Liên giới tính

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cờ của cộng đồng người liên giới tính.

Liên giới tính (tiếng Anh: Intersex) là thuật ngữ chỉ những người có những đặc điểm giới tính (bao gồm bộ phận sinh dục, cơ quan sinh sản, nội tiết tố sinh dụcnhiễm sắc thể giới tính) mà theo như Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc mô tả rằng "không phù hợp với định nghĩa điển hình của cả nam giới hay nữ giới". Điều này có thể biểu hiện rõ ràng từ khi mới sinh, hay đến khi dậy thì mới bắt đầu phát triển và biểu hiện ra ngoài hoặc không rõ ràng, và có thể có một số người cả đời không hề hay biết bản thân là người liên giới tính.[1]

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, liên giới tính là một dạng dị tật bẩm sinh của hệ thống cơ quan sinh dục và giới tính. Sự phát triển giới tính ở bào thai là kết quả của nhiều gen và đột biến ở bất kỳ gen nào trong số này có thể dẫn đến sự định hình giới tính thất bại một phần hoặc hoàn toàn. Chúng bao gồm các đột biến hoặc bất thường về cấu trúc nhiễm sắc thể Y, dẫn đến rối loạn hình thành bộ phận sinh dục (nam XX hoặc nữ XY), khiếm khuyết quá trình sinh tổng hợp hooc-môn giới tính androgen, và những khuyết tật khác. Chứng "lưỡng tính thật" là một tình trạng khiếm khuyết di truyền trong đó những người bị ảnh hưởng có cả cơ quan sinh dục nam và nữ (buồng trứngtinh hoàn)[2]

Quốc gia đầu tiên trên thế giới áp dụng luật bình đẳng liên giới tính là Nam Phi. Với Đạo luật sửa đổi các vấn đề tư pháp 2005, Đạo luật thúc đẩy bình đẳng và ngăn ngừa phân biệt đối xử không lành mạnh năm 2000 đã được sửa đổi, trong đó nói rằng "Intersex" có nghĩa là "sự khác biệt giới tính bẩm sinh không điển hình, ở bất kỳ mức độ nào" và "giới tính bao gồm cả liên giới tính". Luật này thực sự mang tính đột phá, vì ngoài việc nó là luật đầu tiên trong số những luật bình đẳng liên giới tính, nó được xây dựng để bao gồm tất cả những người liên giới tính trong phạm vi định nghĩa của nó và không bỏ sót ai.[3]

Intersex Awareness Day là ngày nâng cao nhận thức về liên giới tính, vào ngày 26 tháng 10 hàng năm, để làm nổi bật các vấn đề nhân quyền mà những người liên giới tính phải đối mặt.

Khái quát[sửa | sửa mã nguồn]

Trước kia, liên giới tính được gọi là lưỡng tính hay là "thái giám bẩm sinh" (congenital eunuchs).[4][5] Vào thế kỉ thứ 19 và 20, một số thành viên của cộng đồng y khoa phát minh ra một hệ thống các thuật ngữ để phân loại các đặc điểm giới tính mà họ quan sát được. Đây là lần đầu tiên con người phát minh ra một hệ thống phân loại các đặc điểm điển hình của liên giới tính. Người liên giới tính trước kia được phân loại thành lưỡng tính thật, hoặc lưỡng tính giả ở nữ hay lưỡng tính giả ở nam.[6] Tuy nhiên, những thuật ngữ này không còn được dùng nữa vì những thuật ngữ có chứa từ 'lưỡng tính được coi là mang hàm ý xúc phạm khi được dùng để chỉ con người.[7] "Lưỡng tính" giờ đây được dùng để chỉ các loài động vật hoặc thực vật có cơ quan sinh sản của cả giống đực và giống cái.[6] Vào năm 1917, Richard Goldschmidt đặt ra thuật ngữ "liên giới tính" (intersexuality) để chỉ những đặc điểm giới tính không rõ ràng ở người[6] Trong giới y khoa, thuật ngữ "Rối loạn phát triển giới tính (DSDs)" bắt đầu được sử dụng từ năm 2006. Tuy nhiên, sự thay đổi này mang lại nhiều tính gây tranh cãi từ khi thuật ngữ trên được ra đời.[8]

Theo hiệp hội liên giới tính Bắc Mỹ (ISNA), Intersex là một thuật ngữ chung được sử dụng cho nhiều tình trạng trong đó một người được sinh ra với giải phẫu sinh sản hoặc giới tính dường như không phù hợp với các định nghĩa thông thường về nữ hoặc nam. Ví dụ, một người sinh ra có thể là nữ ở bề ngoài, nhưng bên trong lại có giải phẫu chủ yếu là nam.[9] Theo ISNA, cứ 2000 đứa trẻ được sinh ra thì có 1 đứa trẻ không mang giới tính nam hay nữ.[10]

Vào thời xưa, người liên giới tính thường phải đối mặt với sự kì thị từ khi mới sinh, hoặc sau khi một đặc điểm liên giới tính phát triển khi đến tuổi dậy thì. Điều này có thể bao gồm giết hại trẻ sơ sinh, bỏ rơi, hoặc đối mặt với sự kì thị từ trong chính gia đình. Một số người liên giới tính thường trải qua phẫu thuật hoặc trị liệu hoóc-môn để cơ thể phát triển những đặc điểm giới tính phù hợp với quy chuẩn của xã hội đặt ra. Tuy nhiên, điều này vẫn gây tranh cãi khi không chắc chắn rằng những trị liệu kể trên mang lại kết quả, hay đây là điều mà người được trị liệu mong muốn.[11] Hơn nữa, những cuộc chữa trị mà không có sự chấp thuận từ người bệnh có thể bị coi là vi phạm nhân quyền[12][13] Những tổ chức hoạt động về quyền của người liên giới tính cũng lên tiếng về những vấn đề này, như lời tuyên bố Malta (Malta declaration) được đưa ra vào năm 2013 bởi International Intersex Forum.

Một vài người liên giới tính sẽ được chỉ định và được nuôi dạy như một người con trai hay con gái nhưng rồi lớn lên lại nhận dạng bản thân là một giới khác, trong khi một số vẫn nhận dạng bản thân theo giới đã được chỉ định từ nhỏ.[14] Vào năm 2011, Christiane Völling trở thành người liên giới tính đầu tiên đã kiện thành công về những thiệt hại do cô phải thực hiện phẫu thuật xác định lại giới tính diễn ra vào năm 1977 mà không có sự đồng thuận của mình.[15][16] Một vụ thứ hai được xét xử ở Chile vào năm 2012, trong đó có sự tham gia của một đứa trẻ và bố mẹ của mình.[17][18] Vào tháng 4 năm 2015, Malta trở thành quốc gia đầu tiên cấm bất kì can thiệp y tế về giới tính nào mà thiếu sự đồng thuận của người tham gia (trong đó bao gồm cả người liên giới tính).[19][20]

Cũng giống như những người nam hay nữ khác, người liên giới tính có thể có bất kì bản dạng giới cũng như xu hướng tình dụcxu hướng tình cảm nào.[21]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Có các dạng người liên giới tính sau đây, tất cả các dạng người này đều có cấu tạo cơ quan quan sinh dục bất thường.

  • Liên giới tính giả ở nữ

Là nữ, có buồng trứng, nhưng do tuyến thượng thận sản xuất quá nhiều hoóc môn nam androgen nên bộ phận sinh dục ngoài bị nam hóa, như âm vật phì đại, 2 môi lớn to và dính nhau như bìu. Trường hợp nam hóa nặng có thể tạo nên đoạn niệu đạo - âm vật giống như người nam có tinh hoàn ẩn.

Nguyên nhân thường gặp nhất là hội chứng thượng thận sinh dục. Một số trường hợp do mẹ có dùng thuốc chứa androgen khi mang thai, mẹ bị u nam hóa buồng trứng.

  • Liên giới tính giả ở nam

Bộ nhiễm sắc thể vẫn là 46 XY như mọi đàn ông khác, nhưng bộ phận sinh dục lại giống nữ. Nguyên nhân là hoóc môn nam testosteron và MIS - một chất cần cho sự phát triển giới tính nam - không được tiết ra đủ.

  • Nữ hóa có tinh hoàn

Người có tinh hoàn và có bộ nhiễm sắc thể XY, là đàn ông nhưng cơ quan sinh dục ngoài không nhạy cảm với testosteron nên không biệt hóa thành dương vật. Họ có âm đạo (thường bị tịt một đầu, không có tử cung, vòi tử cung có nhưng kém phát triển). Đến khi dậy thì, ngực lớn lên nhưng không hành kinh, lông mu ít hay không có. Các tinh hoàn thường ở trong bụng hay ống bẹn, cũng có khi ở môi lớn.

Về phương diện phôi thai học, những người này giống liên giới tính giả ở nam, song họ không có cảm giác lưỡng tính mà coi mình hoàn toàn là phụ nữ do bộ phận sinh dục ngoài như người nữ bình thường, được nuôi dạy như nữ. Thông thường họ được xử lý mổ lấy tinh hoàn ngay sau khi phát hiện bệnh để tránh xáo trộn tâm lý.

  • Liên giới tính thật

Hầu hết các trường hợp lưỡng tính thật sống ngoài xã hội bề ngoài có dạng nữ. Họ có cả tinh hoàn và buồng trứng (tách riêng hay nhập chung thành tuyến tinh hoàn - buồng trứng) nhưng chúng thường không có tính năng hoạt động. Nguyên nhân gây liên giới tính thật là có bất thường trong quá trình phân định giới tính.

  • Loạn sinh tuyến sinh dục kết hợp

Những trường hợp này cũng rất hiếm: Họ có tinh hoàn một bên, bên kia không rõ ràng. Cấu trúc đường sinh dục thường là nữ, đôi khi cũng có vài cấu trúc dạng nam. Các bộ phận sinh dục ngoài có thể là nữ, nam hay pha trộn cả hai. Khi dậy thì, họ không phát triển vú, không hành kinh.

Tuy nhiên, những trường hợp trên sau khi phẫu thuật chỉnh hình lại vẫn có thể quan hệ tình dục bình thường, nhưng không thể sinh con.

Quyền của người Liên giới tính[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2015, một Tài liệu phát hành về Quyền con người và người khác giới của Hội đồng Châu Âu đã nêu bật một số lĩnh vực cần quan tâm, bao gồm cả sự công nhận về mặt pháp lý:

  • Quyền bình đẳng về cuộc sống và phòng chống các phương pháp điều trị y tế mà không có sự đồng ý của người Liên giới tính bao gồm cả các phương pháp điều trị được coi là không cần thiết;
  • Loại bỏ Intersex như một tình trạng y tế có thể chữa được nhưng một trong đó có thể được điều trị y tế với sự đồng ý rõ ràng;
  • Đối xử bình đẳng theo pháp luật; bao gồm các quy định pháp lý cụ thể tương tự như các nhóm khác được đề cập;
  • Tiếp cận thông tin, hồ sơ bệnh án, tư vấn và hỗ trợ đồng nghiệp và các hỗ trợ khác;
  • Quyền tự quyết trong việc thừa nhận giới tính, thông qua việc tiếp cận nhanh chóng các tài liệu chính thức [7]

Công nhận hợp pháp về giới tính[sửa | sửa mã nguồn]

Ở nhiều quốc gia, cho phép 3 giới tính trên giấy tờ tùy thân: Đánh dấu (F) đối với giới tính nữ, (M) đối với giới tính nam, và (X) đối với giới tính khác.

Nhiều quốc gia công nhận hợp pháp các phân loại không thuộc giới tính nhị phân (nam hoặc nữ). Những phân loại này thường dựa trên nhận dạng giới tính của một người. Ở một số quốc gia, những phân loại như vậy có thể chỉ dành cho những người khác giới, được sinh ra với các đặc điểm giới tính "không phù hợp với các định nghĩa điển hình về cơ thể nam giới hoặc nữ giới" như Liên giới tính.

Hiện có các quốc gia công nhận một giới tính khác ngoài nam và nữ là: Argentina, Áo, Úc, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Đức, Iceland, Ấn Độ, Hà Lan, Nepal, New Zealand, Nam Phi, Pakistan, Đài Loan, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ [22][23]

Tiêu biểu quá trình công nhận của một số nước dưới đây:

Tuyên bố Malta[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyên bố Malta của Diễn đàn Intersex Quốc tế lần thứ ba, vào năm 2013, kêu gọi trẻ sơ sinh và trẻ em được phân định là nam hoặc nữ, dựa trên sự hiểu biết rằng việc nhận dạng sau này có thể khác nhau:

  • Đăng ký trẻ em khác giới là nữ hoặc nam, với nhận thức rằng, giống như tất cả mọi người, chúng có thể lớn lên để xác định giới tính hoặc giới tính khác.
  • Để đảm bảo rằng các phân loại giới tính hoặc giới tính có thể sửa đổi được thông qua một thủ tục hành chính đơn giản theo yêu cầu của các cá nhân có liên quan. Tất cả người lớn và trẻ vị thành niên có khả năng sẽ có thể chọn giữa nữ (F), nam (M), không phải nhị phân hoặc nhiều lựa chọn. Trong tương lai, cũng như chủng tộc hoặc tôn giáo, giới tính hay giới tính không phải là một danh mục trên giấy khai sinh hoặc giấy tờ tùy thân cho bất kỳ ai.[24]

Úc và New Zealand[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 3 năm 2017, một tuyên bố của cộng đồng Úc và New Zealand đã kêu gọi chấm dứt phân loại giới tính như phân loại nhị phân (chỉ có giới tính nam và nữ), nêu rõ rằng các phân loại giới tính khác hợp pháp ngoài hệ nhị phân. Đồng thời cũng kêu gọi hình sự hóa các can thiệp y tế cho người liên giới tính.

Giống như những người không Liên giới tính, một số cá nhân Liên giới tính có thể không tự nhận mình là nữ hoặc chỉ là nam. Nghiên cứu xã hội học ở Úc, quốc gia có phân loại giới tính 'X', cho thấy 19% những người sinh ra với các đặc điểm giới tính không điển hình đã chọn phương án "X" hoặc "khác", trong khi 52% là phụ nữ, 23% nam giới và 6 % không chắc chắn. Khi mới sinh, 52% số người trong nghiên cứu được chỉ định là nữ và 41% được chỉ định là nam.[25]

Argentina[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 20 tháng 7 năm 2021, Tổng thống Alberto Fernández đã ký sắc lệnh (Decreto 476/2021) quy định Cơ quan Đăng ký Quốc gia về Người (RENAPER) cho phép tùy chọn giới tính thứ ba trên tất cả các chứng minh thư và hộ chiếu quốc gia, được đánh dấu là "X". Biện pháp này áp dụng cho cả những thường trú nhân không phải là công dân cũng có chứng minh thư Argentina.  Tuân theo Luật nhận dạng giới năm 2012, điều này đã đưa Argentina trở thành quốc gia đầu tiên ở Nam Mỹ công nhận giới tính phi nhị phân một cách hợp pháp trên tất cả các tài liệu chính thức, một cách tự do và theo yêu cầu của người đó.[17]

Áo[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 15 tháng 6 năm 2018, Tòa án Hiến pháp Áođã đi đến một quyết định, được công bố trong một bản tin vào ngày 29 tháng 6, rằng Điều 8 của Công ước Châu Âu về Nhân quyền đảm bảo việc công nhận bản dạng giới ngoài hai giới nam hoặc nữ và những người có sự phát triển giới tính khác với nam hoặc nữ phải được phép để trống một mục giới tính và phải được phép triển khai một mục nhập tích cực khác. Họ cũng nhận thấy rằng luật hiện hành không mâu thuẫn với những yêu cầu này và có thể được giải thích theo cách phù hợp với quyền hiến định được thừa nhận bản dạng giới thông qua Điều 8 của ECHR. Tòa án phán quyết rằng lợi ích quốc gia được liệt kê trong Điều 8.1 ECHR không lớn hơn lợi ích rất hợp lý của một cá nhân trong việc thừa nhận cuộc sống cá nhân của họ, bao gồm cả bản dạng giới và các luật khác có thể được điều chỉnh nếu cần. Tòa án chỉ ra rằng các cơ quan hành chính có thể yêu cầu bằng chứng về sự phù hợp của sự thay đổi đối với mục nhập và mối liên hệ với đời sống xã hội thực tế của con người, và Điều 8.1 ECHR không thiết lập quyền đối với các mục được đặt tên tùy tiện. Họ chưa quyết định một cái tên cụ thể mà một lựa chọn thuộc giới tính thứ ba nên có [26] Alex Jürgen, một nhà hoạt động Liên giới tính, đã đấu tranh cho quyền có quyền chọn không phải nhị phân trong hộ chiếu của họ và là người đầu tiên ở Áo nhận được nó.

Xem xét can thiệp y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây người ta cho rằng nên phẫu thuật loại bỏ các tuyến sinh dục vì chúng có nguy cơ trở thành ung thư cao. Sau đó, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng bệnh ác tính không do người đó là liên giới tính. Do đó có nhiều khuyến nghị bác sĩ nên chuyển sang theo dõi tích cực hoặc chờ đợi cẩn thận để kéo dài khả năng sinh sản và cho phép kích thích dậy thì tự nhiên. Hầu hết những người liên giới tính hiện nay có thể giữ lại các tuyến sinh dục phát triển tốt một cách an toàn cho đến tuổi dậy thì hoặc muộn hơn nếu muốn mà không cần phẫu thuật, cho phép họ tham gia vào quá trình ra quyết định về có nên phẫu thuật cơ quan sinh dục không. Đối với những người cắt bỏ tuyến sinh dục vì nguy cơ ung thư hoặc để tránh bắt đầu dậy thì ở giới tính mà họ không mong muốn, các bác sĩ có thể đưa ra các phương án bảo tồn khả năng sinh sản.

Truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Salmacis và Hermaphroditos nhập làm một

Truyền thuyết về những người có giới tính không xác định đã xuất hiện từ thời cổ đại. Hai vị thần HermesAphrodite đã ghép tên họ để đặt cho con trai là Hermaphroditos. Vì tiên nữ (nymph) Salmacis yêu Hermaphroditos nhưng bị từ chối nên đã ước nguyện thân thể hai người nhập làm một. Lời ước được chứng giám, và xuất hiện một con người vừa nam vừa nữ, hình tượng được thể hiện là một người vừa có vú vừa có dương vật. Thần thoại Hy Lạp cũng nói đến Tiresias là người mà theo huyền thoại khi thì là đàn ông, khi thì là phụ nữ.[27]

Những nhân vật liên giới tính nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Saner, Emine (ngày 29 tháng 7 năm 2008). “The gender trap: testing the sex of Olympians competing in Beijing”. The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2020.
  2. ^ https://www.who.int/genomics/gender/en/index1.html Trích: Intersex is defined as a congenital anomaly of the reproductive and sexual system... Typical sexual development is the result of numerous genes, and mutation in any of these genes can result in partial or complete failure of sex differentiation. These include mutations or structural anomalies of the SRY region on the Y chromosome resulting in XY gonadal dysgenesis, XX males, or XY females; defects of androgen biosynthesis or androgen receptors, and others...
  3. ^ “Intersex Research Study 2017” (PDF). UNDP. 2018.
  4. ^ Mason H.J. (1978). “Favorinus' Disorder: Reifenstein's Syndrome in Antiquity?”. Janus. 66 (1–2–3): 1–13. PMID 11610651.
  5. ^ Nguyễn Khắc Thuần (1998), Việt sử giai thoại (History of Vietnam's tales), vol. 8, Vietnam Education Publishing House, p. 55
  6. ^ a b c Zucker, Kenneth J.; Bradley, Susan J.; Sullivan, Claire B. Lowry (tháng 3 năm 1992). “Gender Identity Disorder in Children”. Annual Review of Sex Research. 3 (1): 73–120. doi:10.1080/10532528.1992.10559876. ISSN 1053-2528.
  7. ^ a b Dreger, Alice D.; Chase, Cheryl; Sousa, Aron; Gruppuso, Phillip A.; Frader, Joel (ngày 18 tháng 8 năm 2005). “Changing the Nomenclature/Taxonomy for Intersex: A Scientific and Clinical Rationale”. Journal of Pediatric Endocrinology and Metabolism. 18 (8): 729–33. doi:10.1515/JPEM.2005.18.8.729. PMID 16200837.
  8. ^ Holmes, Morgan (tháng 9 năm 2011). “The Intersex Enchiridion: Naming and Knowledge”. Somatechnics. 1 (2): 388–411. doi:10.3366/soma.2011.0026. ISSN 2044-0138.
  9. ^ “What is intersex? | Intersex Society of North America”. isna.org. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2022.
  10. ^ “How common is intersex? | Intersex Society of North America”. isna.org. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2022.
  11. ^ Submission 88 to the Australian Senate inquiry on the involuntary or coerced sterilisation of people with disabilities in Australia Lưu trữ 2015-09-23 tại Wayback Machine, Australasian Paediatric Endocrine Group (APEG), ngày 27 tháng 6 năm 2013
  12. ^ Report of the UN Special Rapporteur on Torture Lưu trữ 2016-08-24 tại Wayback Machine, Office of the UN High Commissioner for Human Rights, February 2013.
  13. ^ Eliminating forced, coercive and otherwise involuntary sterilization, An interagency statement Lưu trữ 2015-07-11 tại Wayback Machine, World Health Organization, May 2014.
  14. ^ “New publication "Intersex: Stories and Statistics from Australia". Organisation Intersex International Australia. ngày 3 tháng 2 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016.
  15. ^ International Commission of Jurists. “In re Völling, Regional Court Cologne, Germany (ngày 6 tháng 2 năm 2008)”. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2015.
  16. ^ Zwischengeschlecht (ngày 12 tháng 8 năm 2009). “Christiane Völling: Hermaphrodite wins damage claim over removal of reproductive organs”. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2015.
  17. ^ a b “Condenan al H. de Talca por error al determinar sexo de bebé”. diario.latercera.com (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2017.
  18. ^ García, Gabriela (ngày 20 tháng 6 năm 2013). “Identidad forzada”. www.paula.cl (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2017.
  19. ^ Reuters (ngày 1 tháng 4 năm 2015). “Surgery and Sterilization Scrapped in Malta's Benchmark LGBTI Law”. The New York Times.
  20. ^ Star Observer (ngày 2 tháng 4 năm 2015). “Malta passes law outlawing forced surgical intervention on intersex minors”. Star Observer. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2015.
  21. ^ “Intersex”. Gender Wikia. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2020.
  22. ^ “Legal recognition of non-binary gender”, Wikipedia (bằng tiếng Anh), 20 tháng 1 năm 2022, truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2022
  23. ^ “Intersex Research Study” (PDF). UNDP. 2018.
  24. ^ “International Intersex Forum”, Wikipedia (bằng tiếng Anh), 22 tháng 1 năm 2021, truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2022
  25. ^ “Legal recognition of intersex people”, Wikipedia (bằng tiếng Anh), 9 tháng 11 năm 2021, truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2022
  26. ^ “Personenstandsgesetz - intersexuelle Personen - Der Österreichische Verfassungsgerichtshof”. www.vfgh.gv.at. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2022.
  27. ^ Hesiod, Melampodia, Fragment 3: Teiresias.
    Scholiast on Homer, Odyssey, x. 494:
    They say that Teiresias saw two snakes mating on Cithaeron and that, when he killed the female, he was changed into a woman, and again, when he killed the male, took again his own nature. This same Teiresias was chosen by Zeus and Hera to decide the question whether the male or the female has most pleasure in intercourse. And he said: "Of ten parts a man enjoys only one; but a woman's sense enjoys all ten in full." For this Hera was angry and blinded him, but Zeus gave him the seer's power.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]