Liên giới tính

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cờ của cộng đồng người Liên giới tính.

Liên giới tính (tiếng Anh: Intersex) là thuật ngữ chỉ những người có những đặc điểm giới tính (bao gồm bộ phận sinh dục, cơ quan sinh sản, nội tiết tố sinh dụcnhiễm sắc thể giới tính) mà theo như Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc mô tả rằng "không phù hợp với định nghĩa điển hình của nam giới hay nữ giới". Điều này có thể biểu hiện rõ ràng từ khi mới sinh, hay đến khi dậy thì mới bắt đầu phát triển và biểu hiện ra ngoài hoặc không rõ ràng và có thể có một số người cả đời không hề hay biết bản thân là người liên giới tính.[1] Liên giới tính là một dạng đột biến tự nhiên ở người, và đây không phải là một vấn đề liên quan đến mặt y học, và hiện tượng này không hề khan hiếm như cách người ta hay nghĩ. Rất khó để biết được chính xác được rằng có bao nhiêu người liên giới tính trên thế giới, nhưng theo ước tính thì ở Mỹ, cứ khoảng 100 người được sinh ra thì có 1 người là người liên giới tính.[2]

Trước kia, liên giới tính được gọi là lưỡng tính hay là "thái giám bẩm sinh" (congenital eunuchs).[3][4] Vào thế kỉ thứ 19 và 20, một số thành viên của cộng đồng y khoa phát minh ra một hệ thống các thuật ngữ để phân loại các đặc điểm giới tính mà họ quan sát được. Đây là lần đầu tiên con người phát minh ra một hệ thống phân loại các điển hình của liên giới tính. Người liên giới tính trước kia được phân loại thành lưỡng tính thật, hoặc lưỡng tính giả ở nữ hay lưỡng tính giả ở nam.[5] Tuy nhiên, những thuật ngữ này không còn được dùng nữa: những thuật ngữ có chứa từ 'lưỡng tính' được coi là mang hàm ý xúc phạm, và mang tính sai lệch về mặt khoa học khi được dùng để chỉ con người.[6] 'Lưỡng tính" giờ đây được dùng để chỉ động vật hoặc thực vật có cơ quan sinh sản của cả giống đực và giống cái.[5] Vào năm 1917, Richard Goldschmidt đặt ra thuật ngữ 'liên giới tính' (intersexuality) để chỉ những đặc điểm giới tính không rõ ràng.[5] Theo giới y khoa, thuật ngữ Rối loạn phát triển giới tính (DSDs) bắt đầu được sử dụng từ năm 2006. Tuy nhiên, sự thay đổi này mang lại nhiều tính gây tranh cãi từ khi thuật ngữ trên được ra đời.[7]

Người liên giới tính thường xuyên phải đối mặt với sự kì thị từ khi mới sinh, hoặc sau khi mà một đặc điểm của liên giới tính phát triển khi đến tuổi dậy thì. Điều này có thể bao gồm giết hại trẻ sơ sinh, bỏ rơi, hoặc đối mặt với sự kì thị từ trong chính gia đình. Một số trẻ liên giới tính trên toàn cầu thường phải trải qua phẫu thuật hoặc trị liệu hoóc-môn để cơ thể phát triển những đặc điểm giới tính để phù hợp với quy chuẩn của xã hội đặt ra. Tuy nhiên, điều này vẫn mang nhiều tính gây tranh cãi khi không có bằng chứng nào cho rằng những cuộc trị liệu và phẫu thuật kể trên có mang lại kết quả, hay đây là điều mà người được trị liệu mong muốn.[8] Hơn nữa, những cuộc "chữa trị" này được coi là vi phạm nhân quyền của con người - một lời tuyên bố được đặt ra từ những tổ chức về nhân quyền và các tổ chức đạo đức trên toàn cầu.[9][10][11] Những tổ chức hoạt động về quyền của người liên giới tính cũng lên tiếng về những vấn đề này, như lời tuyên bố Malta (Malta declaration) được đưa ra vào năm 2013 bởi International Intersex Forum.

Cũng giống như những người nam hay nữ khác, người liên giới tính có thể có bất kì bản dạng giới cũng như xu hướng tình dụcxu hướng tình cảm nào.[12]

Triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

Các triệu chứng liên quan đến liên giới tính phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra nó, bao gồm:[13][14][15]

  • Cơ quan sinh dục mơ hồ khi mới sinh
  • Dương vật nhỏ bất thường
  • Âm vật to bất thường
  • Dính môi âm đạo một phần
  • Tinh hoàn ẩn rõ rệt (có thể hóa ra là buồng trứng) ở bé trai
  • Khối vùng bẹn hoặc môi âm đạo (có thể hóa ra là tinh hoàn) ở bé gái
  • Lỗ tiểu của dương vật nằm ở vị trí khác thay vì đầu dương vật; ở nữ giới, niệu đạo (ống dẫn nước tiểu) mở vào trong âm đạo
  • Các trường hợp bất thường cơ quan sinh dục phát hiện khi sinh khác
  • Bất thường điện giải
  • Dậy thì muộn hoặc không dậy thì
  • Những thay đổi bất ngờ ở tuổi dậy thì

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Liên giới tính có thể được chia thành 4 nhóm: Liên giới tính 46, XX, Liên giới tính 46, XY, Liên giới tính tuyến sinh dục thật sự và Liên giới tính phức tạp hoặc không xác định

Dưới đây là thông tin chi tiết về mỗi nhóm (Lưu ý: Ở nhiều trẻ, có thể nguyên nhân gây liên giới tính vẫn chưa được xác định, ngay cả với các kỹ thuật chẩn đoán hiện đại)[13][14][15]

Liên giới tính 46, XX[sửa | sửa mã nguồn]

Là những cá thể mang nhiễm sắc thể quy định giới tính nữ, có tuyến sinh dục là buồng trứng, nhưng cơ quan sinh dục ngoài lại giống của nam giới. Phần lớn nguyên nhân được giải thích là do thai nhi đã chịu ảnh hưởng bởi một lượng hormone nam dư thừa trước khi sinh. Các môi âm hộ (nếp da phía ngoài cơ quan sinh dục nữ) dính lại, âm vật nở lớn nên trông như dương vật. Trong hầu hết các trường hợp, người này có tử cung và ống dẫn trứng bình thường. Tình trạng này còn được gọi là sự nam hoá (46, XX), trước đây từng được gọi là nữ lưỡng tính giả. Có nhiều nguyên nhân gây nam hoá:

  • Tăng sản thượng thận bẩm sinh (nguyên nhân phổ biến nhất).
  • Mẹ sử dụng hoặc tiếp xúc với nội tiết tố nam (như testosterone) trong thai kì
  • Mẹ có khối u sản xuất hormone nam: Chủ yếu là các khối u buồng trứng. Những người mẹ sinh con liên giới tính 46, XX nên được tầm soát, trừ khi đã biết rõ nguyên nhân.
  • Thiếu Aromatase: Tình trạng này có thể không đáng chú ý cho đến tuổi dậy thì. Aromatase là một loại enzyme giúp chuyển hoá nội tiết tố nam thành nội tiết tố nữ. Quá nhiều aromatase hoạt động có thể dẫn đến dư thừa estrogen (nội tiết tố nữ); quá ít aromatase dẫn đến đến liên giới tính 46, XX. Ở tuổi dậy thì, những đứa trẻ mang NST XX vốn đã được nuôi dạy như con gái, có thể bắt đầu xuất hiện những đặc điểm nam giới.

Liên giới tính 46, XY[sửa | sửa mã nguồn]

Là cá thể mang nhiễm sắc thể quy định giới tính nam, nhưng cơ quan sinh dục ngoài được hình thành không hoàn chỉnh, hình dạng mơ hồ hoặc giống hệt cơ quan sinh dục nữ. Cơ quan sinh dục trong là tinh hoàn, có thể bình thường, dị dạng hoặc không có. Tình trạng này còn được gọi là 46, XY không được nam hoá, trước đây từng được gọi là nam lưỡng tính giả. Sự hình thành cơ quan sinh dục ngoài bình thường của nam giới phụ thuộc vào mức cân bằng thích hợp giữa nội tiết tố nam và nữ. Do đó, nội tiết tố nam đòi hỏi phải được sản xuất một lượng thích hợp và đầy đủ chức năng. Liên giới tính 46, XY có thể do nhiều nguyên nhân:

  • Các vấn đề về tinh hoàn: Tinh hoàn bình thường sản sinh nội tiết tố nam. Nếu tinh hoàn không được hình thành đúng cách sẽ dẫn đến sự không được nam hoá. Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này, trong đó bao gồm loạn sản tuyến sinh dục XY thuần túy.
  • Các vấn đề trong quá trình hình thành testosterone: Testosterone được tạo thành qua nhiều chuyển hoá trung gian. Mỗi chuyển hoái đều đòi hỏi một loại enzyme khác nhau. Sự thiếu hụt bất kỳ enzyme nào trong số này đều có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt testosterone, gây ra một dạng liên giới tính 46, XY. Các nhóm bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh có thể phân vào nguyên nhân này.
  • Các vấn đề trong sử dụng testosterone: Một số người có tinh hoàn bình thường, sản sinh đủ lượng testosterone nhưng vẫn mang liên giới tính 46, XY, do các tình trạng như thiếu hụt men 5-alpha-reductase hoặc hội chứng không nhạy cảm androgen (AIS).
  • Những người thiếu men 5-alpha-reductase không có enzyme cần thiết để chuyển hoá testosterone thành dihydrotestosterone (DHT). Có ít nhất 5 loại thiếu hụt men 5-alpha-reductase khác nhau. Một số ít trẻ có cơ quan sinh dục nam bình thường, một số ít trẻ có cơ quan sinh dục nữ bình thường, nhiều trẻ có cơ quan sinh dục trung gian giữa nam và nữ. Khi đến tuổi dậy thì, hầu hết biến đổi thành cơ quan sinh dục nam.
  • AIS là nguyên nhân phổ biến nhất gây liên giới tính 46, XY; hay còn gọi là nữ hoá tinh hoàn. Trong trường hợp này, các hormone đều bình thường, nhưng các thụ thể hormone nam không có chức năng. Cho đến nay, có hơn 150 khiếm khuyết khác nhau đã được xác định, và mỗi loại đều gây ra một kiểu AIS khác nhau.

Liên giới tính tuyến sinh dục thật sự[sửa | sửa mã nguồn]

Là cá thể có cả mô buồng trứng và mô tinh hoàn. Các mô này có thể nằm ở cùng một tuyến sinh dục (tuyến sinh dục lưỡng tính), hoặc có thể có 1 buồng trứng và 1 tinh hoàn riêng biệt. Người này có thể mang nhiễm sắc thể XX, nhiễm sắc thể XY, hoặc cả hai. Cơ quan sinh dục ngoài có thể mơ hồ, có thể giống cơ quan sinh dục nữ, cũng có thể giống cơ quan sinh dục nam. Tình trạng này từng được gọi là lưỡng tính thật. Ở hầu hết những người liên giới tính tuyến sinh dục thực sự, nguyên nhân vẫn chưa được biết rõ, dù vậy theo một số nghiên cứu trên động vật, tình trạng này có thể liên quan đến tiếp xúc với thuốc trừ sâu nông nghiệp nói chung.

Liên giới tính phức tạp hoặc không xác định do rối loạn phát triển giới tính[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều trật tự nhiễm sắc thể ngoài 46, XX và 46, XY cũng có thể dẫn tới rối loạn phát triển giới tính. Các trật tự này bao gồm 45, XO (chỉ có một nhiễm sắc thể X), 47, XXY; 47, XXX – ở hai trường hợp này có thêm một nhiễm sắc thể giới tính X hoặc Y. Những rối loạn này không gây ra sự khác biệt giữa cơ quan sinh dục trong và ngoài. Tuy nhiên, có thể có rối loạn lượng hormone giới tính, sự phát triển giới tính nói chung và số lượng nhiễm sắc thể giới tính cũng bị thay đổi.

Điều trị[sửa | sửa mã nguồn]

Trong điều kiện lý tưởng, một nhóm các nhân viên y tế có chuyên môn về liên giới tính nên làm việc cùng nhau để hiểu, điều trị trẻ liên giới tính và hỗ trợ gia đình.

Cha mẹ nên hiểu những tranh cãi và thay đổi trong điều trị liên giới tính những năm gần đây. Trước đây, hầu hết ý kiến cho rằng xác định giới tính càng nhanh thì càng tốt. Việc xác định này thường dựa trên cơ quan sinh dục ngoài thay vì nhiễm sắc thể giới tính. Phụ huynh được dạy rằng giới của một đứa trẻ phải rõ ràng, hoặc là nam, hoặc là nữ. Phẫu thuật ngay lập tức thường được khuyến nghị. Mô buồng trứng hoặc tinh hoàn của giới tính kia bị loại bỏ. Nhìn chung, tái tạo cơ quan sinh dục nữ được cho là dễ dàng hơn so với tái tạo một cơ quan sinh dục nam đầy đủ chức năng, nên nếu lựa chọn “chính xác” không rõ ràng, đứa trẻ thường được xác định là con gái.

Gần đây, ý kiến của nhiều chuyên gia đã thay đổi. Sự tôn trọng của các chuyên gia đối với sự phức tạp trong các chức năng sinh dục của nữ giới đã khiến họ kết luận rằng cơ quan sinh dục nữ dưới mức tối ưu có thể không tốt hơn cơ quan sinh dục nam dưới mức tối ưu, ngay cả khi việc tái tạo lại là “dễ dàng hơn”. Thêm vào đó, trong sự hài lòng về giới còn có những yếu tố khác quan trọng hơn chức năng của cơ quan sinh dục ngoài. Các yếu tố nhiễm sắc thể, thần kinh, nội tiết tố, tâm lý và hành vi đều có thể ảnh hưởng đến bản dạng giới.

Hiện nay nhiều chuyên gia kêu gọi trì hoãn phẫu thuật xác định giới tính miễn là trẻ vẫn khỏe mạnh, và đứa trẻ được quyền quyết định giới tính của mình.

Rõ ràng liên giới tính là một vấn đề phức tạp và quá trình điều trị có những hậu quả ngắn hạn và dài hạn. Câu trả lời tốt nhất phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm nguyên nhân cụ thể của tình trạng liên giới tính. Dành thời gian để hiểu các vấn đề trước khi đưa ra quyết định là tốt nhất. Một nhóm hỗ trợ về liên giới tính có thể giúp các gia đình hiểu được những nghiên cứu mới nhất, và có thể tạo ra một cộng đồng cho các gia đình, trẻ em, những người trưởng thành đã và đang phải đối mặt với các vấn đề tương tự.[13][14][15]

Truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Salmacis và Hermaphroditos nhập làm một

Truyền thuyết về những người có giới tính không xác định đã xuất hiện từ thời cổ đại. Hai vị thần HermesAphrodite đã ghép tên họ để đặt cho con trai là Hermaphroditos. Vì tiên nữ (nymph) Salmacis yêu Hermaphroditos nhưng bị từ chối nên đã ước nguyện thân thể hai người nhập làm một. Lời ước được chứng giám, và xuất hiện một con người vừa nam vừa nữ, hình tượng được thể hiện như là vừa có vú vừa có dương vật. Thần thoại Hy Lạp cũng nói đến Tiresias là người mà theo huyền thoại khi thì là đàn ông, khi thì là phụ nữ.[16]

Những nhân vật liên giới tính nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Saner, Emine (29 tháng 7 năm 2008). “The gender trap: testing the sex of Olympians competing in Beijing”. The Guardian (bằng tiếng en-GB). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2020. 
  2. ^ “Định nghĩa về Liên giới tính”. Rất Đỗi Bê Đê. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2020. 
  3. ^ Mason H.J. (1978). “Favorinus' Disorder: Reifenstein's Syndrome in Antiquity?”. Janus 66 (1–2–3): 1–13. PMID 11610651. 
  4. ^ Nguyễn Khắc Thuần (1998), Việt sử giai thoại (History of Vietnam's tales), vol. 8, Vietnam Education Publishing House, p. 55
  5. ^ a ă â Zucker, Kenneth J.; Bradley, Susan J.; Sullivan, Claire B. Lowry (tháng 3 năm 1992). “Gender Identity Disorder in Children”. Annual Review of Sex Research 3 (1): 73–120. ISSN 1053-2528. doi:10.1080/10532528.1992.10559876. 
  6. ^ Dreger, Alice D.; Chase, Cheryl; Sousa, Aron; Gruppuso, Phillip A.; Frader, Joel (18 tháng 8 năm 2005). “Changing the Nomenclature/Taxonomy for Intersex: A Scientific and Clinical Rationale”. Journal of Pediatric Endocrinology and Metabolism 18 (8): 729–33. PMID 16200837. doi:10.1515/JPEM.2005.18.8.729. 
  7. ^ Holmes, Morgan (tháng 9 năm 2011). “The Intersex Enchiridion: Naming and Knowledge”. Somatechnics 1 (2): 388–411. ISSN 2044-0138. doi:10.3366/soma.2011.0026. 
  8. ^ Submission 88 to the Australian Senate inquiry on the involuntary or coerced sterilisation of people with disabilities in Australia Lưu trữ 23 September 2015 tại Wayback Machine., Australasian Paediatric Endocrine Group (APEG), 27 June 2013
  9. ^ Report of the UN Special Rapporteur on Torture Lưu trữ 24 August 2016 tại Wayback Machine., Office of the UN High Commissioner for Human Rights, February 2013.
  10. ^ Eliminating forced, coercive and otherwise involuntary sterilization, An interagency statement Lưu trữ 11 July 2015 tại Wayback Machine., World Health Organization, May 2014.
  11. ^ Senate of Australia; Community Affairs References Committee (2013). Involuntary or coerced sterilisation of intersex people in Australia. Australian Senate (Canberra). ISBN 978-1-74229-917-4. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  12. ^ “Intersex”. Gender Wikia. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2020. 
  13. ^ a ă â “Intersex”. MedlinePlus. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2020. 
  14. ^ a ă â “Y học Bách khoa toàn thư: Liên giới tính”. Rất Đỗi Bê Đê. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2020. 
  15. ^ a ă â Donohoue PA. Disorders of sex development. In: Kliegman RM, Stanton BF, St. Geme JW, Schor NF, eds. Nelson Textbook of Pediatrics. 20th ed. Philadelphia, PA: Elsevier; 2016:chap 588. Wherrett DK. Approach to the infant with a suspected disorder of sex development. Pediatr Clin North Am. 2015;62(4):983-999. PMID: 26210628 www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/26210628
  16. ^ Hesiod, Melampodia, Fragment 3: Teiresias.
    Scholiast on Homer, Odyssey, x. 494:
    They say that Teiresias saw two snakes mating on Cithaeron and that, when he killed the female, he was changed into a woman, and again, when he killed the male, took again his own nature. This same Teiresias was chosen by Zeus and Hera to decide the question whether the male or the female has most pleasure in intercourse. And he said: "Of ten parts a man enjoys only one; but a woman's sense enjoys all ten in full." For this Hera was angry and blinded him, but Zeus gave him the seer's power.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]