuôi cặp đồng tính nam Gia đình thông thường
Phải điều trị tâm lý gần đây 19% 19% 9%
Có quan hệ đồng tính 7% 12% 2%
Bị cưỡng ép quan hệ tình dục 31% 25% 11%

Nghiên cứu trên của Mark Regnerus nhận được sự ủng hộ của Trường Cao đẳng nhi khoa Hoa Kỳ, một tổ chức quốc gia của các bác sĩ nhi khoa và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và giáo dục dành cho trẻ em. Hội đồng Nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ đã có bài phân tích ủng hộ nghiên cứu và cho biết: nhờ mẫu thống kê lớn nên nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng cho biết về tình trạng của trẻ em trong gia đình đồng tính về dài hạn, cũng như bản chất "bất ổn định" của cặp đồng tính. Nghiên cứu này đã xóa tan những ngộ nhận về việc "cha mẹ đồng tính không khác cha mẹ thường". Kết quả của nó tương đồng với nghiên cứu của các chuyên gia nghiên cứu chính sách gia đình, và không có gì đáng ngạc nhiên khi nghiên cứu này bị tấn công quyết liệt các nhà hoạt động ủng hộ đồng tính[33]

Mặt khác, trong cuốn sách "Lớn lên trong một gia đình đồng tính nữ: Tác động với sự phát triển trẻ em", 2 tiến sĩ Fiona TaskerSusan Golombok, quan sát thấy rằng 25% những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính cũng đã tham gia vào một mối quan hệ đồng tính, so với xấp xỉ 0% ở những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ bình thường[34]

Tiến sĩ Trayce Hansen cho biết: "Nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội, mặc dù không dứt khoát, cho thấy rằng trẻ em nuôi bởi các cặp đồng tính có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi đồng tính hơn so với các trẻ em khác. Các nghiên cứu cho đến nay cho thấy khoảng 8% đến 21% con nuôi của các cặp đồng tính cuối cùng cũng sẽ trở thành đồng tính. Để so sánh, tạm cho khoảng 2% dân số nói chung là đồng tính. Do đó, nếu các tỷ lệ này được xác minh kĩ, con nuôi của các cặp đồng tính có khả năng phát triển thành đồng tính cao hơn 4 đến 10 lần so với những đứa trẻ khác."

Số lượng anh trai[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nhiều nhiên cứu, có thêm một người anh trai sẽ tăng khả năng là đồng tính lên 28%–48%.[35][36][37][38] Hiệu ứng anh trai chiếm khoảng 1/7 trong số người đồng tính nam.[39] Không có sự tương quan giữa số chị gái và sự đồng tính của một người nữ.[40]

Môi trường văn hóa, xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức tình dục xã hội (Social Organization of Sexuality) ở Hoa Kỳ phát hiện đồng tính luyến ái có tương quan với sự đô thị hóa của nơi ở của đối tượng lúc 14 tuổi. Sự tương quan ở nam cao hơn ở nữ. Các tác giả giả thuyết rằng "Ở các thành phố lớn có một môi trường thông cảm đối với sự hình thành và thể hiện mối quan hệ đồng tính".[41][42]

Ở Đan Mạch, người sinh ra ở khu vực thủ đô có khả năng kết hôn dị tính thấp hơn và khả năng kết hôn đồng tính cao hơn người đồng trang lứa ở thôn quê.[21]

Khuôn mẫu tình dục của mỗi cá nhân là một sản phẩm của văn hóa xã hội. Những xã hội có xu hướng chấp nhận đồng tính thì sẽ có nhiều cá nhân có khuynh hướng đồng tính hơn. Tại Mỹ, đã có sự gia tăng số phụ nữ cảm thấy thu hút đồng tính. Nhà nghiên cứu Binnie Klein cho rằng "rõ ràng là một sự thay đổi trong xu hướng tình dục trong tâm trí nhiều người hơn hơn bao giờ hết, và có nhiều cơ hội hơn - và sự chấp nhận - để vượt qua làn ranh (về giới tính)"[43] Toni Meyer, nhà nghiên cứu cao cấp của Hội đồng Chính sách gia đình bang New Jersey (Mỹ), cho biết: cùng với phong trào ủng hộ đồng tính lên cao, từ năm 1994, số đồng tính nam (ở Mỹ) đã tăng 18%, và số lượng đồng tính nữ còn tăng tới 157%. Điều này cho thấy những yếu tố văn hóa có tác động mạnh mẽ trong việc khuyến khích các hành vi đồng tính, và ít nhất là gián tiếp, làm suy yếu toàn bộ lý thuyết về việc "đồng tính là bẩm sinh".

Chấn thương tâm lý[sửa | sửa mã nguồn]

Việc bị chấn thương tâm lý do bị lạm dụng tình dục cũng là một yếu tố. Một nghiên cứu trong Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ phát hiện ra rằng "vị thành niên bị lạm dụng tình dục, đặc biệt là nam giới, có khả năng tự nhận mình là người đồng tính hay song tính cao gấp 7 lần so với những người không bị lạm dụng"[44] Một nghiên cứu khác cho thấy rằng "46% nam đồng tính so với 7% của nam dị tính báo cáo rằng đã bị lạm dụng tình dục. Con số này tương ứng là 20% trong số đồng tính nữ so với 1% ở nữ dị tính"."[45]

Sigmund Freud và các nhà tâm lý học khác xác nhận rằng sự hình thành thiên hướng tình dục do nhiều nhân tố, trong đó có các sự việc quá khứ xảy ra trong thời thơ ấu. Tiến sĩ tâm lý học nổi tiếng người Tây Ban Nha là Enrique Rojas thì cho rằng: 95% nguyên nhân dẫn tới đồng tính là do các yếu tố môi trường như sự thiếu vắng quan tâm của người cha, người mẹ hung dữ hoặc bị lạm dụng tình dục trong thời thơ ấu.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ American Psychological Association Answers to Your Questions For a Better Understanding of Sexual Orientation & Homosexuality -

    There is no consensus among scientists about the exact reasons that an individual develops a heterosexual, bisexual, gay, or lesbian orientation. Although much research has examined the possible genetic, hormonal, developmental, social, and cultural influences on sexual orientation, no findings have emerged that permit scientists to conclude that sexual orientation is determined by any particular factor or factors. Many think that nature and nurture both play complex roles; most people experience little or no sense of choice about their sexual orientation.

  2. ^ “Gay, Lesbian and Bisexual Issues”. Association of Gay and Lesbian Psychiatrics. May năm 2000. 

    No one knows what causes heterosexuality, homosexuality, or bisexuality.... there is a renewed interest in searching for biological etiologies for homosexuality. However, to date there are no replicated scientific studies supporting any specific biological etiology for homosexuality.

  3. ^ a ă “Sexual Orientation and Adolescents” (PDF), American Academy of Pediatrics Clinical Report, truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2007 
  4. ^ “Answers to Your Questions About Sexual Orientation and Homosexuality”, American Psychological Association, truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2007 
  5. ^ Långström, Niklas; Qazi Rahman, Eva Carlström, Paul Lichtenstein. (7 June 2008). “Genetic and Environmental Effects on Same-sex Sexual Behaviour: A Population Study of Twins in Sweden”. Archives of Sexual Behavior (Archives of Sexual Behaviour). doi:10.1007/s10508-008-9386-1. PMID 18536986. 
  6. ^ "Opposite-Sex Twins and Adolescent Same-Sex Attraction," American Journal of Sociology Vol. 107, No. 5, (March 2002). The University of Chicago. P. 1179-1205.
  7. ^ https://www.lifesitenews.com/news/for-the-first-time-a-majority-of-americans-believe-homosexuals-are-born-tha
  8. ^ http://beforeitsnews.com/alternative/2015/01/scientifically-proven-homosexuality-is-not-genetic-20-years-of-research-more-than-10000-scientific-papers-3095666.html
  9. ^ Diamond, Lisa (2003). “Was it a phase? Young women's relinquishment of lesbian/bisexual identities over a 5-year period”. Journal of Personality and Social Psychology 84 (2): 352–364. doi:10.1037/0022-3514.84.2.352. 
  10. ^ a ă â Bearman, Peter; Brückner, Hannah (2002). Opposite-sex twins and adolescent same-sex attraction (PDF) 107. American Journal of Sociology. tr. 1179–1205. 
  11. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Bem2008
  12. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Rieger
  13. ^ Bailey, J.M.; Zucker, K.J (1995). “Childhood sex-typed behavior and sexual orientation: A conceptual analysis and quantitative review”. Developmental Psychology 31 (1): 43–55. doi:10.1037/0012-1649.31.1.43. 
  14. ^ Coghlan, Andy (17 tháng 11 năm 2014). “Largest study of gay brothers homes in on 'gay genes'”. Psychological Medicine,. doi:10.1017/S0033291714002451.  Đã bỏ qua tham số không rõ |access-date= (gợi ý |accessdate=) (trợ giúp)
  15. ^ McConaghy N, Hadzi-Pavlovic D, Stevens C, Manicavasagar V, Buhrich N, Vollmer-Conna U (2006). “Fraternal birth order and ratio of heterosexual/homosexual feelings in women and men”. J Homosex 51 (4): 161–74. doi:10.1300/J082v51n04_09. PMID 17135133. 
  16. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên sciencedaily.com
  17. ^ Långström N, Rahman Q, Carlström E, Lichtenstein P (tháng 2 năm 2010). “Genetic and environmental effects on same-sex sexual behavior: a population study of twins in Sweden”. Arch Sex Behav 39 (1): 75–80. doi:10.1007/s10508-008-9386-1. PMID 18536986. . Trích: Biometric modeling revealed that, in men, genetic effects explained .34–.39 of the variance [of sexual orientation], the shared environment .00, and the individual-specific environment .61–.66 of the variance. Corresponding estimates among women were .18–.19 for genetic factors, .16–.17 for shared environmental, and .64–.66 for unique environmental factors. Although wide confidence intervals suggest cautious interpretation, the results are consistent with minor to moderate, primarily genetic, familial effects, and moderate to large effects of the nonshared environment (social and biological) on same-sex sexual behavior
  18. ^ {{cite journal |last=Bailey |first=J.M. |coauthor = Zucker, K.J |year=1995 |url=http://content.apa.org/journals/dev/31/1/43 |title=Childhood sex-typed behavior and sexual orientation: A conceptual analysis and quantitative review |publisher=Developmental Psychology |volume=31 |pages=43–55}}
  19. ^ Rieger G, Linsenmeier JA, Gygax L, Bailey JM (Jan năm 2008). “Sexual orientation and childhood gender nonconformity: evidence from home videos”. Dev Psychol 44 (1): 46–58. doi:10.1037/0012-1649.44.1.46. PMID 18194004. 
  20. ^ Bell, Weinberg, & Parks, 1981; Bieber et al., 1962; Braatan & Darling, 1965; Brown, 1963; Evans, 1969; Jonas, 1944; Millic & Crowne, 1986; Nicolosi, 1991; Phelan, 1993; Biggio, 1973; Seutter & Rovers, 2004; Siegelman, 1974; Snortum, 1969; Socarides, 1978; West, 1959).
  21. ^ a ă â Frisch M, Hviid A (Oct năm 2006). “Childhood family correlates of heterosexual and homosexual marriages: a national cohort study of two million Danes”. Arch Sex Behav 35 (5): 533–47. doi:10.1007/s10508-006-9062-2. PMID 17039403. 
  22. ^ Isay, Richard A. (1990). Being homosexual: Gay men and their development. HarperCollins. ISBN 0380710226.
  23. ^ Isay, Richard A. (1996). Becoming gay: The journey to self-acceptance. New York, Pantheon. ISBN 0679421599.
  24. ^ Ruse, Michael Homosexuality: a philosophical inquiry (1988) ISBN 0-631-17553-9
  25. ^ Lung, F.W. (2007). “Father-son attachment and sexual partner orientation in Taiwan”. Comprehensive Psychiatry 48: 20–6. doi:10.1016/j.comppsych.2006.08.001. 
  26. ^ Ridge SR, Feeney JA (Dec năm 1998). “Relationship history and relationship attitudes in gay males and lesbians: attachment style and gender differences”. Aust N Z J Psychiatry 32 (6): 848–59. doi:10.3109/00048679809073875. PMID 10084350. 
  27. ^ Kendler KS, Thornton LM, Gilman SE, Kessler RC (Nov năm 2000). “Sexual orientation in a U.S. national sample of twin and nontwin sibling pairs”. Am J Psychiatry 157 (11): 1843–6. doi:10.1176/appi.ajp.157.11.1843. PMID 11058483. 
  28. ^ Bogaert AF (Feb năm 2005). “Sibling sex ratio and sexual orientation in men and women: new tests in two national probability samples”. Arch Sex Behav 34 (1): 111–6. doi:10.1007/s10508-005-1005-9. PMID 15772774. 
  29. ^ Kirk Patrick M, Smith C, Roy R (July năm 1981). “Lesbian mothers and their children: a comparative survey”. Am J Orthopsychiatry 51 (3): 545–51. PMID 7258320. 
  30. ^ Susan Golombok, Ann Spencer and Michael Rutter (October năm 1983). “Children in lesbian and single-parent households: psychosexual and psychiatric appraisal”. J Child Psychol Psychiatry 24 (4): 551–72. doi:10.1111/j.1469-7610.1983.tb00132.x. PMID 6630329. 
  31. ^ Green R, Mandel JB, Hotvedt ME, Gray J, Smith L (April năm 1986). “Lesbian mothers and their children: a comparison with solo parent heterosexual mothers and their children”. Arch Sex Behav 15 (2): 167–84. doi:10.1007/BF01542224. PMID 3718205. 
  32. ^ http://www.baylorisr.org/wp-content/uploads/Regnerus.pdf
  33. ^ Sprigg, Peter. “Family Research Council”. Frc.org. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2015. 
  34. ^ Growing up in a lesbian family: effects on child development. Fiona L. Tasker, Susan Golombok. Guilford Press, 1997. ISBN 1-57230-412-X. P 111
  35. ^ Blanchard, R., Zucker, K.J., Siegelman, M., Dickey, R. & Klassen, P. (1998). The relation of birth order to sexual orientation in men and women. Journal of Biosocial Science, 30, 511-­519.
  36. ^ Ellis, L. & Blanchard, R. (2001). Birth order, sibling sex ratio, and maternal miscarriages in homosexual and heterosexual men and women. Personality and Individual Differences, 30, 543-552.
  37. ^ Blanchard, R. (2001). Fraternal birth order and the maternal immune hypothesis of male homosexuality. Hormones and Behavior, 40, 105-114.
  38. ^ Puts, D. A., Jordan, C. L., Breedlove, M. (2006). O brother, where art thou? The fraternal birth-order effect on male sexual orientation. Proceedings of the National Academy of Sciences USA, 103, 10531-10532.
  39. ^ Cantor, J. M., Blanchard, R., Paterson, A. D., & Bogaert, A. F. (2002). How many gay men owe their sexual orientation to fraternal birth order. Archives of Sexual Behavior, 31, 63-71.
  40. ^ Bogaert, A. F. (2005) Sibling sex ratio and sexual orientation in men and women: New tests in two national probability samples. Archives of Sexual Behavior, 34, 111-116.
  41. ^ Laumann, Edward O.; John H. Gagnon, Robert T. Michael, Stuart Michaels (1994). The Social Organization of Sexuality: Sexual Practices in the United States. tr. 308. ISBN 0226469573, 9780226469577 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  42. ^ Laumann, Edward; Michael, Robert; Kolata, Gina (ngày 1 tháng 9 năm 1995). Sex in America: A Definitive Survey. Grand Central Publishing. ISBN 978-0446671835. 
  43. ^ Why women are leaving men for other women
  44. ^ Holmes, William C. (2). “Sexual Abuse of Boys”. The Journal of the American Medical Association 280 (21). 
  45. ^ Tomeo, M.E.; Templer D.L. (2001). “Comparative data of childhood adolescence molestation in heterosexual and homosexual persons”. Archives of Sexual Behavior 30: 535–541.