Trang hạn chế sửa đổi (bán khóa)

Người chuyển giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Cờ của cộng đồng người Chuyển giới, trong đó màu xanh đại diện cho nam, màu hồng đại diện cho nữ, màu trắng đại diện cho người phi nhị nguyên và những người đã qua phẫu thuật định giới.

Người chuyển giới (tiếng Anh: Transgender) hay còn gọi là hoán tính, là trạng thái một người nhận dạng bản thân thuộc về một giới mà giới đó không khớp với giới tính sinh học của cơ thể.[1] Chẳng hạn, một người sinh ra với những đặc điểm giới tính của nam nhưng nhìn nhận bản thân là nữ hoặc một người sinh ra mang những đặc điểm giới tính của nữ nhưng nhìn nhận giới của mình là nam. Cảm nhận này không phụ thuộc vào việc người đó đã qua phẫu thuật định giới hay chưa. Trong trường hợp người chuyển giới đã qua phẫu thuật định giới được gọi là người chuyển giới đã qua can thiệp y tế. Bản dạng giới hoàn toàn độc lập với xu hướng tính dục. Họ có thể là người dị tính, đồng tính, song tính, toàn tính hay vô tính,... Một số khác có thể cho rằng xu hướng tính dục không đầy đủ hoặc không áp dụng đối với họ, vậy nên họ không dán nhãn cho bản thân mình.[2][3][4]

Những người chuyển giới được mô tả là những người khi sinh ra đã mang sắn một giới tính sinh học (dựa vào các đặc điểm giới tính như bộ phận sinh dục, cơ quan sinh sản, nhiễm sắc thể giới tínhnội tiết tố sinh dục để xác định), nhưng tâm lý của những người này cảm nhận rằng giới của họ không trùng khớp với giới tính sinh học của họ. Không phải tất cả những người chuyển giới đều muốn qua can thiệp y tế, mặc dù một số khác thì cảm thấy mong muốn điều này. Tuy nhiên, hầu hết những người chuyển giới đều mong muốn có thể hiện giới phù hợp với bản dạng giới của mình[5].

Người phi nhị nguyên có thể được coi là người chuyển giới, bởi họ nhìn nhận bản thân có giới mà không khớp với giới tính sinh học của mình.[6]

Những ai không phải người chuyển giới thuờng là người hợp giới.

Nguyên nhân

Năm 1980, hiện tượng chuyển giới (Transgender) đã được Hiệp hội Tâm thần học Mỹ (APA) chính thức phân loại là một dạng bệnh tâm thần, có tên gọi Rối loạn định dạng giới[7].

Người chuyển giới thì có cơ thể hoàn toàn bình thường, nhưng về mặt tâm thần của họ có những biểu hiện sau:

  • Tự cho bản thân thuộc giới tính khác: những người này hoàn toàn bình thường về giải phẫu và sinh học nhưng tự cho bản thân thuộc giới tính khác, một số tìm cách thực hiện ý định chuyển đổi giới tính bằng các phương pháp phẫu thuật và sinh hóa (tiêm Hormone).
  • Trạng thái tự cải trang quần áo để biểu lộ thành giới khác: những người này thích mặc quần áo, đi đứng nói năng như người khác giới (nam ăn mặc, nói chuyện yểu điệu như nữ và ngược lại, nữ ăn mặc và nói năng mạnh mẽ như nam) để cảm thấy mình khác biệt so với giới tính sinh học của mình.

Những trường hợp này còn gọi là Rối loạn định dạng giới (gender identity disorder). Các điều khoản chẩn đoán về chuyển giới, rối loạn định dạng giới ở thanh thiếu niên và người trưởng thành được liệt kê chung trong Bảng phân loại quốc tế về bệnh (ICD) và Thống kê các chứng rối loạn tâm thần của Hội chẩn đoán y khoa Hoa Kỳ (DSM) dưới mã số F64.0, F64.1, 302,85 và 302,6 tương ứng.[8] Trung tâm cai nghiện và Sức khỏe tâm thần Hoa Kỳ xếp rối loạn này vào Mục DSM-V, kèm với đó là phác đồ điều trị của nhóm này[9].Rối loạn định dạng giới cũng được phân loại như là một chứng rối loạn tâm thần bởi Trung tâm quốc tế về Phân loại bệnh và các vấn đề sức khỏe liên quan, biểu hiện của nó là những hành vi, thái độ chối bỏ giới tính của bản thân mình, gồm các tiêu chuẩn chẩn đoán[10]:

  • Muốn được sống và chấp nhận như một người khác giới tính, thường đi kèm với những mong muốn làm cho cơ thể, ngoại hình càng giống người khác giới càng tốt (qua trang phục, đi đứng, cách cư xử, thậm chí qua phẫu thuật chuyển giới), dù các bộ phận giới tính và sinh lý cơ thể của họ hoàn toàn bình thường và không bị dị tật.
  • Tâm lý trên tồn tại liên tục trong ít nhất hai năm.

Ước tính rằng có khoảng 0,005% đến 0,014% nam giới và 0,002% đến 0,003% nữ giới được chẩn đoán mắc chứng Rối loạn định dạng giới, dựa trên các tiêu chí chẩn đoán hiện tại[11] Rối loạn định dạng giới nếu không được phát hiện và chữa trị thì tâm lý trên sẽ trở nên mạnh hơn, bệnh nhân sẽ có những hành vi nhằm chối bỏ giới tính của cơ thể (như ăn mặc, nói năng... như người khác giới) và muốn được tiến hành phẫu thuật chuyển đổi giới tính.[12]

Tiến sĩ Paul R. McHugh – trưởng khoa tâm thần của Bệnh viện Johns Hopkins, Giáo sư tâm thần với danh hiệu phục vụ xuất sắc (Distinguished Service Professor) khẳng định: người chuyển giới (Transgenderism) là một rối loạn tâm thần và cần được điều trị, chuyển đổi giới tính thực ra là điều “không thể làm được về mặt sinh học”. Những người cổ vũ hợp pháp hóa việc phẫu thuật chuyển giới đã vô tình ủng hộ việc bệnh nhân rối loạn tâm thần tự tàn phá cơ thể mình, trong khi lẽ ra phải giúp họ tìm cách chữa trị về tâm thần. Phẫu thuật chuyển đổi giới tính không phải là cách giải quyết cho những người bị rối loạn định dạng giới. Ông nói[13]:

Những người lập chính sách và truyền thông đã không làm việc có ích cho công chúng hoặc những người nghĩ rằng giới tính của họ không đúng với thể chất. Trái lại, họ bóp méo bản chất rối loạn tâm thần của những người này thành một dạng "nhân quyền cần được bảo vệ", họ cổ vũ người chuyển giới "sống thật với bản thân", trong khi bản chất thực sự của chuyển giới là một rối loạn tâm thần cần có sự thông hiểu, điều trị và phòng ngừa.
Cảm giác mãnh liệt về việc chối bỏ giới tính cơ thể đã tạo nên một rối loạn tâm thần theo hai khía cạnh. Thứ nhất là sự không tương ứng giữa tâm lý với thực tại thể chất. Khía cạnh thứ hai là cảm giác này có thể đưa đến kết quả tâm lý rất đáng sợ: Đây là một rối loạn tâm thần gây hại tương tự như việc một người gầy ốm nhưng lại chán ăn và luôn nghĩ rằng họ bị thừa cân
Những người ủng hộ chuyển giới không muốn biết rằng những nghiên cứu cho thấy khoảng 70-80% trẻ em bộc lộ những cảm giác rối loạn giới tính đã mất đi những cảm giác này một cách tự nhiên theo thời gian. Và vì thế, chúng tôi (Bệnh viện Johns Hopkins) đã ngừng phẫu thuật chuyển giới, vì làm hài lòng một bệnh nhân tâm thần không thể là lý do biện minh cho việc cắt cụt những bộ phận bình thường của cơ thể họ.
Thay đổi giới tính vốn là điều không thể làm được về mặt sinh học. Những người phẫu thuật chuyển giới sẽ không thay đổi từ nam sang nữ hoặc ngược lại. Thực chất, họ vẫn là những người nam bị nữ hoá hoặc người nữ bị nam hoá. Các tuyên bố kiểu như "chuyển đổi giới tính là quyền dân sự" và việc hợp pháp hóa phẫu thuật chuyển giới thực ra chính là sự cổ súy cho bệnh nhân rối loạn tâm thần tự gây hại cho sức khỏe của mình."

Nghiên cứu về gen và não

Quá trình hình thành giới tính sinh học trong thế giới động vật là rất phức tạp. Có nhiều giới tính hơn chỉ là "đực" và "cái", và có nhiều loài động vật còn có hiện tượng chuyển từ giới tính nọ sang giới tính kia trong vòng đời của nó. Nhưng ở các loài động vật có vú thì hầu hết là "đực" và "cái" ("Male" hoặc "Female"). Hiện tượng về người chuyển giới này còn ít được biết đến, và có nhiều nghiên cứu - chủ yếu là nghiên cứu tâm lý học - bị bác bỏ. Tuy nhiên, các nhà khoa học có vẻ đã phát hiện ra một số yếu tố sinh học liên quan đến vấn đề này.

Đầu tiên, gen dường như có ảnh hưởng đến bản dạng giới, mặc dù cũng như nhiều yếu tố khác thì cũng có sự ảnh hưởng của môi trường. Một phương pháp quen thuộc để kiểm tra tính trạng có chịu phụ thuộc vào di truyền không là nghiên cứu các cặp song sinh. Cặp song sinh cùng trứng thì có gen giống nhau còn cập sinh đôi khác trứng thì chỉ giống nhau một nửa; cả hai đều thường được nuôi giống nhau.

Vào năm 1995 và 2000, 2 nhóm nghiên cứu độc lập so sánh một vùng của não bộ (BSTc) của cả phụ nữ và đàn ông chuyển giới lẫn hợp giới. BSTc của đàn ông to và dày đặc gấp đôi phụ nữ. Sự khác biệt giữa 2 giới tính khá rõ rệt, và mặc dù các nhà khoa học không biết tại sao, đây có vẻ là một đặc trưng để so sánh não giữa nam và nữ. Điều thú vị là, cả hai nhóm đều phát hiện ra rằng phụ nữ chuyển giới có BSTc giống với phụ nữ hợp giới và đàn ông chuyển giới cũng có BSTc giống đàn ông hợp giới. Sự tương đồng này xảy ra ngay cả khi các nhà khoa học đã tính đến trường hợp những người chuyển giới dùng hormone nên đã thí nghiệm trên cả những người hợp giới đang dùng hormone trái với giới tính của mình (vì lý do y tế nào đó). Trị liệu hormone đã được cho thấy có ảnh hưởng tới cấu trúc của não; và như vậy, nhiều người đã phân tích não của người chuyển giới nam và chuyển giới nữ chưa (hoặc không qua) trị liệu hormone. Nhiều nghiên cứu đã xác nhận tính xác thực của những phát hiện trên, rằng người chuyển giới được sinh ra với bộ não của giới mà họ nhận dạng bản thân, thay vì là não của giới tính sinh học mà họ được sinh ra. Mặc dù việc trị liệu hormone có thể ảnh hưởng đến các kết quả nói trên, điều này gợi ra một vài giả thuyết về nguồn gốc của sự khác nhau này: não phát triển chủ yếu trong quá trình mang thai, và những người chuyển giới nam có thể bị thiếu estrogen khi họ còn là bào thai nằm trong bụng mẹ, có thể là do thiếu hormone trong môi trường hoặc phôi thai tiếp thu tín hiệu yếu.[14]

Như vậy, nguyên nhân dẫn tới việc một người là chuyển giới dường như phụ thuộc vào cấu trúc não của bản thân họ, về việc họ sinh ra có não mang cấu tạo của giới tính nào.[15]

Phẫu thuật chuyển đổi giới tính ở Người chuyển giới

Theo quy trình ở đa số quốc gia cho phép phẫu thuật chuyển đổi giới tính, một người trước khi chuyển giới phải trải qua giai đoạn kiểm tra cuộc sống thực (Real Life Test) để xem có thực sự phù hợp để tiến hành phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay không.[16].

Quy trình phẫu thuật chuyển đổi giới tính thực chất là một chuỗi điều trị tâm lý - nội tiết – phẫu thuật. Mắt xích quan trọng nhất là "nội tiết trị liệu" vì nội tiết tố giúp người chuyển giới thay đổi thuận lợi về tâm lý và cơ thể trước khi phẫu thuật. Nội tiết tố cần được duy trì cả đời, trước và sau khi phẫu thuật.

Quy trình phẫu thuật chuyển đổi giới tính ở Hà Lan: Người chuyển giới trải qua các giai đoạn sau[16]:

  • Giai đoạn 1 (trải nghiệm, tư vấn tâm lý): Người chuyển giới sẽ phải trải qua ít nhất sáu tháng để được tư vấn, kiểm tra và trải nghiệm tâm lý, họ phải ăn mặc như nữ (nếu là người chuyển giới từ nam sang nữ) và như nam (nếu là người chuyển giới từ nữ sang nam). Sau khi nghe bác sĩ tâm lý giảng giải về mọi khó khăn có thể sẽ gặp phải (gia đình từ bỏ, mất bạn, mất việc, suy giảm sức khỏe và bị các tác dụng phụ của nội tiết tố giới tính) thì có khoảng 40% bệnh nhân bỏ cuộc.
  • Giai đoạn 2 (điều trị bằng nội tiết tố): Người chuyển giới được điều trị bằng nội tiết tố trong vòng khoảng 2 năm. Nội tiết tố giúp cơ thể họ thay đổi. Testosterone (nội tiết tố nam) giúp cơ thể người nữ chuyển biến các dấu hiệu của giới tính nam như: lông và râu phát triển, ngực thu nhỏ, giọng nói trầm hơn... Nội tiết tố nữ giúp cơ thể người nam chuyển biến các dấu hiệu của giới tính nữ như: lông râu và cơ bắp giảm, ngực phát triển, kích thước tinh hoàn giảm... Trong giai đoạn này, nếu người đó cảm thấy hối hận hoặc thất vọng, không muốn chuyển giới nữa thì vẫn kịp để thay đổi ý định. Họ chỉ cần ngừng sử dụng hormone giới tính nhân tạo thì sau mấy tháng, các hormone giới tính nhân tạo sẽ bị cơ thể đào thải hết, các đặc điểm giới tính của họ sẽ trở về như ban đầu, giống như chưa có gì xảy ra.
  • Giai đoạn 3 (phẫu thuật tạo hình chuyển giới): sau hai năm điều trị bằng nội tiết tố, khi các thay đổi về tâm sinh lý của người chuyển giới đã tới giới hạn thuận lợi cho việc phẫu thuật, một Hội đồng y khoa với các chuyên viên nội tiết, tâm lý, phẫu thuật sẽ nghiên cứu kỹ lưỡng từng hồ sơ một. Bệnh nhân nào đủ điều kiện sẽ được chuyển qua giai đoạn 3: phẫu thuật cắt bỏ bộ sinh dục cũ và tạo bộ sinh dục mới.

Sau khi phẫu thuật cắt bỏ bộ sinh dục cũ và tạo bộ sinh dục mới, người chuyển giới vẫn sẽ phải duy trì sử dụng Hormone nhân tạo cả đời, bởi các bộ phận sinh dục mới thực chất chỉ là các thiết bị mô phỏng hình dáng, chứ không có chức năng sinh dục như bộ phận của người bình thường. Ngoài ra, những người đã chuyển giới phải thường xuyên được điều trị tâm lý do họ thường thất vọng với cơ thể mới (do chỉ có hình dáng mà không có chức năng giới tính), nên có tỷ lệ trầm cảm, tự sát rất cao.

Những rủi ro liên quan với việc tiêm hormone, cắt sửa bộ phận sinh dục và các phẫu thuật khác như bệnh ung thư (vú và tuyến tiền liệt), bệnh tim (đột quỵ, bệnh tim mạch), và tắc mạch máu não trong những người chuyển giới cũng là một vấn đề lớn và đang tiếp tục được nghiên cứu[17].

Người chuyển giới trước khi can thiệp phẫu thuật phải sử dụng hormone trong một thời gian khá dài, khiến tâm lý bị đảo lộn, cơ thể của họ bị yếu đi trông thấy, dễ nhiễm bệnh. Tiêm không đúng cách và liều lượng có thể nguy hiểm tính mạng. Sau đó họ sẽ phải trải qua vài chục cuộc tiểu phẫu với những đau đớn và nguy cơ tai biến cả về thể chất lẫn tâm lý. Sau vài năm, họ sẽ già đi nhanh chóng, sức khỏe của họ trở nên tồi tệ do những biến chứng từ phẫu thuật và tiêm hoóc-môn, những cơn đau thể xác giày vò cả ngày lẫn đêm. Đối với nam chuyển sang nữ, những lớp mỡ sẽ biến mất, vú teo lại mà trơ ra là khung xương thô kệch của đàn ông. Đối với nữ chuyển sang nam, râu tóc của họ sẽ rụng, dương vật giả sẽ teo đi (thậm chí bị hoại tử), khung xương chậu bị tổn thương khiến đi lại khó khăn. Những người không có đủ tiền để uống/tiêm kích thích tố đều đặn thì những hậu quả này thậm chí sẽ xuất hiện nhanh hơn[18]. Ca sĩ chuyển giới Nong Poy (Thái Lan) chia sẻ: khi chuyển giới tức là chấp nhận rút ngắn tuổi thọ xuống khoảng 20 năm, người chuyển giới khó có thể sống ngoài 40 tuổi[19]

Tại Thái Lan (một "thiên đường" của việc chuyển đổi giới tính), nhà hoạt động Nathee Teerarojanapong nói về kết quả không mong đợi từ việc chuyển đổi giới tính: "Tôi nhận được nhiều cuộc gọi từ những người nói họ cảm thấy tiếc vì đã chuyển giới. Họ đã phạm một sai lầm lớn và muốn trở lại như cũ nhưng không thể".

Những người chuyển giới đều chung số phận: Vĩnh viễn không thể có con, phải uống/tiêm hormone nhân tạo trong suốt cuộc đời còn lại. Vẻ "mỹ miều" bên ngoài của họ chỉ là do phẫu thuật thẩm mỹ và ngoại hình đó cũng chỉ duy trì được 5-10 năm, sau đó thân hình, da dẻ mau chóng già nua nhanh hơn nhiều so với người bình thường do những tác dụng phụ của hormone nhân tạo. Về đời sống tình dục cũng rất bất ổn do các bộ phận sinh dục nhân tạo của họ không thể có chức năng như bộ phận của người thường. Về mặt hôn nhân thì cũng rất hiếm người chịu kết hôn với một người chuyển giới, nên hiếm hoi lắm mới có một người chuyển giới tìm được hạnh phúc gia đình thực sự[20].

Do những hậu quả xấu về lâu dài, các bác sĩ khuyên rằng: dù mang tâm lý không chấp nhận giới tính bẩm sinh của mình thì con người cũng không nên can thiệp dao kéo vào giới tính của cơ thể, vì phẫu thuật chuyển giới để lại hệ lụy rất khó kiểm soát về sau, nhất là vấn đề tâm lý[20].

Pháp luật về người chuyển giới

Hiện tại, đã có nhiều quốc gia công nhận người chuyển giới. Cho đến năm 2014, các quốc gia đã thừa nhận và cho phép phẫu thuật chuyển giới đối với người chuyển giới bao gồm[16]: Trung Quốc (2003), Đức (1981), Ý (1982), Nhật Bản (2004), Hà Lan (1985), New Zealand (1995), Panama (1975), Romani (1996), Nam Phi (2003), Tây Ban Nha (2006), Thụy Điển (1972), Iran, Thổ Nhĩ Kỳ (1988), Vương quốc Anh (2004), Lithuana, Serbia, Argentina (2012), Bồ Đào Nha (2011), Urugoay (2009), Malaysia, Thái Lan, Singapore, Philippines, Ấn Độ, Hồng Kông – Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc (2012) và nhiều bang, vùng của Úc, Canada, Mỹ[22]...

Thái LanIran được coi là các trung tâm thực hiện chuyển đổi giới tính lớn nhất thế giới, thường được những người chuyển giới lựa chọn. Hiện tại, chính phủ Iran chi trả 50% chi phí cho các trường hợp phẫu thuật chuyển giới. Thái Lan cũng là nước có nhiều người nước ngoài tới thực hiện chuyển giới. Tại Thái Lan hàng năm còn diễn ra các cuộc thi sắc đẹp quy mô dành cho người chuyển giới như Miss Tiffany’s Universe[21]...

Một số quốc gia trên thế giới cũng đã ban hành những chính sách nhằm giúp người chuyển giới hoà nhập xã hội. Các nhóm hoạt động nhân quyền tại Ý đã rất hoan nghênh, cho rằng đây là sự ủng hộ về mặt tâm lý đối với tù nhân chuyển giới vì những tù nhân chuyển giới khi nhốt chung với các tù nhân khác thường gặp phải sự kỳ thị và phân biệt đối xử.[16]

Những nhận thức sai thường gặp về Người chuyển giới

Dưới đây là một số nhận thức, quan niệm sai lầm thường gặp trong xã hội về Người chuyển giới:[22]

Người chuyển giới là một giới tính sinh học khác biệt:

Đây là quan điểm sai. Thực chất người chuyển giới được sinh ra với một cơ thể có giới tính sinh học bình thường, hoàn chỉnh (phân biệt rõ là nam hay nữ), vấn đề là họ có cảm nhận và mong muốn giới tính của mình không trùng với giới tính sinh học đang có. Đây là một vấn đề về mặt tâm lý, không phải về thể chất sinh lý.

Ngoài ra, cũng cần phân biệt Người chuyển giới với những người sinh ra có dấu hiệu giới tính không rõ ràng, không hoàn chỉnh gọi là người liên giới tính - tên tiếng Anh: intersex (ví dụ, một đứa trẻ sinh ra tồn tại cả dấu hiệu của giới tính nam như vừa có dương vật, tinh hoàn lại vừa có cả dấu hiệu của giới tính nữ như buồng trứng, dạ con, ngực lớn giống nữ giới...; hoặc những người có cơ quan sinh dục không rõ nam hay nữ...). Về bản chất, giới tính của những người liên giới tính chưa rõ ràng, và không phù hợp với định nghĩa điển hình của nam giới hay nữ giới. Điều này hoàn toàn khác so với Người chuyển giới là đã có định hình giới tính hoàn chỉnh khi sinh ra.

Người chuyển giới thì luôn muốn phẫu thuật chuyển giới:

Người chuyển giới và chuyển đổi giới tính là hai khái niệm không trùng khớp nhau, đôi khi bị nhầm lẫn. Người chuyển giới chỉ nói về cảm nhận giới, không phụ thuộc việc người đó đã chuyển giới hay chưa. Trong trường hợp người chuyển giới đã thực hiện phẫu thuật theo giới tính mình mong muốn thì đây là người chuyển giới đã thực hiện phẫu thuật, và không phải người chuyển giới nào cũng muốn phẫu thuật chuyển giới vì nhiều nguyên nhân khác nhau (do không có điều kiện tài chính, không muốn mất khả năng sinh dục, không muốn bị tác động xấu đến sức khỏe...)[23].

Người chuyển giới và Người đồng tính luyến ái là một:

Thực chất, Người chuyển giới và Người đồng tính luyến ái cũng hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Đồng tính luyến ái đề cập tới xu hướng tính dục của con người (5 xu hướng chính: hấp dẫn người cùng giới/giới tính - đồng tính luyến ái, hấp dẫn với người khác giới/giới tính - dị tính luyến ái, hấp dẫn với hai giới/giới tính - song tính luyến ái, hấp dẫn với tất cả giới và giới tính - toàn tính luyến ái, không hấp dẫn với giới hay giới tính nào - vô tính luyến ái). Trong khi đó người chuyển giới nói về bản dạng giới, từ đó phân chia thành: Người hợp giới (bản dạng giới trùng với giới tính lúc mới sinh), Người chuyển giới (bản dạng giới khác với giới tính lúc mới sinh) và Linh hoạt giới (bản dạng giới thay đổi theo thời gian, tại một thời điểm nhất định, một người có thể là người hợp giới, và tại một thời điểm khác, người đó có thể là người chuyển giới). Một người nam nhận dạng bản thân là nữ, ăn mặc, trang điểm, cử chỉ yểu điệu mọi người thường cho là đồng tính, nhưng thực tế đó là Người chuyển giới (giới tính sinh học là nam, bản dạng giới là nữ). Trong khi đó, một người đồng tính nam hoàn toàn có thể có ngoại hình rất nam tính, và người đó hài lòng với giới tính bẩm sinh là nam của mình. Tuy nhiên, cũng có những người có sở thích khác với giới của họ, ví dụ như một người có giới tính là nữ, nhận thức bản thân cũng là nữ nhưng thích ăn mặc và tập võ giống một người nam, những người như vậy không phải là người chuyển giới, bởi về bản chất họ vẫn nhận dạng bản thân có giới tính khớp với giới tính sinh học của mình, chỉ có thể hiện giới của họ là khác, có thể là do sở thích hoặc công việc của họ mà thôi.

Trong xã hội, nhiều người nhìn những trường hợp nam giới cải trang ngoại hình thành nữ giới hay ngược lại, nữ giới cải trang thành nam giới thì nhận định họ là người đồng tính luyến ái, đó là quan điểm chưa chính xác. Trừ một số người cải trang thành người giới tính khác do mục đích công việc thì đa số những người này đều là Người chuyển giới. Do mong muốn thành người có giới tính ngược lại nên họ đã cải trang như vậy, họ chỉ cải trang mà không phẫu thuật chuyển giới vì pháp luật chưa cho phép, chưa có điều kiện kinh tế hoặc do lo ngại những tác động xấu đến sức khỏe của bản thân[16].

Người chuyển giới cũng có thể thuộc một trong 5 xu hướng tính dục chính: đồng tính, dị tính, song tính, toàn tính hay vô tính. Nhu cầu của Người đồng tính là yêu đương người cùng giới tính. Còn nhu cầu của Người chuyển giới là chuyển đổi cơ thể sang giới tính mà mình cảm nhận, khác với giới tính bẩm sinh của cơ thể họ[23].

Người chuyển giới ở Việt Nam

Pháp luật Việt Nam hiện chưa cho phép Người chuyển giới được phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Việt Nam hiện mới chỉ cho phép thực hiện phẫu thuật xác định lại giới tính "trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính"(Điều 36 Bộ luật dân sự năm 2005), sau khi phẫu thuật sẽ được xác định lại giới tính trong hộ tịch, đồng thời được hoàn thiện những thủ tục nhằm công nhận giới tính và thay đổi những giấy tờ tùy thân cần thiết. Trong khi đó, theo nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 5/8/2008 thì việc "thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính" là hành vi bị cấm. Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện chỉ cho phép thực hiện phẫu thuật xác định lại giới tính đối với người liên giới tính mà không cho phép Người chuyển giới được phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Nếu một người sinh ra đã hoàn thiện về giới tính thì việc chuyển đổi giới tính tại Việt Nam không thể thực hiện được. Quy định trên cũng đồng nghĩa nếu người chuyển giới ra nước ngoài để phẫu thuật chuyển đổi giới tính thì khi về nước, việc xác định lại giới tính cho người đó cũng như điều chỉnh hộ tịch, các giấy tờ tuỳ thân như: giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, hộ chiếu, hộ khẩu, các giấy tờ tài sản khác liên quan cho người đó cũng không thể thực hiện được[24].

Ở Việt Nam, một số người chuyển giới đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính được nhiều người biết đến[25] như: Cindy Thái Tài[26], Hương Giang Idol, ca sĩ Lâm Chí Khanh, Cát Tuyền, Di Yến Quỳnh, cô giáo Phạm Lê Quỳnh Trâm[27]

Tại Báo cáo về những vấn đề lớn xin ý kiến Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để chỉnh lý dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ tư pháp Hà Hùng Cường cho biết: "Cần bổ sung quyền được chuyển giới của cá nhân vào trong Bộ luật dân sự vì trong thời gian qua ở Việt Nam đã xuất hiện nhu cầu này. Ngày càng có nhiều người đã thực hiện việc chuyển giới ở nước ngoài về nước, làm phát sinh nhiều vấn đề pháp lý, xã hội liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của những người này". Ông Cường nhận định: "Việc nghiên cứu, xem xét giải quyết vấn đề thực tiễn này là cần thiết. Tuy nhiên, do đây là vấn đề lớn, phức tạp nên cần phải có thời gian để nghiên cứu một cách thấu đáo. Chính phủ sẽ chỉ đạo Bộ Tư pháp phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan nghiên cứu, báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định tại Kỳ họp thứ 9 vào tháng 5/2015". Ông Cường cũng cho biết trước mắt, tại Điều 41 Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi về Quyền xác định lại giới tính, thay vì quy định cụ thể các trường hợp được xác định lại giới tính thì Bộ luật chỉ ghi nhận một nguyên tắc chung. Theo đó, cá nhân là người thành niên có quyền được xác định lại giới tính trong trường hợp luật quy định. Từ đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho pháp luật chuyên ngành sẽ quy định cụ thể về những vấn đề liên quan.[28][28][28][29].

.

Chú thích

  1. ^ Gay and Lesbian Alliance Against Defamation. "GLAAD Media Reference Guide - Transgender glossary of terms", "GLAAD", USA, May 2010. Truy cập 2011-02-24.
  2. ^ Stroud District Council "Gender Equality SCHEME AND ACTION PLAN 2007"
  3. ^ Author unknown, (2004) "...Transgender, adj. Of, relating to, or designating a person whose identity does not conform unambiguously to conventional notions of male or female gender, but combines or moves between these..." Definition of transgender[liên kết hỏng] from the Oxford English Dictionary, draft version March 2004. Truy cập 2007-04-07.
  4. ^ "USI LGBT Campaign - Transgender Campaign". Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2012.
  5. ^ “This campaign will be launched April 18th 2007”. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2008. 
  6. ^ “Trans + Gender Identity”. The Trevor Project (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2019. 
  7. ^ http://www.glbtq.com/social-sciences/transgender_activism,2.html
  8. ^ Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fourth Edition (1994)
  9. ^ Newsroom | APA DSM-5
  10. ^ “Gender identity disorder in adolescence and adulthood”. ICD10Data.com. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2011. 
  11. ^ Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders 5. American Psychiatric Association. 2013. tr. 454. ISBN 978-0890425558. 
  12. ^ The American Psychiatric Publishing textbook of psychiatry. Robert Ernest Hales, Stuart C. Yudofsky, Glen O. Gabbard. American Psychiatric Publishing 2008. ISBN 978-1-58562-257-3. P 1475
  13. ^ “Johns Hopkins Psychiatrist: Transgender is ‘Mental Disorder;' Sex Change ‘Biologically Impossible’”. CNS News. Truy cập 22 tháng 11 năm 2015. 
  14. ^ “Between the (Gender) Lines: the Science of Transgender Identity”. Harvard University. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2020. 
  15. ^ “Transgender brains are more like their desired gender from an early age”. ScienceDaily. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2020. 
  16. ^ a ă â b c Người chuyển giới và pháp luật thế giới về người chuyển giới
  17. ^ http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK64800/
  18. ^ “Những nỗi đau thể xác tột cùng khi phẫu thuật chuyển giới”. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015. 
  19. ^ “Nong Poy: chết trước tuổi 40 vì chuyển giới”. Eva.vn. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015. 
  20. ^ a ă “Bất ngờ với những tiết lộ "sốc" của bác sĩ phẫu thuật chuyển đổi giới tính”. Báo đời sống & pháp luật Online. Truy cập 25 tháng 12 năm 2014. 
  21. ^ Người đẹp chuyển giới Thái Lan
  22. ^ Người chuyển giới và pháp luật thế giới về người chuyển giới
  23. ^ a ă “Những hiểu lầm phổ biến về đồng tính và chuyển giới”. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2015. 
  24. ^ Quy định pháp luật về chuyển đổi giới tính?
  25. ^ Những nhân vật chuyển giới đình đám ở showbiz Việt
  26. ^ Cindy Thái Tài: 'Chúng tôi không được công nhận giới tính'
  27. ^ Hành trình xin lại giới tính của cô giáo chuyển giới
  28. ^ a ă â Đề xuất bổ sung quyền được chuyển giới trong Bộ luật Dân sự
  29. ^ Đề xuất bổ sung quyền được chuyển giới trong Bộ luật Dân sự

Đọc thêm

Liên kết ngoài