Sinh đôi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Quá trình hình thành thai đôi

Sinh đôi hay song sinh là hiện tượng sinh con sau khi mang hai thai cùng một lúc. Hai thai có thể cùng giới tính hay khác giới tính. Đa thai chỉ hiện tượng mang nhiều hơn một thai cùng lúc.

Trẻ sinh đôi thường được sinh ra liên tiếp nhau nhưng không nhất thiết như thế. Vì tử cung người mẹ có hạn nên khi mang đa thai thời gian mang thai thường ngắn hơn thời gian mang thai bình thường (chỉ khoảng 37 tuần, ngắn hơn bình thường 3 tuần). Trẻ sinh sớm có thể có vấn đề về sức khỏe nên trẻ sinh đôi thường được chăm sóc đặc biệt.

Theo ước tính có khoảng 125 triệu cặp sinh đôi và nhóm sinh ba trên thế giới (khoảng 1.9% dân số thế giới) và 10 triệu cặp sinh đôi cùng trứng (khoảng 0.2% dân số và 8% các cặp song sinh).

Sinh đôi có thể là cùng trứng hoặc khác trứng. Về mặt di truyền, trẻ sinh đôi cùng trứng có bộ gen giống nhau. Tuy nhiên trong quá trình phát triển, môi trường có thể tác động làm cho đặc điểm bề ngoài và tính cách của chúng khác nhau cũng như làm cho một gen nào đó thể hiện ra kiểu hình hoặc không.

Sinh đôi cùng trứng[sửa | sửa mã nguồn]

Anh chị em sinh đôi cùng trứng, còn gọi là loan sinh[1] thì cùng giới tính và hình dạng thì giống nhau như đúc.

Sinh đôi khác trứng[sửa | sửa mã nguồn]

Hai anh em sinh đôi người Ý
Trẻ sinh đôi cùng trứng.
Hai trẻ sinh đôi chụp lúc được 8 tháng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Ngọc Phách. Chữ Nho & đời sống mới. Melbourne, Australia: Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2004. tr 414

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]