Yếu tố sinh học trong thiên hướng tình dục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Yếu tố sinh học ảnh hưởng đến quá trình hình thành thiên hướng tình dục đã được nghiên cứu. Không có nguyên nhân đơn lẻ nào trong quá trình hình thành thiên hướng tình dục từng được chứng minh và cũng chưa có sự thống nhất là yếu tố sinh học hay yếu tố môi trường là chính. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cả hai yếu tố đều có những ảnh hưởng phức tạp.[1][2] Viện Nhi khoa Hoa KỳHiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ đều khẳng định rằng có nhiều nguyên nhân hình thành thiên hướng tình dục.[3][4] Nhiều yếu tố sinh học được xác định bao gồm kiểu gen, hooc môn bào thai và cấu trúc não bộ. Việc kết luận một yếu tố sinh học nào đó là nguyên nhân ảnh hưởng đến thiên hướng tình dục có ý nghĩa chính trị và văn hóa quan trọng.[5]

Nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Nghiên cứu về các cặp sinh đôi[sửa | sửa mã nguồn]

Một số nghiên cứu về cặp sinh đôi đã cố gắng so sánh tầm quan trọng tương quan của di truyền và môi trường trong việc xác định xu hướng tình dục. Trong một nghiên cứu năm 1991, Bailey và Pillard đã thực hiện một nghiên cứu về các cặp song sinh nam được tuyển dụng từ "ấn phẩm đồng tính", và thấy rằng 52% cặp anh em sinh đôi cùng trứng (trong tổng 59 được hỏi) và 22% cặp song sinh khác trứng đều cùng đồng tính. Trong một nghiên cứu trên 61 cặp sinh đôi, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy trong số các đối tượng phần lớn là nam của họ, tỷ lệ tương đồng đồng tính là 66% giữa các cặp sinh đôi cùng trứng và 30% giữa các cặp sinh đôi khác trứng. Năm 2000, Bailey, Dunne và Martin thực hiện thăm dò trên một quy mô lớn hơn với 4.901 cặp sinh đôi Úc và thấy rằng tỉ lệ trên đối với sinh đôi cùng trứng thấp là hơn một nửa. Họ tìm thấy sự tương đồng trên sinh đôi cùng trứng nam là 20% và 24% đối với sinh đôi cùng trứng nữ. Các nhà nghiên cứu khác cũng đồng tình và ủng hộ quan điểm nhân tố sinh học là nguyên nhân cho xu hướng tình dục trên cả nam và nữ. Năm 2001, Hershberger so sánh kết quả của tám nghiên cứu khác nhau trên các cặp song sinh[6] cho thấy tỉ lệ cùng thiên hướng tình dục ở sinh đôi cùng trứng khá cao hơn tỉ lệ ở sinh đôi khác trứng nên yếu tố kiểu gen đóng một vai trò đáng kể.

Tuy nhiên năm 2002, Bearman và Bruckner đã chỉ trích những nghiên cứu ban đầu vì quy mô nhỏ, chọn lọc và không đa dạng của các đối tượng. Họ đã khảo sát các câu trả lời của 289 cặp sinh đôi cùng trứng và 495 cặp sinh đôi khác trứng về khảo sát trường học trên các thanh thiếu niên từ lớp 7 đến 12 và thấy rằng sự tỉ lệ tương đồng đồng tính ở cặp anh em sinh đôi cùng trứng là 7.7%, ở các cặp chị em sinh đôi cùng trứng là 5.3%.

Một nghiên cứu gần đây đối với tất cả các cặp song sinh trưởng thành ở Thụy Điển (hơn 7600 cặp) cho thấy biểu hiện đồng tính là do cả yếu tố kiểu gen và yếu tố môi trường ảnh hưởng riêng lên cá nhân (chẳng hạn như môi trường bào thai, bị bệnh hoặc chấn thương, ảnh hưởng từ những người bạn cùng lứa và trải nghiệm tình dục của bản thân), trong khi yếu tố môi trường ảnh hưởng chung (chẳng hạn như quan hệ trong gia đình, thái độ xã hội) có tác động ít hơn nhưng cũng đáng kể. Theo thống kê, ở phụ nữ, yếu tố kiểu gen tác động ít đến thiên hướng tình dục của họ trong khi ở nam giới môi trường ảnh hưởng riêng có tác động mạnh. Cuộc thống kê được thực hiện trên tất cả các cặp song sinh ở Thụy Điển là để giải đáp cho những chỉ trích rằng trong các cuộc thống kê trước những cặp song sinh cùng là đồng tính có xu hướng tham gia thăm dò nhiều hơn.[7]

Các phê bình[sửa | sửa mã nguồn]

Các nghiên cứu sinh đôi đã nhận một vài chỉ trích vì sự thiên vị về chọn lựa đối tượng vì các cặp sinh đôi đồng tính sẽ có khuynh hướng tự nghiện tham gia nhiều hơn. Tuy nhiên, có thể kết luận rằng do sự khác nhau về xu hướng tình dục của các cặp sinh đôi cùng trứng, xu hướng tình dục không chỉ do mỗi yếu tố di truền quyết định.

Ngay cả hai người sinh đôi cùng trứng cũng có thể khác nhau và có những cơ chế có thể làm cho thiên hướng tình dục của họ khác nhau. Năm 2001, Gringas và Chen mô tả một số cơ chế có thể dẫn đến sự khác nhau của các cặp sinh đôi cùng trứng, cơ chế đáng quan tâm nhất là màng ối (chorionicity và amniocity).[8] Hai màng ối khác nhau có môi trường hoocmon khác nhau và nhận máu từ mẹ thông qua hai nhau thai khác nhau. Hai bào thai cùng một màng ối thì có chung môi trường hoocmon nhưng có thể xảy ra hội chứng truyền bào thai sang bào thai (twin to twin transfusion syndrome) khi đó "máu dồn vào một bào thai trong khi bào thai kia bị hút máu".[9] Nếu một bào thai nhận ít testosterone hơn thì sự hình thành một bộ não nam giới sẽ yếu hơn.

Nghiên cứu nhiễm sắc thể[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhiễm sắc thể có liên quan tới xu hướng tình dục
Nhiễm sắc thể Vị trí Gen có liên quan Giới tính Bài viết học thuật Ghi chú
Nhiễm sắc thể X Xq28 Dự đoán

MAGEA11

MECP2

IRAK1

chỉ nam giới
Nhiễm sắc thể 1 1p36 Hệ thống nhóm máu Rh cả hai giới tính potential proxy measurement
Nhiễm sắc thể 4 4p14 chỉ nữ giới
Nhiễm săc thể 7 7q31 cả hai giới tính
Nhiễm săc thể 8 8p12 Không rõ chỉ nam giới
Nhiễm sắc thể 9 9q34 ABO cả hai giới tính potential proxy measurement
Nhiễm săc thể 11 11q12 Dự đoán

OR51A7

chỉ nam giới hệ thống khứu giác trong chọn lựa bạn tình
Nhiễm sắc thể 12 12q21 cả hai giới tính
Nhiễm sắc thể 13 13q31 SLITRK6 chỉ nam giới gen liên quan tới não trung gian
Nhiễm sắc thể 14 14q31 TSHR chỉ nam giới
Nhiễm săc thể 15 15q21 TCF12 chỉ nam giới

Các nghiên cứu về liên kết nhiễm sắc thễ đã chỉ ra sự đóng góp của nhiều yếu tố di truyền khắp bộ gen. Năm 1993, Dean Hamer và đồng nghiệp công bố những phát hiện về phân tích liên kết trên 76 người anh em đồng tính và họ hàng của họ.[10] Hamer và đồng sự thấy rằng người đồng tính nam có nhiều người chú bác hoặc anh em trai họ đồng tính bên ngoại hơn là bên nội. Những người anh em trai đồng tính nam bên ngoại này được phân tích liên kết trên nhiễm sắc thể X, dùng 22 marker (dấu ấn di truyền học) trên nhiễm sắc thể X để kiểm tra các allele tương ứng. Trong một phát hiện khác, 34 trong số 40 cặp anh em ruột được phân tích và thấy các allele tương ứng ở marker xa tâm Xq28, cao hơn tỉ lệ allele tương ứng dự đoán là 50% ở anh em trai. Việc truyền thông gán đây là "gen đồng tính" đã gây nhiều tranh cãi. Vào năm 1998, Sander và đồng nghiệp đã công bố nghiên cứu tương tự của họ, và họ thấy rằng 13% những người chú bác bên ngoại của người anh em trai đồng tính cũng là người đồng tính, so với 6% của bên nội.

Trong một thống kê của Hu và đồng nghiệp khi tái hiện lại những nghiên cứu ban đầu, họ phát hiện ra rằng 67% những người anh em trai đồng tính thuộc một nhóm đối tượng khác cũng có cùng chung marker trên nhiễm sắc thể X ở Xq28. Hai nghiên cứu khác (Bailey và đồng nghiệp 1999; McKnight và Malcolm 2000) đã thất bại trong việc tái dựng lại kết quả của liên kết Xq28. Phân tích tổng hợp tất cả các dữ liệu liên kết hiện có đã chỉ ra mối liên hệ đáng kể của Xq28, nhưng cũng cho thấy rằng những gen bổ sung cũng cần phải hiện diện thì mới thể hiện đươc tính di truyền của xu hướng tình dục.

Mutannski và đồng nghiệp (2005) đã thực hiện quét toàn bộ bộ gen (thay vì mỗi quét nhiễm sắc thể X) trên những đối tượng thí nghiệm và người thân thuộc thí nghiệm của Hamer (1993) và Hu (1995) cộng thêm vài đối tượng bổ sung. Trong báo cáo họ đã không tìm thấy liên kết với Xq28

Kết quả của của cuộc nghiên cứu trên quy mô rộng, đa trung tâm đầu tiên về xu hướng tình dục của nam giới đã được công bố bởi một nhóm độc lâp những nhà nghiên cứu thuộc Hiệp hội di truyền học Mỹ vào năm 2012. Mãu nghiên cứu bao gồm 409 cặp anh em trai đồng tính riêng biệt, đã được phân tích trên 300.000 marker đa hình đơn nucleotide. Dữ liệu đã hoàn toàn một cách rõ ràng tái hiện lại phát hiện của của Hamer trên Xq28 theo cả hai biểu đồ hai điểm và đa điểm LOD score (Logarithm of the odds). Liên kết quan trọng khác cũng được phát hiện ở vùng gần ngoài tâm ở nhiễm sắc thể số 8, trùng với một trong những vùng được phát hiện bởi Hamer trong thí nghiệm di truyền trước. Tác giả của báo cáo đã kết luận "Phát hiện của chúng tôi, theo như những nghiên cứu trước, gợi ý rằng những biến thể của gen ở những vùng này đóng góp vào việc hình thành những biểu hiện tâm lý ở xu hướng tình dục ở nam giới". Xu hương tình dục ở nữ giới có vẻ như không có mối liên hệ với Xq28, nhưng nó vẫn được truyền lại.

Ngoài sự ảnh hưởng của nhiễm sắc thể giới tính,một khả năng sự đóng góp của nhiễm sắc thường tới xu hướng tình dục cũng được xem xét. Trong một nghiên cứu bao gồm 7000 người tham gia, Ellis và đồng nghiệp (2008) đã tìm ra sự khác nhau đáng kể của tỉ lệ của nhóm máu A giữa người đồng tính và dị tính. Họ cũng thấy tỉ lệ cao bất thường của người đàn ông và phụ nữ đồng tính có RH- so với người dị tính. Cả nhóm máu và hệ thống Rh đều là những biểu hiện di truyền được quyết định bởi các allele nằm ở nhiễm sắc thể 9 và nhiễm sắc thể 1, nghiên cứu này chỉ ra một khả năng sự liên kết giữa các gen trên nhiễm sắc thể thường và đồng tính luyến ái.

Các yếu tố sinh học của xu hướng tình dục đã được nghiên cứu tỷ mỉ ở nhiều mô hình động vật. Ở loài ruồi giấm thường Drosophila melanogaster, mối quan hệ xu hướng tình dục của bộ não và hành vi của nó được thiết lập chặt chẽ ở cả con đực và con cái, tạo ra một mô hình ngắn gọn của sự tán tỉnh kiểm soát bởi sinh học. Ở lớp thú, một nhóm các nhà di truyền học ở Viện khoa học và công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (KAIST) đã nhân giống một con chuột cái đặc biệt thiếu đi một gen cụ thể liên quan tới hành vi tình dục. Khi không có gen này, con chuột thể hiện các hình vi tình dục một cách nam tính và thu hút bởi nước tiểu của các con chuột cái khác. Những con chuột được giữ lại gen fucose mutarotase (FucM) thì lại quấn hút bởi các con chuột đực.

Trông một buổi phỏng vấn với báo chí, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng những bằng chứng của sự ảnh hưởng bởi di truyền không giống với sự quyết định của di truyền. Theo như Deam Hamer và Michael Bailey, các yếu tố di truyền chỉ là một trong nhiều các nguyên nhân dẫn tới xu hướng tình dục đồng tính.

Năm 2017, tờ Scientific Reports đã xuất bản một tờ báo với một nghiên cứu tương quan toàn bộ nhiễm sắc thể và xu hướng tình dục ở nam giới. Nghiên cứu bao gồm 1.077 người đàn ông đồng tính và 1.231 người đàn ông dị tính. Một gen mang tên SLITRK6 ở trên nhiễm sắc thể số 13 đã được tìm ra. Nghiên cứu này ủng hộ cho một nghiên cứu khác được thực hiện bởi nhà thần kinh học Simon LeVay. Nghiên cứu của Levay đã cho rằng vùng dưới đồi của những người đàn ông đồng tính khác với đàn ông dị tính. Gen SLITRK6 được kích hoạt ở vùng tâm bộ não, vị trí của vùng dưới đồi. Các nhà khoa học đã tìm ra rằng thụ thể tạo hóoc môn của tuyến giáp (thụ thể TSH) trên nhiễm sắc thể 14 được mã hóa khác nhau giữa những người đàn ông gay và thẳng. Bệnh Grave, liên quan tới sự bất thường ở thụ thể TSH, phổ biến nhiều hơn ở người đàn ông gay so với thẳng. Nghiên cứu chỉ ra rằng người đồng tính có cân năg=ngj thấp hơn so với người dị tính. Nó được cho rằng là sự hoạt động quá mức của hóoc môn thụ thể TSH đã là giảm cân nặng của người đồng tính, tuy nhiên điều này vẫn chưa được chứng minh

Năm 2018, Ganna và các đồng nghiệp đã lại thực hiện một nghiên cứu tương quan toàn bộ nhiễm sắc thể và xu hướng tình dục của nam giới và nữ giới với dữ liệu từ 26.890 người mà có ít nhất một bạn đời cùng giới và 450.939 người dị tính. Dữ liệu từ nghiên cứu được phân tích tổng hợp và lấy từ nghiên cứu của UK Biobank và 23andMe. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện bốn biến thể phổ biến hơn ở những người có ít nhất một bạn đười cùng giới ở nhiễm sắc thể số 7, 11,12 và 15. Những biến thể ở trên nhiễm sắc thể 11 và 15 chỉ có trên đàn ông, với biến thể trên nhiễm sắc thể 11 nằm ở trên gen khứu giác và biến thể của nhiễm sắc thể 15 đã được liên hệ trước đấy với sự hói đầu của đàn ông. Bốn biến thể này cũng đã được liên hệ tới những rối loạn tâm trạng và tâm lý; hội trứng trầm cảm và tâm thần phân liệt ở của đàn ông và phụ nữ, và rối loạn lưỡng cực ở phụ nữ. Tuy nhiên, không cái nào trong bốn biến thể có thể đủ tin cậy để dự đoán xu hướng tình dục.

Năm 2019, một nghiên cứu tương quan toàn bộ nhiễm sắc thẻ trên 493.001 đối tượng đã kết luận rằng hằng trăm đến hàng nghìn các biến thể gen liên quan tới hành vi đồng tính luyến ái ở cả hai giới tính, với 5 biến thể đặc biệt liên quan đáng kể. Một vài trong những biến thể này chỉ đặc trung theo giới tính, và hai trong số các biến thể được cho rằng là có liên hệ với hệ thống liên quan tới sự điều hòa của nội tiết tố sinh dụckhứu giác. Tất cả các biến thể cùng với nhau nắm bắt từ 8 đến 25% các biến thể trong hành vi đồng tính của cá nhân. Những gen này một phần trùng lặp với những những đặc tính khác, bao gồm sự cởi mở với các trải nghiệm hay hành vi mạo hiểm. Những thống kê bổ sung cũng cho rằng các hành vị tình dục, sự quấn hút, danh tính hay sự tưởng tượng đều bị ảnh hưởng bởi cùng một bộ các biến thể gen. Họ cũng tìm ra rằng các yếu tố di tuyền tạo ra sự khác biệt giữa người dị tính và đồng tính không giống với với sự khác biệt giữa ở người không phải là dị tính giữa ít hay nhiều bạn tình cùng giới, thể hiện rằng không có đơn lẻ sự liên tiếp giữa biểu hiện đồng tính và dị tính, như thang đo Kinsey.

Nghiên cứu di truyền học biểu sinh Di truyền từ mẹ, số lượng anh trai và khả năng sinh sản của người mẹ[sửa | sửa mã nguồn]

Nghiên cứu chất dẫn dụ[sửa | sửa mã nguồn]

Cấu trúc não bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Những đặc điểm sinh học ở người đồng tính[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh lý[sửa | sửa mã nguồn]

Những nghiên cứu gần đây phát hiện ra những khác biệt sinh lý đáng kể giữa người đồng tính và những người không phải đồng tính. Có bằng chứng cho thấy:

  • Người đồng tính nam có não bộ tương tự phụ nữ dị tính và người đồng tính nữ có não bộ tương tự nam giới dị tính.[11]
  • Kích thước vùng INAH-3 trong não của người đồng tính nam gần bằng kích thước vùng INAH-3 của phụ nữ, nó nhỏ hơn đáng kể và tế bào tập trung dày đặc hơn vùng INAH-3 của não bộ nam giới dị tính.[12]
  • Vùng SCN (suprachiasmatic nucleus) của người đồng tính nam lớn hơn của người nam không đồng tính,[13] thông thường vùng này của nam giới lớn của phụ nữ.[14]
  • Thông thường các bó dây thần kinh anterior commissure của phụ nữ lớn hơn của đàn ông. Các bó này của người đồng tính nam lớn hơn của người nam không đồng tính.[15] Một nghiên cứu sau đó không tìm thấy điều này.[16]
  • Theo thăm dò, dương vật người đồng tính nam dài hơn và có chu vi lớn hơn của người nam không đồng tính.[17]
  • Não người đồng tính nam phản ứng khác người không đồng tính đối với chất fluoxetine.[18]
  • Chức năng của tai trong và hệ thống nghe trung tâm ở người đồng tính nữ và song tính nữ giống ở đàn ông hơn là người nữ (các nhà nghiên cứu cho rằng điều này cũng thống nhất với giả thuyết hoocmon bào thai trong thiên hướng tình dục).[19]
  • Phản ứng giật mình (chớp mắt khi nghe tiếng động lớn) ở người đồng tính và song tính nữ giống như nam giới.[20]
  • Ba vùng trong bộ não (vỏ não vùng trước trán, vùng mã ngư trái và hạch hạnh phải) ở người đồng tính nam thì hưng phấn hơn ở người nam không đồng tính khi xem các hình ảnh khiêu dâm.[21]
  • Người nam đồng tính và không đồng tính phát ra mùi nách khác nhau.[22]
  • Tóc người đồng tính nam thường quăn theo chiều ngược kim đồng hồ hơn.[23]
  • Não người đồng tính và không đồng tính phản ứng khác nhau đối với hai chất dẫn dụ (pheromone) tình dục người (AND, tiết ra từ nách đàn ông và EST, có trong nước tiểu phụ nữ).[24][25][26]
  • Tỉ lệ chiều dài ngón trỏ và ngón đeo nhẫn của phụ nữ đồng tính và không đồng tính khác nhau.[19][27][28][29][30][31]

Nhận thức[sửa | sửa mã nguồn]

Những nghiên cứu gần đây đưa ra những khác nhau nhỏ trong cách xử lý vài loại thông tin của người đồng tính và không đồng tính.

  • Người đồng tính nam và nữ thường thuận tay trái hoặc thuận hai tay hơn người không đồng tính.[32][33][34]
  • Người nam[35]/nữ đồng tính lưu loát hơn trong ngôn ngữ so với người nam/nữ không đồng tính tương ứng[36][37][38] (hai nghiên cứu khác không thấy điều này).[39][40]
  • Người đồng tính nam có thể ghi điểm nhiều hơn người nam không đồng tính trong các bài kiểm tra trí nhớ vị trí đồ vật (không có sự khác nhau giữa phụ nữ đồng tính và không đồng tính).[41]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ American Psychological Association Answers to Your Questions For a Better Understanding of Sexual Orientation & Homosexuality -

    There is no consensus among scientists about the exact reasons that an individual develops a heterosexual, bisexual, gay, or lesbian orientation. Although much research has examined the possible genetic, hormonal, developmental, social, and cultural influences on sexual orientation, no findings have emerged that permit scientists to conclude that sexual orientation is determined by any particular factor or factors. Many think that nature and nurture both play complex roles; most people experience little or no sense of choice about their sexual orientation.

  2. ^ “Gay, Lesbian and Bisexual Issues”. Association of Gay and Lesbian Psychiatrics. Tháng 5 năm 2000. 

    No one knows what causes heterosexuality, homosexuality, or bisexuality.... there is a renewed interest in searching for biological etiologies for homosexuality. However, to date there are no replicated scientific studies supporting any specific biological etiology for homosexuality.

  3. ^ “Sexual Orientation and Adolescents” (PDF), American Academy of Pediatrics Clinical Report, truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2007 
  4. ^ “Answers to Your Questions About Sexual Orientation and Homosexuality”, American Psychological Association, truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2007 
  5. ^ LeVay, Simon (1996). Queer Science: The Use and Abuse of Research into Homosexuality. Cambridge: The MIT Press ISBN 0-262-12199-9
  6. ^ Hershberger, Scott L. 2001. Biological Factors in the Development of Sexual Orientation. Pp. 27-51 in Lesbian, Gay, and Bisexual Identities and Youth: Psychological Perspectives, edited by Anthony R. D’Augelli and Charlotte J. Patterson. Oxford, New York: Oxford University Press. Quoted in Bearman and Bruckner, 2002.
  7. ^ Långström, Niklas; Qazi Rahman, Eva Carlström, Paul Lichtenstein. (7 June 2008). “Genetic and Environmental Effects on Same-sex Sexual Behaviour: A Population Study of Twins in Sweden”. Archives of Sexual Behaviour. doi:10.1007/s10508-008-9386-1.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  8. ^ Gringas, P. and Chen, W. (2001). Mechanisms for difference in monozygous twins. Early Human Development, 64, (2), 105-117.
  9. ^ Rutter, M. (2006). Genes and Behavior. Oxford, UK: Blackwell Publishing.
  10. ^ Hamer DH, Hu S, Magnuson VL, Hu N, Pattatucci AM (tháng 7 năm 1993). “A linkage between DNA markers on the X chromosome and male sexual orientation”. Science (journal) 261 (5119): 321–7. PMID 8332896. doi:10.1126/science.8332896. 
  11. ^ Scans see 'gay brain differences' - BBC News
  12. ^ LeVay S (1991). “A difference in hypothalamic structure between heterosexual and homosexual men”. Science 253 (5023): 1034–7. PMID 1887219. doi:10.1126/science.1887219. 
  13. ^ http://www.dafml.unito.it/anatomy/panzica/pubblicazioni/pdf/1995PanzicaJEI.pdf
  14. ^ Swaab DF, Zhou JN, Ehlhart T, Hofman MA (1994). “Development of vasoactive intestinal polypeptide neurons in the human suprachiasmatic nucleus in relation to birth and sex”. Brain Res. Dev. Brain Res. 79 (2): 249–59. PMID 7955323. 
  15. ^ Allen LS, Gorski RA (1992). “Sexual orientation and the size of the anterior commissure in the human brain”. Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 89 (15): 7199–202. PMID 1496013. 
  16. ^ Lasco, M. S., Jordan, T. J., Edgar, M. A., Petito, C. K., & Byne, W. (2002). A lack of dimorphism of sex or sexual orientation in the human anterior commissure. Brain Research, 936, 95–98.
  17. ^ Bogaert AF, Hershberger S (1999). “The relation between sexual orientation and penile size”. Arch Sex Behav 28 (3): 213–21. PMID 10410197. doi:10.1023/A:1018780108597. 
  18. ^ Kinnunen LH, Moltz H, Metz J, Cooper M (2004). “Differential brain activation in exclusively homosexual and heterosexual men produced by the selective serotonin reuptake inhibitor, fluoxetine”. Brain Res. 1024 (1-2): 251–4. PMID 15451388. doi:10.1016/j.brainres.2004.07.070. 
  19. ^ a ă McFadden D (2002). “Masculinization effects in the auditory system”. Arch Sex Behav 31 (1): 99–111. PMID 11910797. doi:10.1023/A:1014087319682. 
  20. ^ Rahman Q, Kumari V, Wilson GD (2003). “Sexual orientation-related differences in prepulse inhibition of the human startle response”. Behav. Neurosci. 117 (5): 1096–102. PMID 14570558. doi:10.1037/0735-7044.117.5.1096. 
  21. ^ Safron A, Barch B, Bailey JM, Gitelman DR, Parrish TB, Reber PJ (2007). “Neural correlates of sexual arousal in homosexual and heterosexual men”. Behav. Neurosci. 121 (2): 237–48. PMID 17469913. doi:10.1037/0735-7044.121.2.237. 
  22. ^ Martins Y, Preti G, Crabtree CR, Runyan T, Vainius AA, Wysocki CJ (2005). “Preference for human body odors is influenced by gender and sexual orientation”. Psychol Sci 16 (9): 694–701. PMID 16137255. doi:10.1111/j.1467-9280.2005.01598.x. 
  23. ^ “Sadhana” (PDF). Truy cập 7 tháng 11 năm 2015. 
  24. ^ Savic I, Berglund H, Gulyas B, Roland P (2001). “Smelling of odorous sex hormone-like compounds causes sex-differentiated hypothalamic activations in humans”. Neuron 31 (4): 661–8. PMID 11545724. doi:10.1016/S0896-6273(01)00390-7. 
  25. ^ Savic I, Berglund H, Lindström P (2005). “Brain response to putative pheromones in homosexual men”. Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 102 (20): 7356–61. PMID 15883379. doi:10.1073/pnas.0407998102. 
  26. ^ Berglund H, Lindström P, Savic I (2006). “Brain response to putative pheromones in lesbian women”. Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 103 (21): 8269–74. PMID 16705035. doi:10.1073/pnas.0600331103. 
  27. ^ Brown WM, Hines M, Fane BA, Breedlove SM (2002). “Masculinized finger length patterns in human males and females with congenital adrenal hyperplasia”. Horm Behav 42 (4): 380–6. PMID 12488105. doi:10.1006/hbeh.2002.1830. 
  28. ^ Hines M, Johnston KJ, Golombok S, Rust J, Stevens M, Golding J (2002). “Prenatal stress and gender role behavior in girls and boys: a longitudinal, population study”. Horm Behav 42 (2): 126–34. PMID 12367566. doi:10.1006/hbeh.2002.1814. 
  29. ^ Rahman Q, Wilson GD (2003). “Sexual orientation and the 2nd to 4th finger length ratio: evidence for organising effects of sex hormones or developmental instability?”. Psychoneuroendocrinology 28 (3): 288–303. PMID 12573297. doi:10.1016/S0306-4530(02)00022-7. 
  30. ^ Brown WM, Finn CJ, Cooke BM, Breedlove SM (2002). “Differences in finger length ratios between self-identified "butch" and "femme" lesbians”. Arch Sex Behav 31 (1): 123–7. PMID 11910785. doi:10.1023/A:1014091420590. 
  31. ^ Hall LS, Love CT (2003). “Finger-length ratios in female monozygotic twins discordant for sexual orientation”. Arch Sex Behav 32 (1): 23–8. PMID 12597269. doi:10.1023/A:1021837211630. 
  32. ^ Lalumière ML, Blanchard R, Zucker KJ (2000). “Sexual orientation and handedness in men and women: a meta-analysis”. Psychol Bull 126 (4): 575–92. PMID 10900997. 
  33. ^ Mustanski BS, Bailey JM, Kaspar S (2002). “Dermatoglyphics, handedness, sex, and sexual orientation”. Arch Sex Behav 31 (1): 113–22. PMID 11910784. doi:10.1023/A:1014039403752. 
  34. ^ Lippa RA (2003). “Handedness, sexual orientation, and gender-related personality traits in men and women”. Arch Sex Behav 32 (2): 103–14. PMID 12710825. doi:10.1023/A:1022444223812. 
  35. ^ Geoff Sanders, Ph.D. and Marian Wright, B.Sc.(1997), Sexual Orientation Differences in Cerebral Asymmetry and in the Performance of Sexually Dimorphic Cognitive and Motor Tasks
  36. ^ GSS data on verbal performance of homosexual, heterosexual, and bisexual males and females
  37. ^ McCormick CM, Witelson SF (1991). “A cognitive profile of homosexual men compared to heterosexual men and women”. Psychoneuroendocrinology 16 (6): 459–73. PMID 1811244. 
  38. ^ Rahman Q, Abrahams S, Wilson GD (2003). “Sexual-orientation-related differences in verbal fluency”. Neuropsychology 17 (2): 240–6. PMID 12803429. 
  39. ^ Gladue, B. A., W. W. Beatty, et al. (1990). "Sexual orientation and spatial ability in men and women." Psychobiology 18: 101-108.
  40. ^ Neave N, Menaged M, Weightman DR (1999). “Sex differences in cognition: the role of testosterone and sexual orientation”. Brain Cogn 41 (3): 245–62. PMID 10585237. doi:10.1006/brcg.1999.1125. 
  41. ^ Rahman Q, Wilson GD, Abrahams S (2003). “Sexual orientation related differences in spatial memory”. J Int Neuropsychol Soc 9 (3): 376–83. PMID 12666762. doi:10.1017/S1355617703930037.