Chuyển đổi giới tính

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Biểu tượng
Một người chuyển giới với chữ XY viết trên tay trong một cuộc biểu tìnhParis ngày 1 tháng 10 năm 2005.

Chuyển đổi giới tính (hoặc gọi tắt là Chuyển giới) là khái niệm dùng để chỉ những biện pháp y khoa dùng để thay đổi giới tính của một người, bao gồm những công đoạn như kiểm tra tâm lý, tiêm nội tiết tố, và cuối cùng là phẫu thuật chuyển đổi bộ phận sinh dục... Người đã thực hiện chuyển đổi giới tính được định nghĩa là người đã phẫu thuật chuyển đổi bộ phận sinh dục của nam thành nữ hoặc ngược lại (cắt bỏ dương vậttinh hoàn rồi tạo hình âm đạo giả đối với nam chuyển giới, hoặc cắt bỏ âm đạo và buồng trứng rồi tạo hình dương vật giả đối với nữ chuyển giới)[1]. Các dạng phẫu thuật thẩm mỹ khác có thể đi kèm (tiêm nội tiết tố, phẫu thuật ngực, hông, khuôn mặt...) nhưng chúng không được coi là phẫu thuật chuyển giới, vì chỉ khi can thiệp vào bộ phận sinh dục thì mới được coi là chuyển giới. Do đó, đa số các nước chỉ cho phép thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thânhộ tịch sau khi người chuyển giới đã phẫu thuật thay đổi bộ phận sinh dục, còn nếu chỉ sử dụng nội tiết tố và phẫu thuật ngực thì vẫn chưa thể được thay đổi giới tính trên giấy tờ và hộ tịch[2]

Chuyển đổi giới tính không hoàn toàn đồng nhất với thuật ngữ "Người chuyển giới" (Transgender) dùng để chỉ những người có cảm nhận giới tính khác với giới tính của cơ thể (giới tính sinh học) của mình, bất kể rằng người này có thực hiện chuyển đổi giới tính hay không.

Các biện pháp chuyển đổi giới tính thường không được thực hiện với trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi (do chưa đủ tuổi trưởng thành và cũng dễ gặp tai biến y tế hơn), mặc dù trong một số trường hợp hiếm hoi có thể được thực hiện với những lý do đột xuất.[3] Riêng trẻ sơ sinh liên giới tính (một dạng dị tật khiến bộ phận sinh dục không được định hình chính xác) có thể trải qua các biện pháp can thiệp chỉ ít lâu sau khi sinh, với sự đồng ý của cha mẹ[4]

Chuyển đổi giới tính là vấn đề gây tranh cãi lớn, do lo ngại về hệ lụy về sức khỏe và xã hội (gây xung đột với các tư tưởng tôn giáo hoặc các giá trị văn hóa, những hậu quả về pháp lý, y tế, giáo dục gây ra với xã hội...) Nhiều chuyên gia y tế khẳng định rằng không nên thực hiện chuyển giới cho những người có cơ thể đã hoàn thiện về giới tính vì nhiều hậu quả về sức khỏe sẽ xảy ra, thay vào đó nên trị liệu tâm lý để họ không còn muốn chuyển giới nữa. Việc chuyển giới chỉ nên thực hiện với người lưỡng tính (người có bộ phận sinh dục bị khuyết tật, không xác định rõ là nam hay nữ)[5] Một số chuyên gia như Paul R. McHugh (giám đốc Khoa Tâm thần và Khoa học Hành vi Đại học Johns Hopkins) đi xa hơn, tuyên bố rằng việc chuyển đổi giới tính là vô đạo đức do nó sẽ "phá hủy một cơ thể khỏe mạnh", và nên cấm thực hiện hoạt động này đối với những người có cơ thể đã hoàn thiện về giới tính[6][7]

Hiện nay, chỉ có 71 quốc gia (trên tổng số 220 quốc gia và vùng lãnh thổ) cho phép phẫu thuật chuyển giới, trong đó chỉ có 10 quốc gia ở châu Á. Nhiều nước (như Philippines) chỉ cho phép phẫu thuật chuyển giới đối với người lưỡng tính (người có bộ phận sinh dục bị khuyết tật, không xác định rõ là nam hay nữ), còn những người có cơ thể đã hoàn thiện về giới tính thì không cho phép chuyển giới[8][9] Tại đa số các nước cho phép chuyển giới (60/71 nước), người chuyển giới chỉ được thay đổi giới tính trong giấy tờ tùy thân sau khi cung cấp bằng chứng y tế rằng phẫu thuật chuyển đổi bộ phận sinh dục đã được thực hiện[2]

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Những trường hợp bị khuyết tật bẩm sinh về cơ quan sinh dục khiến việc xác định giới tính trở nên không rõ ràng, cần phải phẫu thuật để chỉnh sửa khiếm khuyết thì gọi là "xác định lại giới tính".

Trong khi đó, người có mong muốn "chuyển đổi giới tính" thì có cơ thể hoàn toàn bình thường, nhưng về mặt tâm thần của họ có những biểu hiện sau:

  • Tự cho bản thân thuộc giới tính khác: những người này hoàn toàn bình thường về giải phẫu và sinh học nhưng tự cho bản thân thuộc giới tính khác và tìm cách thực hiện ý định chuyển đổi giới tính bằng các phương pháp phẫu thuật và sinh hóa (tiêm nội tiết tố - Hormone).
  • Trạng thái tự cải trang quần áo để biểu lộ thành giới khác: là những người chỉ thích mặc quần áo khác giới để cảm thấy mình đặc biệt so với giới tính sinh học của mình.

Những trường hợp này còn gọi là Rối loạn định dạng giới (Gender Identity Disorder). Năm 1980, Hiệp hội Tâm thần học Mỹ (APA) chính thức phân loại Rối loạn định dạng giới là một dạng bệnh tâm thần[10].

Các quy định chẩn đoán về chuyển giới, rối loạn định dạng giới ở thanh thiếu niên và người trưởng thành được liệt kê chung trong Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật (ICD) và Thống kê các chứng rối loạn tâm thần (DSM) của Hội chẩn đoán y khoa Hoa Kỳ.[11] Rối loạn định dạng giới cũng được phân loại như là một chứng rối loạn tâm thần bởi Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật phiên bản 10 (ICD-10), biểu hiện của nó là những hành vi, thái độ chối bỏ giới tính của bản thân mình, gồm các tiêu chuẩn chẩn đoán[12]:

  • Muốn được sống và chấp nhận như một người khác giới tính, thường đi kèm với những mong muốn làm cho cơ thể, ngoại hình càng giống người khác giới càng tốt (qua trang phục, đi đứng, cách cư xử, thậm chí qua phẫu thuật chuyển giới), dù các bộ phận giới tính và sinh lý cơ thể của họ hoàn toàn bình thường và không bị dị tật.
  • Tâm lý trên tồn tại liên tục trong ít nhất 2 năm.
  • Rối loạn định dạng giới có biểu hiện rõ ngay cả ở trẻ nhỏ (APA, 2000). Ví dụ: một trẻ nam bị rối loạn này ưa thích các trò chơi và các hoạt động dành cho giới nữ: thích chơi với búp bê hơn là ô tô, lính nhựa, thích tô son, mặc váy trong khi tránh né các trò chơi gây hấn điển hình dành cho trẻ nam như đấu vật, chọi tay... Trẻ đòi ngồi khi đi tiểu và thường che giấu dương vật của mình (APA, 2000). Trẻ có thể biểu hiện khó chịu với dương vật của mình, muốn hủy hoại dương vật để thay thế nó bằng cơ quan sinh dục nữ.

Trong Cẩm nang chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần phiên bản 5 (DSM-V), được phát hành vào năm 2013 và hiện đang được sử dụng ở Hoa KỳCanada, chứng bệnh "Rối loạn định dạng giới" được đổi tên thành "Bức bối giới tính" (hoặc "Phiền muộn giới tính")[13]

Trong Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật phiên bản 11 (ICD-11) của Tổ chức Y tế Thế giới, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2022, tại mục "các vấn đề liên quan đến sức khỏe giới tính", chứng bệnh "Rối loạn định dạng giới" được đổi tên là "Không phù hợp về giới". Chứng bệnh này được định nghĩa là "sự bất hợp lý rõ rệt và dai dẳng giữa giới tính trong cảm nhận và giới tính được xác định của một cá nhân". Nó được mã hóa thành ba nhóm:[14]

  • Bất hợp giới tính ở tuổi vị thành niên hoặc tuổi trưởng thành (HA60): thay thế F64.0
  • Bất hợp giới tính trong thời thơ ấu (HA61): thay thế F64.2
  • Bất hợp giới tính, không xác định (HA6Z): thay thế F64.9

Ước tính có khoảng 0,005% đến 0,014% nam giới và 0,002% đến 0,003% nữ giới được chẩn đoán mắc chứng Rối loạn định dạng giới, dựa trên các tiêu chí chẩn đoán hiện tại[15] Rối loạn định dạng giới nếu không được phát hiện và chữa trị thì tâm lý trên sẽ trở nên mạnh hơn, bệnh nhân sẽ chối bỏ giới tính của cơ thể và muốn được tiến hành phẫu thuật chuyển đổi giới tính.[16] Theo một đánh giá có hệ thống năm 2016 ở các nước Âu - Mỹ, ước tính cứ 100.000 người tại đây thì có 9,2 người đã thực hiện hoặc từng yêu cầu phẫu thuật chuyển giới tính hoặc sử dụng liệu pháp hormone chuyển giới; trong số đó thì có 6,8 người (tương đương 0,0068%) đã thực hiện các can thiệp y tế dành riêng cho người chuyển giới[17]

Tiến sĩ Paul R. McHugh – trưởng khoa tâm thần của Bệnh viện Johns Hopkins, Giáo sư tâm thần với danh hiệu phục vụ xuất sắc (Distinguished Service Professor) khẳng định: người chuyển giới (Transgender) là một chứng rối loạn tâm thần có tên là rối loạn định dạng giới và họ cần được điều trị về tâm lý, chuyển đổi giới tính thực ra là việc “phá hủy một cơ thể khỏe mạnh” và không thể thành công (vì các bộ phận nhân tạo không thể có chức năng như bộ phận tự nhiên). Những người cổ vũ hợp pháp hóa việc phẫu thuật chuyển giới đã vô tình ủng hộ việc bệnh nhân rối loạn tâm thần tự tàn phá cơ thể mình, trong khi lẽ ra phải giúp họ chữa trị về tâm thần để không còn muốn chuyển giới nữa. Ông nói[18]:

Những người lập chính sách và truyền thông đã không làm việc có ích cho công chúng hoặc những người nghĩ rằng giới tính của họ không đúng với thể chất. Trái lại, họ bóp méo bản chất rối loạn tâm thần của những người này thành một dạng "nhân quyền cần được bảo vệ", họ cổ vũ người chuyển giới "sống thật với bản thân", trong khi bản chất thực sự của chuyển giới là một rối loạn tâm thần cần có sự thông hiểu, điều trị và phòng ngừa.
Cảm giác mãnh liệt về việc chối bỏ giới tính cơ thể đã tạo nên một rối loạn tâm thần theo hai khía cạnh. Thứ nhất là sự không tương ứng giữa tâm lý với thực tại thể chất. Khía cạnh thứ hai là cảm giác này có thể đưa đến kết quả tâm lý rất đáng sợ: Đây là một rối loạn tâm thần gây hại tương tự như việc một người gầy ốm nhưng lại chán ăn và luôn nghĩ rằng họ bị thừa cân
Những người ủng hộ chuyển giới không muốn biết rằng những nghiên cứu cho thấy khoảng 70-80% trẻ em bộc lộ những cảm giác rối loạn giới tính đã mất đi những cảm giác này một cách tự nhiên theo thời gian. Và vì thế, chúng tôi (Bệnh viện Johns Hopkins) đã ngừng phẫu thuật chuyển giới, vì làm hài lòng một bệnh nhân tâm thần không thể là lý do biện minh cho việc cắt cụt những bộ phận bình thường của cơ thể họ.
Thay đổi giới tính vốn là điều không thể làm được về mặt sinh học. Những người phẫu thuật chuyển giới sẽ không thay đổi từ nam sang nữ hoặc ngược lại. Thực chất, họ vẫn là những người nam bị nữ hoá hoặc người nữ bị nam hoá. Các tuyên bố kiểu như "chuyển đổi giới tính là quyền dân sự" và việc hợp pháp hóa phẫu thuật chuyển giới thực ra chính là sự cổ súy cho bệnh nhân rối loạn tâm thần tự gây hại cho sức khỏe của mình."

Nghiên cứu về bộ não[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1995 và 2000, 2 nhóm nghiên cứu độc lập so sánh một vùng của não bộ (BSTc) của cả phụ nữ và đàn ông chuyển giới lẫn hợp giới. BSTc của đàn ông to và dày đặc gấp đôi phụ nữ, đây có vẻ là một đặc trưng để so sánh não nam và nữ. Cả hai nhóm đều phát hiện ra rằng phụ nữ chuyển giới có BSTc giống với phụ nữ hợp giới và đàn ông chuyển giới cũng có BSTc giống đàn ông hợp giới. Nhiều nghiên cứu đã xác nhận những phát hiện trên. Mặc dù việc trị liệu hormone có thể ảnh hưởng đến các kết quả nói trên, điều này gợi ra một vài giả thuyết về nguồn gốc của sự khác nhau này: não phát triển chủ yếu trong quá trình mang thai, và những người chuyển giới nam có thể bị thiếu estrogen trong quá trình này, có thể là do thiếu hormone trong môi trường hoặc phôi tiếp thu tín hiệu yếu.[19] Như vậy, nguyên nhân dẫn tới việc một người là chuyển giới hay hợp giới dường như phụ thuộc vào cấu trúc não của bản thân họ, về việc họ sinh ra có não của giới nào.[20]

Ảnh hưởng về pháp lý và xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Pháp lý, văn hóa và xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh việc xung đột với các tư tưởng tôn giáo hoặc các giá trị văn hóa, việc cho phép chuyển đổi giới tính gây lo ngại về những hậu quả pháp lý sẽ xảy ra nếu việc này được pháp luật cho phép tiến hành, ví dụ như[21][22][23][24][25][26]:

  • Nhiều người (đa số là nam giới sẽ chuyển đổi giới tính thành "nữ") để trốn tránh nghĩa vụ quân sự, đặc biệt là khi đất nước sắp có chiến tranh.
  • Chuyển đổi giới tính mục đích phạm tội như gian lận trong thể thao, trốn truy nã, hoạt động lừa đảo, mại dâm...
  • Nếu người chuyển giới đang kết hôn thì sau khi chuyển giới, chồng/vợ của họ sẽ chịu đau khổ do mất đi người bạn đời, làm gia đình tan vỡ và kéo theo đó là kiện cáo, tranh chấp các quyền lợi, nghĩa vụ trong hôn nhân (việc cấp dưỡng, nuôi con, chia tài sản...)
  • Nếu người chuyển giới đã có con thì đứa trẻ sẽ "bỗng nhiên" bị mất cha/mẹ trên giấy tờ tùy thân và trong cuộc sống gia đình, dẫn tới nhiều hệ lụy xấu cho đứa trẻ về sau.
  • Phẫu thuật chuyển giới dễ dẫn tới tai biến do hàng loạt các cuộc phẫu thuật liên tiếp, dẫn tới các vụ kiện cáo sau này.
  • Người chuyển giới thường gặp phải các di chứng sức khỏe nên họ rất dễ bị trầm cảm, tỷ lệ tự sát cao do hối hận.
  • Người tiến hành chuyển giới sẽ phải chịu sự phản đối của người thân, gia đình và họ hàng, về lâu dài sẽ dẫn tới gia tăng tỷ lệ phạm tội, các bất ổn xã hội và tâm lý chống đối Nhà nước.
  • Việc phẫu thuật và tiêm hoóc-môn (nội tiết tố giới tính) liên tục khiến người chuyển giới mắc nhiều tác dụng phụ, sức khỏe suy yếu và bị giảm đáng kể tuổi thọ, tạo ra gánh nặng cho gia đình, hệ thống y tế và an sinh xã hội.
  • Người chuyển giới không thể sinh sản tự nhiên được nữa, làm gia tăng tình trạng già hóa dân số.

Tại khu vực châu Á, nơi các giá trị về huyết thống gia đình và thứ bậc trong quan hệ họ hàng được coi trọng, chuyển giới là một vấn đề gây nhiều phản đối trong văn hóa - xã hội. Tại các nước Đông Á (Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc…), nơi đạo đức gắn liền với quan hệ gia đình và thờ cúng tổ tiên là truyền thống lâu đời, việc chuyển giới bị coi là sự bất hiếu (vì người chuyển giới đã cố ý phá hủy cơ thể hoàn chỉnh mà cha mẹ họ đã khó nhọc sinh thành và nuôi dưỡng), khiến gia đình đau buồn và làm đổ vỡ các mối quan hệ với họ hàng thân thuộc.[27]

Vấn đề hôn nhân của người đã phẫu thuật chuyển giới cũng là một vấn đề rất phức tạp. Nếu được thay đổi giấy tờ tùy thân, họ có thể kết hôn mà vợ/chồng họ không hề biết mình đã lấy phải người chuyển giới, tạo ra nguy cơ tan vỡ gia đình. Ví dụ, năm 2012, một người đàn ông tại Bỉ đã phát hiện ra vợ của mình thực chất là đàn ông chuyển giới, sau khi 2 người đã chung sống với nhau suốt 19 năm. Sau khi biết được sự thật, người chồng phải điều trị tâm lý do bị cú sốc quá lớn, đồng thời ông đã lập tức nộp đơn xin ly dị lên tòa án[28]

Do có nhiều lo ngại về pháp lý và xã hội, hiện chỉ có 71 quốc gia (trên tổng số 220 quốc gia và vùng lãnh thổ) cho phép thực hiện chuyển đổi giới tính, trong đó chỉ có 10 quốc gia ở châu Á[8][9]. Trong đó, nhiều nước (như Philippines) chỉ cho phép phẫu thuật chuyển giới đối với những trường hợp đặc biệt là người lưỡng tính (người có bộ phận sinh dục bị khuyết tật, không xác định rõ là nam hay nữ), còn những người có cơ thể đã hoàn thiện về giới tính thì không cho phép chuyển giới[29]

Vấn đề pháp lý về hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Vấn đề hôn nhân của người chuyển giới là một vấn đề phức tạp. Trong trường hợp người chuyển giới đang có quan hệ hôn nhân, thì sau khi chuyển giới, họ sẽ trở thành người có cùng giới tính với vợ/chồng của mình, như vậy hôn nhân của họ sẽ trở thành hôn nhân đồng giới, nhưng pháp luật đa số các nước trên thế giới không công nhận kiểu hôn nhân này. Để giải quyết vấn đề, các nước như Singapore quy định rằng: nếu người chuyển giới đang có quan hệ hôn nhân, thì trước khi thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân và hộ tịch, quan hệ hôn nhân của họ sẽ phải được tòa án hủy bỏ[30] Nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản... thì quy định chặt chẽ hơn: một người chỉ được chuyển giới khi đang độc thân và không có con cái (để tránh ảnh hưởng tiêu cực tới vợ chồng và con cái của họ)[4][31]

Điều kiện để chuyển đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân và hộ tịch[sửa | sửa mã nguồn]

Pháp luật các nước xác định giới tính của một người chủ yếu dựa vào đặc điểm bộ phận sinh dục. Một số người chuyển giới sử dụng nội tiết tố (hoóc-môn) nhân tạo qua đường tiêm hoặc uống và phẫu thuật ngực, nhằm khiến một số đặc điểm ngoại hình của họ biến đổi sang giới tính kia, nhưng cần lưu ý là tác dụng của nội tiết tố chỉ là tạm thời. Nếu người chuyển giới ngừng sử dụng nội tiết tố thì chỉ sau một thời gian ngắn (khoảng mấy tháng), nội tiết tố nhân tạo sẽ bị cơ thể đào thải, và các đặc điểm giới tính của họ sẽ quay trở về như giới tính ban đầu. Có nhiều người chuyển giới không hề phẫu thuật bộ phận sinh dục mà chỉ dùng nội tiết tố và phẫu thuật ngực, tuy ngoại hình của họ biến đổi nhưng xét về bản chất thì họ vẫn mang giới tính cũ chứ chưa hề chuyển đổi giới tính, bởi các bộ phận sinh dục, các tuyến hormone trong cơ thể họ vẫn còn nguyên vẹn và còn đầy đủ chức năng, chỉ cần ngừng sử dụng nội tiết tố nhân tạo là họ sẽ trở về như giới tính ban đầu. Bởi vậy, để tránh sự mập mờ về giới tính hoặc pháp luật (giấy tờ là nam nhưng cơ thể lại là nữ hoặc ngược lại), đa số các nước chỉ cho phép thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân sau khi người chuyển giới đã phẫu thuật thay đổi bộ phận sinh dục, còn nếu chỉ sử dụng nội tiết tố hoặc chỉ phẫu thuật ngực thì vẫn chưa thể được thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân[2]

Hiện nay, có một số quốc gia như Hà Lan không yêu cầu phải phẫu thuật chuyển đổi bộ phận sinh dục để thay đổi giới tính trong giấy tờ tùy thân. Theo đó, tại những nước này, chỉ cần sử dụng nội tiết tố hoặc phẫu thuật ngực, hoặc thậm chí chỉ cần có giấy xác nhận tâm lý muốn chuyển giới do bệnh viện cấp là sẽ được thay đổi giới tính trong giấy tờ tùy thân[32] Tuy nhiên, cơ quan lập pháp tại nhiều nước khác cho rằng quy định theo hướng "thả lỏng" như vậy sẽ tạo ra sự mâu thuẫn giữa giới tính cơ thể và giới tính trên giấy tờ tùy thân của nhiều người. Cụ thể, nhiều người vẫn có bộ phận sinh dục nam nhưng giấy tờ tùy thân của họ lại chuyển thành "nữ" hoặc ngược lại (do những người đó chưa hề phẫu thuật chuyển đổi bộ phận sinh dục). Điều này sẽ gây ra nhiều rủi ro pháp lý và xã hội[33]:

  • Nếu người đó đăng ký kết hôn, thì trên giấy tờ họ khác giới tính với vợ/chồng mình, nhưng trong thực tế thì đó là 2 người cùng giới tính (do vẫn có cùng kiểu bộ phận sinh dục), như vậy là gián tiếp công nhận hôn nhân đồng tính (trong khi luật pháp đa số các nước không công nhận kiểu hôn nhân này)
  • Người được chuyển đổi giới tính trên giấy tờ nhưng không chuyển đổi bộ phận sinh dục, thì vẫn có đầy đủ khả năng sinh dục của giới tính gốc và sinh con với người khác, khi đó thì không thể khai sinh và giải quyết chế độ thai sản (vì người mẹ trên giấy tờ lại là “nam”, hoặc người cha trên giấy tờ lại là “nữ”)
  • Người nam chuyển đổi giấy tờ thành “nữ” thì sẽ được miễn nghĩa vụ quân sự, dù thực tế họ vẫn có đầy đủ năng lực thể chất như các nam công dân khác. Trong trường hợp này, Luật chuyển giới sẽ bị lợi dụng để trốn tránh nghĩa vụ quân sự
  • Một số quyền và nghĩa vụ, tuổi nghỉ hưu, tuổi kết hôn, bảo hiểm, chế độ thai sản... được pháp luật quy định khác nhau giữa nam và nữ, nếu có sự khác nhau giữa giới tính cơ thể và giới tính trên giấy tờ tùy thân thì sẽ gây rắc rối trong việc áp dụng.
  • Nhiều vấn đề phức tạp khác cũng sẽ nảy sinh trong đời sống xã hội khi bộ phận sinh dục trên cơ thể không giống với giấy tờ tùy thân (ví dụ như đăng ký phòng tại ký túc xá, sử dụng nhà vệ sinh, nhà tắm, khám chữa bệnh...)
  • Những người có tâm lý giới tính dễ thay đổi (Linh hoạt giới) sẽ liên tục thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân của họ tùy theo mong muốn trong từng giai đoạn cuộc đời, dẫn tới khó khăn trong việc quản lý hôn nhân, hộ tịch của nhà nước.
  • Nhiều người sẽ hối lộ bác sĩ để được xác nhận là người chuyển giới (dù bản thân họ không hề muốn chuyển giới), nhằm những mục đích vụ lợi như trốn nghĩa vụ quân sự, gian lận tuổi nghỉ hưu, chiếm đoạt trợ cấp...

Tại Argentina, nước này cho phép thay đổi giới tính trong giấy tờ tùy thân một cách khá dễ dàng (không yêu cầu phẫu thuật bộ phận sinh dục). Một người đàn ông là Sergio Lazarovich đã gây ra vụ tranh cãi lớn về pháp lý khi cố ý lợi dụng kẽ hở này để thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân từ "nam" sang "nữ" nhằm được về hưu ở tuổi 60 thay vì 65 như những nam giới khác, dù thực tế Sergio không hề muốn chuyển giới, ông đã có vợ con và từng nhiều lần phát ngôn chỉ trích những người chuyển giới[34]

Do những lo ngại về rủi ro pháp lý và xã hội, hiện chỉ có 11 quốc gia (chủ yếu ở châu Âu) cho phép thay đổi giới tính trong giấy tờ tùy thân và hộ tịch mà không yêu cầu phải phẫu thuật chuyển đổi bộ phận sinh dục. Còn tại đa số các nước cho phép chuyển giới (ví dụ như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore...), người chuyển giới chỉ được thay đổi giới tính trong giấy tờ tùy thân và hộ tịch sau khi cung cấp bằng chứng y tế rằng phẫu thuật chuyển đổi bộ phận sinh dục đã được thực hiện[2]

Ảnh hưởng về sức khỏe và tâm lý[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi phẫu thuật cắt bỏ bộ sinh dục cũ và tạo bộ sinh dục mới, người chuyển giới vẫn sẽ phải duy trì sử dụng nội tiết tố nhân tạo cả đời, bởi các bộ phận sinh dục mới thực chất chỉ là các thiết bị mô phỏng hình dáng, chứ không có chức năng sinh dục như bộ phận của người bình thường. Ngoài ra, những người đã chuyển giới phải thường xuyên được điều trị tâm lý do họ thường thất vọng với cơ thể mới (do chỉ có hình dáng mà không có chức năng giới tính), nên có tỷ lệ trầm cảm, tự sát rất cao.

Những rủi ro liên quan với việc tiêm nội tiết tố nhân tạo, cắt sửa bộ phận sinh dục và các phẫu thuật khác như bệnh ung thư (vú và tuyến tiền liệt), bệnh tim (đột quỵ, bệnh tim mạch), và tắc mạch máu não trong những người chuyển giới cũng là một vấn đề lớn và đang tiếp tục được nghiên cứu[35]. Năm 2019, nghiên cứu của Viện tim mạch Hoa Kỳ cho thấy phụ nữ chuyển giới có nguy cơ bị đột quỵ cao gấp đôi so với bình thường, họ cũng có nguy cơ bị cục máu đông làm tắc mạch máu cao gấp 5 lần so với phụ nữ và 4,5 lần so với nam giới; nguy cơ bị đau tim cao gấp 2 lần so với phụ nữ. Cụ thể, nội tiết tố nhân tạo như estrogen và testosterone thúc đẩy nguy cơ tắc mạch máu do làm tăng nồng độ của các tế bào hồng cầu và tăng mức cholesterol xấu[36]

Người chuyển giới trước khi can thiệp phẫu thuật phải sử dụng nội tiết tố trong một thời gian khá dài, khiến tâm lý bị đảo lộn, cơ thể của họ bị yếu đi trông thấy, dễ nhiễm bệnh. Tiêm hooc-môn không đúng cách và liều lượng có thể nguy hiểm tính mạng. Sau đó họ sẽ phải trải qua vài chục cuộc tiểu phẫu với những đau đớn và nguy cơ tai biến cả về thể chất lẫn tâm lý. Sau vài năm, họ sẽ già đi nhanh chóng, sức khỏe của họ trở nên tồi tệ do những biến chứng từ phẫu thuật và tiêm hoóc-môn, những cơn đau thể xác giày vò cả ngày lẫn đêm. Đối với nam chuyển sang nữ, những lớp mỡ sẽ biến mất, vú teo lại mà trơ ra là khung xương thô kệch của đàn ông. Đối với nữ chuyển sang nam, râu tóc của họ sẽ rụng, dương vật giả sẽ teo đi (thậm chí bị hoại tử), khung xương chậu bị tổn thương khiến đi lại khó khăn. Những người không có đủ tiền để uống/tiêm kích thích tố đều đặn thì những hậu quả này thậm chí sẽ xuất hiện nhanh hơn[37]. Ca sĩ chuyển giới Nong Poy (Thái Lan) chia sẻ: khi chuyển giới tức là chấp nhận rút ngắn tuổi thọ xuống khoảng 20 năm, người chuyển giới khó có thể sống ngoài 40 tuổi[38]

Những người chuyển giới đều chung số phận: Vĩnh viễn không thể có con, phải uống/tiêm thuốc kích thích tố nam hoặc nữ suốt đời, vẻ "mỹ miều" bên ngoài chỉ trụ được 5-10 năm, sau đó thân hình, da dẻ mau chóng già nua nhanh hơn nhiều so với người bình thường. Về đời sống tình dục cũng rất bất ổn do các bộ phận nhân tạo không thể có chức năng như bộ phận của người thường. Hiếm hoi lắm mới có một người chuyển giới tìm được hạnh phúc gia đình thực sự[39].

Nghiên cứu năm 2014 ở Mỹ cho thấy người chuyển giới có tỷ lệ đặc biệt cao về trầm cảmtự sát do những thất vọng về cuộc sống sau khi chuyển giới. Tỷ lệ tự sát ở nhóm này ít nhất ở mức 30-40%, trong khi ở những ước lượng cao lên tới 50-60%[40] Những rủi ro liên quan với việc tiêm nội tiết tố, cắt sửa bộ phận sinh dục và các phẫu thuật khác như bệnh ung thư (vú và tuyến tiền liệt), bệnh tim (đột quỵ, bệnh tim mạch), và tắc mạch máu não trong những người chuyển giới đang tiếp tục được nghiên cứu[41].

Tại Thái Lan (một "thiên đường" của việc chuyển đổi giới tính), nhà hoạt động Nathee Teerarojanapong nói về kết quả không mong đợi từ việc chuyển đổi giới tính: "Tôi nhận được nhiều cuộc gọi từ những người nói họ cảm thấy tiếc vì đã chuyển giới. Họ đã phạm một sai lầm lớn và muốn trở lại như cũ nhưng không thể".

Sự hối tiếc dai dẳng có thể xảy ra sau khi phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Sự hối hận có thể là do những phiền muộn về giới chưa được giải quyết, hoặc ý thức bản sắc yếu và dao động, thậm chí có thể dẫn đến tự tử.[42] Các loại rủi ro đối với phẫu thuật chuyển giới bao gồm lão hóa nhanh, bị rối loạn nhân cách chống đối cá nhân và xã hội, sự phản đối của gia đình, rối loạn hoạt động tình dục và sự không hài lòng với kết quả phẫu thuật. Nhiều người chuyển giới không còn cảm thấy khoái cảm trong cuộc sống và tình dục như cơ thể ban đầu, nên họ cảm thấy rất thất vọng[43] Nghiên cứu năm 2014 ở Mỹ cho thấy người chuyển giới có tỷ lệ đặc biệt cao về trầm cảmtự sát do những thất vọng về cuộc sống sau khi chuyển giới. Tỷ lệ tự sát ở nhóm này ít nhất ở mức 30-40%, trong khi ở những ước lượng cao lên tới 50-60%[40]

Bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình Trần Ngọc Vinh cho biết: việc chuyển đổi giới tính không chỉ đơn giản là việc chuyển đổi bộ phận sinh dục mà các diễn biến tâm lý, đời sống sau đó của người chuyển giới mới là vấn đề lớn. Bác sĩ Trần Ngọc Vinh tiết lộ: "Hầu hết bệnh nhân sau khi sang Thái Lan phẫu thuật chuyển đổi giới tính xong đều thấy ân hận, thất vọng. Đối với mọi người xung quanh, họ vẫn tỏ ra là hạnh phúc, mãn nguyện nhưng khi nói chuyện với các bác sĩ tâm lý, bác sĩ chuyên khoa thì lại khác. Nhiều người chuyển giới không thể tìm được những khoái cảm (trong cuộc sống và tình dục) như đối với giới tính ban đầu. Họ đâm ra chán con người mới của mình mà trước đó, họ khát khao vô cùng". Bác sĩ Nguyễn Hà cho biết: "Sau một thời gian “hồ hởi” sống với giới tính mới của mình, nhiều người chuyển giới suy sụp vì không tìm được niềm vui trong cuộc sống... Một số người nam chuyển sang nữ sau một thời gian sống dặt dẹo thì chuyển nghề làm... gái mại dâm"[39].

Do những hậu quả xấu về lâu dài, các bác sĩ khuyên rằng: dù mang tâm lý không chấp nhận giới tính bẩm sinh của mình thì con người cũng không nên can thiệp dao kéo vào giới tính của cơ thể, vì phẫu thuật chuyển giới để lại hệ lụy rất khó kiểm soát về sau, nhất là vấn đề tâm lý[39]. Nhiều chuyên gia cho rằng chỉ nên cho phép phẫu thuật chuyển giới với những người bị khuyết tật bộ phận sinh dục (không thể xác định rõ bộ phận sinh dục là của nam hay nữ), còn những người có cơ thể đã hoàn thiện giới tính thì không nên cho phép thực hiện chuyển giới[5]

Chuyển giới đối với người vị thành niên[sửa | sửa mã nguồn]

Tại một số nước, thuốc chặn tuổi dậy thì có thể được sử dụng để hạn chế ảnh hưởng của quá trình dậy thì đối với những người vị thành niên (từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi) nếu người đó có dấu hiệu muốn chuyển giới. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc ngăn chặn tuổi dậy thì là điều gây nhiều tranh cãi về hậu quả. Thứ nhất, khả năng người đó không còn muốn chuyển giới khi đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi trở lên) là khá cao.[44][45] Thứ hai là những lo ngại ngày càng tăng lên về hậu quả của thuốc chặn tuổi dậy thì đối với sức khỏe thể chất, chẳng hạn như gây tổn hại cho mật độ xương.[45] Việc sử dụng thuốc chặn dậy thì trong thời gian dài cũng đặt ra những lo ngại về các tác dụng phụ có hại về lâu dài. Do vậy, đa số các nước không cho phép sử dụng loại thuốc này, và chỉ cho phép thực hiện chuyển giới với người từ đủ 18 tuổi trở lên[45]

Pháp luật các nước về chuyển giới[sửa | sửa mã nguồn]

Cho đến năm 2020, có khoảng 71 trong số 220 quốc gia và vùng lãnh thổ đã cho phép phẫu thuật chuyển giới đối với người chuyển giới. Tại đa số các nước cho phép chuyển giới (60/71 nước), người chuyển giới chỉ được thay đổi giới tính trong giấy tờ tùy thânhộ tịch sau khi cung cấp bằng chứng y tế rằng phẫu thuật chuyển đổi bộ phận sinh dục đã được thực hiện[2]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2009, Chính phủ Trung Quốc đã quy định cấm việc thực hiện chuyển giới cho người dưới 20 tuổi, đồng thời việc phẫu thuật chuyển đổi bộ phận sinh dục là bắt buộc để đăng ký sửa đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân và hộ tịch của họ[46] Những người muốn thực hiện chuyển giới cũng phải trải qua theo dõi tâm lý trong ít nhất 3 năm (phải sống công khai, ăn mặc như giới tính khác) để kiểm tra mức độ sẵn sàng chuyển giới, phải có xác nhận của 3 bác sĩ chuyên khoa tâm thần, đang không kết hôn (để tránh việc vợ/chồng họ bị mất đi bạn đời), phải được các thành viên trong gia đình chấp thuận, và phải hoàn tất quá trình phẫu thuật bộ phận sinh dục trước khi thay đổi giấy tờ tùy thân[4]

Philippines[sửa | sửa mã nguồn]

Philippines, phẫu thuật chuyển giới chỉ được áp dụng cho các trường hợp liên quan đến tăng sản thượng thận bẩm sinh, dị tật bộ phận sinh dục và các tình trạng khuyết tật thể chất khác khiến giới tính không thể xác định rõ (người lưỡng tính). Nếu không bị khuyết tật về cơ thể thì không được chuyển giới, bởi Tòa án tối cao Philippines cho rằng: nếu cho phép những người này thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân thì sẽ dẫn tới "những hậu quả nghiêm trọng và rộng khắp về chính sách pháp luật và chế độ hôn nhân" (ví dụ như việc người bình thường kết hôn nhầm với người chuyển giới, hoặc trẻ em bị mất cha/mẹ do họ đi chuyển giới)[29].

Singapore[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Singapore, chỉ những người đã phẫu thuật chuyển đổi bộ phận sinh dục mới được chính phủ Singapore cho phép thay đổi thông tin giới tính trên giấy tờ tùy than và hộ tịch. Quy định như vậy để tránh những hệ lụy páp lý và xã hội xảy ra do sự mâu thuẫn giữa giới tính cơ thể và giới tính ghi trên giấy tờ thùy thân[47] Trường hợp người chuyển giới đang có quan hệ hôn nhân, thì trước khi thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân và hộ tịch, quan hệ hôn nhân của họ sẽ phải được tòa án hủy bỏ (do Singapore không công nhận hôn nhân đồng giới)[30]

Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2011, Tòa án tối cao Hàn Quốc đã ra phán quyết rằng: để một người đủ điều kiện thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính, họ phải trên 20 tuổi, độc thân và đang không có con. Sau khi đã phẫu thuật chuyển đổi bộ phận sinh dục thì người đó mới có quyền thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân và hộ tịch[48]

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2003, một đạo luật của Nhật Bản cho phép người chuyển giới thay đổi giới tính của họ. Để thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân và hộ tịch, một người phải đáp ứng một loạt điều kiện chặt chẽ: phải trên 22 tuổi, chưa kết hôn, đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính hoàn toàn (đã chuyển đổi bộ phận sinh dục) và không có con dưới 20 tuổi. Luật này được gọi là "Đạo luật về các trường hợp đặc biệt trong việc xử lý tình trạng giới tính đối với người bị rối loạn định dạng giới"[49] Đến tháng 1/2019, khoảng 7.000 người Nhật đã thay đổi giới tính một cách hợp pháp. Khi đưa ra những điều kiện khống chế chặt chẽ việc chuyển giới như vậy, Tòa án Nhật tuyên bố họ muốn ngăn chặn "sự nhầm lẫn" trong quan hệ cha mẹ - con cái, ngăn việc trẻ em bị mất đi cha hoặc mẹ, cũng như "những thay đổi đột ngột" trong xã hội Nhật Bản[50]

Thái Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Các phẫu thuật xác định lại giới tính đã được thực hiện ở Thái Lan từ năm 1975 và Thái Lan là một trong những điểm đến phổ biến nhất trên toàn cầu cho các phẫu thuật như vậy. Tuy nhiên, pháp luật Thái Lan lại không cho phép người đã chuyển giới thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân và hộ tịch vì lo ngại những vấn đề xã hội phức tạp sẽ phát sinh (ví dụ như việc nhiều người sẽ kết hôn nhầm với người chuyển giới mà không biết). Vào tháng 7 năm 2019, một đề xuất điều chỉnh thông tin giới tính đối với các cá nhân đã thực hiện xong việc chuyển giới đã được trình lên Quốc hội Thái Lan, tuy nhiên chưa được thông qua.[51][52]

Indonesia[sửa | sửa mã nguồn]

Người chuyển giới được phép thay đổi giới tính hợp pháp của mình trên các giấy tờ tùy thân sau khi hoàn tất phẫu thuật chuyển đổi giới tính (đã chuyển đổi bộ phận sinh dục) và nhận được sự chấp thuận của thẩm phán tòa án. Những cá nhân trải qua cuộc phẫu thuật như vậy sẽ có giấy tờ tùy thân ghi giới tính mới, và theo đó họ sẽ có các quyền nhân thân theo giới tính mới[53]

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

36 quốc gia ở Châu Âu yêu cầu chẩn đoán sức khỏe tâm thần để được cho phép thực hiện chuyển giới, và 29 quốc gia trong số đó yêu cầu phải phẫu thuật chuyển đổi bộ phận sinh dục để được thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân[54]

Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ năm 1997, những người chuyển giới có thể thay đổi giới tính của họ trên giấy tờ tùy thân, nhưng chỉ sau khi hoàn tất các thủ tục y tế tương ứng, bao gồm việc đã phẫu thuật chuyển đổi bộ phận sinh dục[note 1]

Tuy cho phép thực hiện chuyển giới với người trưởng thành, nhưng luật pháp Nga cấm việc tuyên truyền vấn đề này cho trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi. Vào tháng 6 năm 2013, quốc hội Nga (Duma Quốc gia) đã thông qua và Tổng thống Vladimir Putin đã ký ban hành bộ luật[55] cấm tuyên truyền, phân phối các tài liệu quảng bá về LGBT (đồng tính, chuyển giới) đối với người vị thành niên (dưới 18 tuổi).[56][57][58] Theo luật, việc thực hiện bất kỳ hành vi nào sau đây khi có mặt trẻ vị thành niên là bất hợp pháp: tổ chức các sự kiện cổ vũ, phát biểu ủng hộ quan hệ đồng tính hoặc việc chuyển giới[57][58] Bộ luật được cho là để bảo vệ trẻ em Nga khỏi các nội dung bất thường về giới tính và "thông tin có hại khác"[55][56] Bình luận về bộ luật, Tổng thống Vladimir Putin cho rằng bộ luật này là cần thiết để bảo vệ văn hóa nước Nga, tránh những phong trào gây mâu thuẫn xã hội cũng như nguy cơ gây già hóa dân số[55][58]

Chuyển đổi giới tính ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người Việt Nam không phân biệt được những khái niệm người đồng tính luyến ái, người hoán tính/chuyển đổi giới tính, liên giới tính mặc dù đây là những khái niệm khác nhau.[59]

"Xác định lại giới tính" là thuật ngữ để chỉ những thủ tục, quy trình dùng để điều chỉnh lại giới tính của một người do người đó có khuyết tật cơ thể về giới tính hoặc bộ phận sinh dục chưa được định hình chính xác.[60] Nghị định Về xác định lại giới tính của chính phủ Việt Nam năm 2008 cho phép thực hiện xác định lại giới tính đối với những người có khuyết tật về cơ thể, đăng ký lại hộ tịch cho họ và nghiêm cấm phân biệt đối xử cũng như tiết lộ thông tin cho người khác biết.[60] Đối với việc chuyển đổi giới tính cho những người đã có cơ thể đã định hình hoàn chỉnh về giới tính thì pháp luật Việt Nam chưa cho phép.

Ngày 24/11/2015, với 282/366 số phiếu, Quốc hội Việt Nam đã cho phép chuyển đổi giới tính. Theo đó, Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của bộ luật này và luật khác có liên quan”.[61] Khi xây dựng bộ luật này, một tổ chức phi chính phủViện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (ISEE) đã tiến hành vận động hành lang đối với nhiều cơ quan Nhà nước, đại biểu quốc hội để thông qua việc cho phép chuyển đổi giới tính. Đây là lần đầu tiên một tổ chức phi chính phủ do phương Tây tài trợ đã thành công trong việc gây ảnh hưởng đến lá phiếu của Đại biểu quốc hội và trực tiếp tham gia vào việc biên soạn luật nhằm tác động đến luật pháp và chính sách của Việt Nam[62]

Đã có nhiều hội thảo tham vấn ý kiến cho quá trình xây dựng Dự thảo Luật chuyển đổi giới tính. Theo tiến sĩ luật Nguyễn Văn Hợi - Đại học Luật Hà Nội, "Giới tính" là khái niệm để chỉ những đặc điểm sinh học của nam và nữ, có tính chất bẩm sinh tự nhiên, để xác định giới tính của một người thì phải dựa vào đặc điểm bộ phận sinh dục của người đó. Do vậy, để công nhận một cá nhân đã thực hiện chuyển đổi giới tính thì người đó nhất định phải phẫu thuật thay đổi bộ phận sinh dục, còn nếu chỉ điều trị nội tiết tố và phẫu thuật ngực thì chưa đủ căn cứ để coi người đó đã chuyển đổi giới tính (vì họ vẫn còn bộ phận sinh dục theo giới tính cũ)[63]

Bác sĩ Nguyễn Minh Tuấn - Phó Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần quốc gia cho rằng, về mặt chuyên môn cũng như pháp lý, để được thay đổi về mặt giấy tờ tùy thân, bắt buộc người chuyển giới phải phẫu thuật thay đổi bộ phận sinh dục. Nếu chỉ dùng nội tiết tố hoặc phẫu thuật ngực mà đã được chuyển đổi giấy tờ thì sẽ dẫn tới nhiều trường hợp “mập mờ giới tính” (giấy tờ là "nam" nhưng lại có cơ quan sinh dục nữ hoặc ngược lại) gây mất trật tự xã hội, cũng như tình trạng lạm dụng các dịch vụ y tế tại các cơ sở y tế chuyên khoa. Mặt khác, các trường hợp không thực sự cần thiết (không bị khuyết tật bẩm sinh về bộ phận sinh dục) thì không nên cho phép phẫu thuật chuyển giới, vì quá trình phẫu thuật chuyển giới ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, làm giảm tuổi thọ và còn tốn kém chi phí, đặc biệt là các vấn đề pháp lý nảy sinh về sau này[64]

Tiến sỹ y khoa Nguyễn Đình Phú cho biết: cần phân biệt nhu cầu chuyển đổi giới tính bởi các nguyên nhân khác nhau: do khuyết tật bẩm sinh, khuyết tật tâm lý hay nhu cầu thẩm mỹ cá nhân. Không loại trừ những trường hợp chuyển đổi giới tính để lảng tránh xã hội, trốn tránh trách nhiệm, thậm chí trốn lệnh truy nã. Một số chuyên gia y tế cũng đặt vấn đề chỉ cho phép chuyển đổi giới tính đối với người bị dị tật bẩm sinh nặng ở cơ quan sinh dục, cần phẫu thuật để chỉnh sửa khiếm khuyết. Người có cơ thể hoàn toàn bình thường, không bị dị tật nhưng về mặt tâm lý lại tự cho bản thân thuộc giới tính khác thì không nên cho phép chuyển đổi giới tính[65]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Gender-Affirming Surgery: Masculinizing Options | OHSU”. www.ohsu.edu. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2021.
  2. ^ a b c d e Wareham, Jamie. “New Report Shows Where It's Illegal To Be Transgender In 2020”. Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2021.
  3. ^ Rafferty, Jason; COMMITTEE ON PSYCHOSOCIAL ASPECTS OF CHILD AND FAMILY HEALTH; COMMITTEE ON ADOLESCENCE; Section On Lesbian, GAY (2018). “Ensuring Comprehensive Care and Support for Transgender and Gender-Diverse Children and Adolescents”. Pediatrics. 142 (4): e20182162. doi:10.1542/peds.2018-2162. PMID 30224363. S2CID 52288840.
  4. ^ a b c Bradley SJ, Oliver GD, Chernick AB, Zucker KJ (tháng 7 năm 1998). “Experiment of nurture: ablatio penis at 2 months, sex reassignment at 7 months, and a psychosexual follow-up in young adulthood”. Pediatrics. 102 (1): e9. doi:10.1542/peds.102.1.e9. PMID 9651461.
  5. ^ a b See WPATH Clarification Statement, APA Policy Statement, and NASW Policy Statement
  6. ^ “FAQ on Gender Identity Disorder and "Sex Change" Operations”. National Catholic Bioethics Center. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2014.
  7. ^ Paul McHugh. “Psychiatric misadventures”.
  8. ^ a b Report of the UN Special Rapporteur on Torture, Office of the UN High Commissioner for Human Rights, February 2013.
  9. ^ a b Center for Human Rights & Humanitarian Law; Washington College of Law; American University (2014). Torture in Healthcare Settings: Reflections on the Special Rapporteur on Torture's 2013 Thematic Report. Washington, DC: Center for Human Rights & Humanitarian Law.
  10. ^ “glbtq >> social sciences >> Transgender Activism”. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2015. Truy cập 23 tháng 4 năm 2015.
  11. ^ Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fourth Edition (1994)
  12. ^ “Gender identity disorder in adolescence and adulthood”. ICD10Data.com. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2011.
  13. ^ Diagnostic and statistical manual of mental disorders : DSM-5. American Psychiatric Association., American Psychiatric Association. DSM-5 Task Force. (ấn bản 5). Arlington, VA: American Psychiatric Association. 2013. tr. 452–459. ISBN 978-0-89042-554-1. OCLC 830807378.Quản lý CS1: khác (liên kết)
  14. ^ “Gender incongruence (ICD-11)”. icd.who.int. WHO. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2018.
  15. ^ Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders 5. American Psychiatric Association. 2013. tr. 454. ISBN 978-0890425558.
  16. ^ The American Psychiatric Publishing textbook of psychiatry. Robert Ernest Hales, Stuart C. Yudofsky, Glen O. Gabbard. American Psychiatric Publishing 2008. ISBN 978-1-58562-257-3. P 1475
  17. ^ Collin, Lindsay; Reisner, Sari L.; Tangpricha, Vin; Goodman, Michael (2016). “Prevalence of Transgender Depends on the "Case" Definition: A Systematic Review”. The Journal of Sexual Medicine (bằng tiếng Anh). 13 (4): 613–626. doi:10.1016/j.jsxm.2016.02.001. PMC 4823815. PMID 27045261.
  18. ^ “Johns Hopkins Psychiatrist: Transgender is 'Mental Disorder;' Sex Change 'Biologically Impossible'. CNS News. Truy cập 22 tháng 11 năm 2015.
  19. ^ “Between the (Gender) Lines: the Science of Transgender Identity”. Harvard University. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2020.
  20. ^ “Transgender brains are more like their desired gender from an early age”. ScienceDaily. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2020.
  21. ^ Routledge Handbook of Sport, Gender and Sexuality. Jennifer Hargreaves, Eric Anderson. Routledge, 05-03-2014. P 387-388
  22. ^ Transgender Family Law: A Guide to Effective Advocacy. Jennifer L. Levi, Elizabeth E. Monnin-Browder. Author House, 19-04-2012. Chapter I: Introduction, P. 1-15
  23. ^ [://www.ibla.org.vn/?cate=f&id=25220 Viện Khoa học pháp lý và kinh doanh quốc tế - Kỳ 3]
  24. ^ Kỳ 4
  25. ^ Người chuyển giới trong đời sống xã hội và pháp luật Việt Nam - Bộ Tư pháp
  26. ^ Tiểu luận: Quyền xác định lại giới tính và hậu quả pháp lý
  27. ^ Bolich, G. G. (2009). Crossdressing in Context, Vol. 4 Transgender & Religion. Lulu.com. tr. 351–354. ISBN 978-0-615-25356-5.
  28. ^ “Belgian husband leaves wife of 19 years after discovering she was a man”. dailymail.co.uk. 21 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2012.
  29. ^ a b [1] Lưu trữ 2013-09-26 tại Wayback Machine
  30. ^ a b Yi, Beh Lih. “Sex change prompts Singapore to annul couple's marriage”. Reuters (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2018.
  31. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ilg
  32. ^ Walter Pinterns, The legal status of transsexual and transgender in Belgium and the Netherlands, Intersentia, 2015
  33. ^ Yersim M. Atamer, The legal status of transsexual and transgender in Turkey, Intersentia, 2015.
  34. ^ “Man legally changes his gender to identify as a woman 'so he can retire five years earlier' in Argentina”. dailymail.co.uk. 12 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2018.
  35. ^ http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK64800/
  36. ^ “Hormone therapy may increase cardiovascular risk during gender transition”. Science Daily. 18 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2019.
  37. ^ “Những nỗi đau thể xác tột cùng khi phẫu thuật chuyển giới”. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 12 năm 2014. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015.
  38. ^ “Nong Poy: chết trước tuổi 40 vì chuyển giới”. Eva.vn. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015.
  39. ^ a b c “Bất ngờ với những tiết lộ "sốc" của bác sĩ phẫu thuật chuyển đổi giới tính”. Báo đời sống & pháp luật Online. Truy cập 25 tháng 12 năm 2014.
  40. ^ a b http://williamsinstitute.law.ucla.edu/wp-content/uploads/AFSP-Williams-Suicide-Report-Final.pdf
  41. ^ “Later Adulthood”. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015.
  42. ^ Olsson SE, Möller A (tháng 8 năm 2006). “Regret after sex reassignment surgery in a male-to-female transsexual: a long-term follow-up”. Archives of Sexual Behavior. 35 (4): 501–6. CiteSeerX 10.1.1.548.8934. doi:10.1007/s10508-006-9040-8. PMID 16900416. S2CID 23425058.
  43. ^ Karpel L, Cordier B (2013). “Postoperative regrets after sex reassignment surgery: A case report”. Sexologies. 22 (2): e55–e58. doi:10.1016/j.sexol.2012.08.014.
  44. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :0
  45. ^ a b c Radix, Anita; Silva, Manel (2014). “Beyond the Guidelines: Challenges, Controversies, and Unanswered Questions”. Pediatric Annals. 43 (6): e145–e150. doi:10.3928/00904481-20140522-10. PMID 24972423.
  46. ^ Jun, Pi (9 tháng 10 năm 2010). “Transgender in China”. Journal of LGBT Youth. 7 (4): 346–351. doi:10.1080/19361653.2010.512518. S2CID 143885704.
  47. ^ Chan Meng Choo (2011). “First sex reassignment surgery”. Singapore Infopedia. National Library Board. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2019.
  48. ^ “사람과사람 | People to People”. Queerkorea.org. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011.
  49. ^ “Japan: Human Rights Violation against Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender Persons” (PDF). ILGA. tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2020.
  50. ^ “Sterilization rule for changing gender upheld in Japan”. CNN. 25 tháng 1 năm 2019.
  51. ^ Rik Glauert (29 tháng 7 năm 2019). “Transgender activists in Thailand propose law to protect their rights”. Gay Star News.
  52. ^ “นายกสมาคมสตรีข้ามเพศ ยื่นร่างกฎหมายรับรองสิทธิ-ใช้คำนำหน้าชื่อตามเพศสภาพ”. Sanook.com (bằng tiếng Thái). 25 tháng 7 năm 2019.
  53. ^ “Sex or gender? Aming's challenge - Coconuts Jakarta”. coconuts.co. 24 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2018.
  54. ^ “– Trans Rights Europe Map & Index 2017”. tgeu.org (bằng tiếng Anh). 18 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2017.
  55. ^ a b c Rose, Scott (1 tháng 7 năm 2013). “Putin signs law banning gay 'propaganda' among children”. Bloomberg.
  56. ^ a b Российская Федерация. Федеральный закон №436-ФЗ от 24 декабря 2010 г. «О защите детей от информации, причиняющей вред их здоровью и развитию», в ред. Федерального закона №135-ФЗ от 29 июня 2013 г. «О внесении изменений в статью 5 Федерального закона "О защите детей от информации, причиняющей вред их здоровью и развитию" и отдельные законодательные акты Российской Федерации в целях защиты детей от информации, пропагандирующей отрицание традиционных семейных ценностей». Вступил в силу с 1 сентября 2012 года. Опубликован: Официальный интернет-портал правовой информации (www.pravo.gov.ru) от 30 June 2013 г. (№ 0001201306300001), 29 декабря 2010 г.. (The Russian Federation. Federal law #436-FZ ngày 24 December 2010 On the protection of children from information harmful to their health and development, sửa đổi bởi Federal law #135-FZ  29 June 2013 On the introduction of amendments to Article 5 of the Federal law "On the protection of children from information harmful to their health and development" and divers legislative acts of the Russian Federation aimed at protecting children from information which propagandises the rejection of traditional family values. Có hiệu lực từ 1 September 2012.).
  57. ^ a b “ГД приняла закон об усилении наказания за пропаганду гомосексуализма среди подростков”. РБК. 11 tháng 6 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2013.
  58. ^ a b c Alpert, Lukas I. (11 tháng 6 năm 2013). “Russia passes bill banning gay 'propaganda'. The Wall Street Journal.
  59. ^ “Những ngộ nhận thường gặp về người đồng tính - VnExpress Đời sống”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 25 tháng 12 năm 2014.
  60. ^ a b “Nghị định về xác định lại giới tính” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2009.
  61. ^ “Quốc hội thừa nhận quyền chuyển đổi giới tính”. tuoitre. Truy cập 25 tháng 11 năm 2015.
  62. ^ “Xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính: Cần lường trước những vấn đề pháp lý nảy sinh”. bbc.com. 10 tháng 6 năm 2019. Truy cập 18 tháng 9 năm 2019.
  63. ^ Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Số 6 (358) Kỳ 2 Tháng 3/2018. Nguyễn Văn Hợi, Hoàng Thị Loan, Trường Đại học Luật Hà Nội
  64. ^ “Xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính: Cần lường trước những vấn đề pháp lý nảy sinh”. baophapluat.vn. 30 tháng 12 năm 2017. Truy cập 20 tháng 1 năm 2022.
  65. ^ “Luật hóa việc chuyển đổi giới tính”. sggp.org.vn. 6 tháng 9 năm 2016. Truy cập 20 tháng 1 năm 2022.


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “note”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="note"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu