Sinh con

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đứa trẻ mới sinh và người mẹ.

Sinh con, cũng được gọi là sinh đẻ, vượt cạn, sinh nở, hoặc đẻ con, là đỉnh điểm của quá trình thai nghén với việc đẩy một hay nhiều trẻ sơ sinh ra khỏi tử cung của người mẹ theo đường âm đạo hoặc dùng biện pháp mổ lấy thai[1]. Vào năm 2015 đã có khoảng 135 triệu ca sinh nở trên toàn cầu.[2] Khoảng 15 triệu đứa trẻ sinh ra trước 37 tuần thai nghén[3], trong khi từ 3 đến 12% sinh sau 42 tuần.[4] Trong các nước phát triển, hầu hết các ca sinh nở xảy ra ở bệnh viện,[5][6] trong khi ở các nước đang phát triển hầu hết sinh đẻ tại nhà với sự hỗ trợ của một bà đỡ truyền thống[7].

Cách sinh con thông thường nhất là đi qua âm đạo.[8] Quá trình sinh con bình thường này được phân thành ba giai đoạn: rút ngắn và sự giãn nở của cổ tử cung, sự di chuyển và ra đời của trẻ sơ sinh, và giai đoạn đẩy nhau thai ra ngoài.[9] Giai đoạn đầu tiên thường kéo dài 12 đến 19 giờ, giai đoạn thứ hai là 20 phút đến 2 giờ, và giai đoạn thứ ba từ 5 đến 30 phút.[10] Giai đoạn đầu tiên bắt đầu với đau bụng hoặc đau lưng co thắt kéo dài khoảng nửa phút và xảy ra đều đặn 10 đến 30 phút một lần.[11] Các cơn đau co thắt trở nên mạnh mẽ hơn và thường xuyên theo thời gian.[10] Trong giai đoạn thứ hai có thể có sự thúc đẩy thai với các cơn co thắt.[10] Trong giai đoạn thứ ba nên trì hoãn việc cắt rốn.[12] Một số phương pháp có thể giúp giảm đau khi sinh như kỹ thuật thư giãn, dùng thuốc giảm đau nhóm opioid, và gây tê cột sống.[10]

Hầu hết trẻ sơ sinh được sinh ra với đầu ra đầu tiên; tuy nhiên khoảng 4% được sinh ra với chân hoặc mông ra đầu tiên, được gọi là sinh ngược.[10][13] Trong quá trình chuyển dạ một phụ nữ thường có thể ăn và di chuyển xung quanh tùy thích, nhưng việc rặn không được khuyến khích trong giai đoạn đầu hoặc khi đưa đầu em bé ra, và cấm dùng thuốc xổ.[14] Tuy việc phẫu thuật mở rộng đường âm đạo để sinh dễ hơn khá phổ biến, được gọi là cắt tầng sinh môn, nhưng nói chung là không cần thiết.[10] Trong năm 2012, khoảng 23 triệu ca sinh nở xảy ra theo thủ thuật được gọi là phẫu thuật mổ lấy thai.[15] Mổ lấy thai có thể được khuyên dùng cho sinh đôi/ba, dấu hiệu em bé căng thẳng, hoặc sinh ngược.[10] Phương pháp sinh nở này có thể làm cho việc bình phục diễn ra lâu hơn.[10]

Mỗi năm có khoảng 500.000 phụ nữ tử vong do mang thai và sinh con, 7 triệu người có biến chứng nghiêm trọng lâu dài, và 50 triệu người có hậu sản xấu sau khi sinh.[16] Hầu hết các vấn đề trên xảy ra ở các nước đang phát triển.[16] Các biến chứng cụ thể bao gồm chuyển dạ ngừng tiến triển, xuất huyết sau sinh, sản giậtnhiễm trùng sau sinh[16]. Các biến chứng ở em bé bao gồm ngạt khi sinh.[17]

Dấu hiệu và triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

Tấm đồng Luristan, cho thấy hình một phụ nữ đang sinh đẻ giữa hai con linh dương, được trang trí với hoa, Iran, 1000-650 TCN) tại Viện bảo tàng Louvre

Dấu hiệu nổi bật nhất của việc sinh đẻ là những cơn sóng co bóp mạnh nhằm di chuyển các trẻ sơ sinh xuống kênh sinh sản. Mức độ đau đớn của những phụ nữ khi sinh được ghi nhận rất khác nhau. Mức độ đau đớn khi sinh ảnh hưởng bởi mức độ sợ hãi và lo lắng, kinh nghiệm sinh con trước đó, ý tưởng văn hóa của việc sinh con và đau đớn khi đẻ,[18][19] độ linh động trong khi sinh đẻ, và hỗ trợ của người thân trong quá trình sinh con. Kỳ vọng cá nhân, sự hỗ trợ quan tâm từ những người thân, chất lượng của các mối quan hệ của người chăm sóc phụ nữ có thai, và sự tham gia vào việc ra quyết định quan trọng hơn để phụ nữ hài lòng với kinh nghiệm của việc sinh nở hơn là những yếu tố khác như tuổi tác, tình trạng kinh tế xã hội, dân tộc, sự chuẩn bị, môi trường sinh nở, sự đau đớn, sự bất động, hoặc các can thiệp về y tế.[20]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cơn đau khi co thắt có cảm giác tương tự như đau bụng kinh mạnh. Phụ nữ thường được khuyên tránh la hét trong khi sinh, nhưng việc rên la có thể được khuyến khích nhằm giúp làm giảm cơn đau. Đau đẻ có thể được coi là tương tự như một việc kéo giãn cơ và bỏng cường độ cao. Ngay cả những người phụ nữ tỏ ra ít phản ứng với đau đẻ so với những phụ nữ khác, cũng có một phản ứng nghiêm trọng đáng kể đối với việc đau đẻ.[21]

Đau lưng đẻ là một thuật ngữ dành cho cơn đau cụ thể xảy ra ở lưng dưới, ngay trên xương cụt, trong khi sinh.[22]

Tâm lý[sửa | sửa mã nguồn]

Trẻ sơ sinh mới ra 30 phút. Y tá đang làm một số việc với cháu sau khi sinh.

Sinh con có thể là một sự kiện cảm xúc mãnh liệt, cả tích cực và tiêu cực, thể hiện ra trong quá trình sinh nở. Sự sợ hãi bất thường và dai dẳng đối với việc sinh nở được gọi là tokophobia (Chứng ám ảnh sợ đẻ).

Trong giai đoạn cuối của việc mang thai, sự tăng tiết hormone oxytocin có vai trò tạo cảm giác của sự mãn nguyện, giảm lo âu cho người mẹ và cảm giác bình tĩnh an nhiên xung quanh người bạn đời.[23] Oxytocin tiếp tục được tiết ra trong quá trình sinh con khi thai nhi kích thích cổ tử cungâm đạo, và nó được cho là chất tạo ra kết nối giữa người mẹ và đứa con sơ sinh, tạo ra các hành vi của tình mẫu tử. Việc chăm sóc nâng niu đứa con cũng làm oxytocin tiết ra nhiều.[24]

Khoảng 70% đến 80% bà mẹ ở Mỹ có cảm giác buồn bã (Hội chứng baby blues) sau khi sinh. Các triệu chứng này thường xảy ra trong một vài phút đến vài giờ mỗi ngày và chúng sẽ giảm bớt và biến mất trong vòng hai tuần sau khi sinh.[25] Sau sinh, hiện tượng trầm cảm có thể phát triển ở một số phụ nữ; khoảng 10% bà mẹ ở Mỹ được chẩn đoán có triệu chứng này. Việc trị liệu tâm lý theo nhóm mang tính dự phòng đã được chứng minh có hiệu quả trong điều trị bệnh trầm cảm sau sinh.[26][27]

Sinh thường qua đường âm đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Chuỗi hình ảnh cho thấy quá trình sinh thường.
Video mô tả các giai đoạn sinh thường

Con người là động vật cao cấp hai chân với thế đứng thẳng. Tư thế đứng thẳng này khiến cho trọng lượng của bụng dưới ép lên sàn vùng chậu, một cấu trúc phức tạp không chỉ đỡ trọng lượng này mà còn cho phép ba lối đi qua: niệu đạo, âm đạotrực tràng. Đầu và vai của đứa trẻ sơ sinh phải đi qua một trình tự cụ thể từng bước thì mới có thể đi qua được vòng khung xương chậu của người mẹ.

Sáu bước của một quá trình sinh thường điển hình (đầu ra trước tiên):

  1. Tiếp xúc: đầu thai nhi ở vị trí ngang. Đầu của em bé đang đối mặt qua xương chậu ở một trong hai bên hông của người mẹ
  2. Đầu thai nhi đi xuống và uốn cong.
  3. Quay bên trong. Đầu bào thai quay 90 độ đến vị trí để khuôn mặt em bé hướng về phía trực tràng của người mẹ.
  4. Sinh nở bằng cách kéo giãn. Đầu thai nhi đi ra khỏi ống sinh sản. Đầu của nó nghiêng về phía trước để chóp đầu của em bé đi qua âm đạo.
  5. Phục hồi vị trí. Đầu em bé quay một góc 45 độ để khôi phục trạng thái quan hệ bình thường với vai, hiện đang vẫn còn gập lại.
  6. Quay bên ngoài. Đầu vai lặp lại các cử động quay của đầu, có thể nhìn thấy trong hình ảnh các chuyển động cuối cùng của đầu thai nhi.

Station (khoảng cách) đề cập đến tương quan của bào thai ngang với mức với gai ụ ngồi. Khi bào thai ở ngang mức gai ụ ngồi, station là 0 (ngang bằng). Nếu phần bào thai hiện tại nằm trên gai, khoảng cách được đo và mô tả dưới dạng số âm, dao động từ -1 đến -4 cm. Nếu thai nằm dưới gai ụ ngồi, khoảng cách được biểu diễn như là các số dương (+1 đến +4 cm). Tại khoảng cách +3 và +4 thai đã di chuyển đến vị trí đáy chậu và có thể được nhìn thấy.[28]

Đầu thai nhi có thể tạm thời thay đổi hình dạng (trở nên dài hơn đáng kể) khi nó di chuyển qua kênh sinh sản. Sự thay đổi hình dạng đầu thai nhi này rõ ràng hơn ở phụ nữ lần đầu tiên sinh theo đường âm đạo.[29]

Bắt đầu chuyển dạ[sửa | sửa mã nguồn]

Có những định nghĩa khác nhau về việc bắt đầu chuyển dạ bao gồm:

  • Các cơn co tử cung thường xuyên ít nhất sáu phút một lần với bằng chứng về sự thay đổi sự giãn nở cổ tử cung hoặc sự xáo trộn cổ tử cung giữa các lần khám kỹ thuật số liên tiếp.[30]
  • Các cơn co thắt đều đặn xảy ra cách nhau ít hơn 10 phút và sự giãn nở cổ tử cung tiến triển hoặc cổ tử cung mở lớn.[31]
  • Ít nhất 3 lần co bóp tử cung thường xuyên trong khoảng thời gian 10 phút, mỗi lần kéo dài hơn 45 giây.[32]

Để sử dụng thuật ngữ thống nhất hơn, giai đoạn đầu của chuyển dạ được chia thành các giai đoạn "tiềm ẩn" và "tích cực", trong đó giai đoạn tiềm ẩn đôi khi được bao gồm trong định nghĩa về sinh nở,[33] và có thể không bao hàm trong các định nghĩa khác.[34]

Một số báo cáo lưu ý rằng sự khởi đầu của chuyển dạ dài ngày thường diễn ra vào những giờ chiều muộn và những giờ sáng sớm. Điều này có thể là kết quả của sự gia tăng đồng bộ của melatoninoxytocin vào ban đêm.[35]

Giai đoạn 1: tiềm ẩn[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn tiềm ẩn của chuyển dạ cũng được gọi là giai đoạn tiền chuyển dạ. Nó là một phân lớp của giai đoạn đầu tiên ".[36]

Giai đoạn tiềm ẩn thường được định nghĩa là bắt đầu từ thời điểm người phụ nữ nhận ra các cơn co tử cung thường xuyên.[37] Ngược lại, những cơn co thắt Braxton Hicks, những cơn co thắt có thể bắt đầu khoảng 26 tuần tuổi thai và đôi khi được gọi là "chuyển dạ giả", nên không thường xuyên, không đều và chỉ có chuột rút nhẹ.[38]

Vận động cổ tử cung, là sự mỏng đi và kéo dài của cổ tử cung, và sự giãn nở cổ tử cung xảy ra trong những tuần cuối tuần của thai kỳ và thường hoàn thành hoặc gần hoàn thành, vào cuối giai đoạn tiềm ẩn. Mức độ vận động cổ tử cung có thể cảm thấy trong khi khám âm đạo. Cổ tử cung 'dài' có nghĩa là sự xáo trộn vẫn chưa xảy ra. Giai đoạn tiềm ẩn kết thúc với giai đoạn hoạt động đầu tiên.

Giai đoạn 1: hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn hoạt động của chuyển dạ (hoặc giai đoạn hoạt động của giai đoạn đầu tiên) nếu giai đoạn trước gọi là giai đoạn tiềm ẩn của giai đoạn đầu tiên) có các định nghĩa khác nhau tùy theo khu vực. Ở Mỹ, định nghĩa chuyển dạ tích cực đã được thay đổi từ giãn nở cổ tử cung 3 cm xuống còn 4 cm, 5 cm đối với phụ nữ đa thai, người mẹ đã sinh trước đó, và 6 cm đối với phụ nữ chưa sinh đẻ lần nào.[39] Quy định này đã được thực hiện trong một nỗ lực để tăng tỷ lệ sinh thường qua âm đạo.[40]

Định nghĩa về hoạt động tích cực trong một tạp chí Anh bị co thắt thường xuyên hơn mỗi 5 phút, ngoài giãn nở cổ tử cung từ 3cm trở lên hoặc cổ tử cung làm mỏng từ 80% trở lên.[41]

Ở Thụy Điển, giai đoạn khởi đầu của giai đoạn chuyển dạ được xác định khi hai tiêu chí sau được đáp ứng:[42]

  • Ba đến bốn lần co bóp trong 10 phút
  • Vỡ màng ối
  • Giãn cổ tử cung 3 đến 4 cm

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Martin, Elizabeth. Concise Colour Medical l.p.Dictionary (bằng tiếng Anh). Oxford University Press. tr. 375. ISBN 978-0-19-968799-2. 
  2. ^ “The World Factbook”. www.cia.gov. 11 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2016. 
  3. ^ “Preterm birth Fact sheet N°363”. WHO. Tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2016. 
  4. ^ Buck, Germaine M.; Platt, Robert W. (2011). Reproductive and perinatal epidemiology. Oxford: Oxford University Press. tr. 163. ISBN 978-0-19-985774-6. 
  5. ^ Co-Operation, Organisation for Economic; Development (2009). Doing better for children. Paris: OECD. tr. 105. ISBN 978-92-64-05934-4. 
  6. ^ Olsen, O; Clausen, JA (12 tháng 9 năm 2012). “Planned hospital birth versus planned home birth.”. The Cochrane database of systematic reviews (9): CD000352. PMC 4238062. PMID 22972043. doi:10.1002/14651858.CD000352.pub2. 
  7. ^ Fossard, Esta de; Bailey, Michael (2016). Communication for Behavior Change: Volume lll: Using Entertainment–Education for Distance Education. SAGE Publications India. ISBN 978-93-5150-758-1. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016. 
  8. ^ Memon, HU; Handa, VL (tháng 5 năm 2013). “Vaginal childbirth and pelvic floor disorders.”. Women's health (London, England) 9 (3): 265–77; quiz 276–7. PMC 3877300. PMID 23638782. doi:10.2217/whe.13.17. 
  9. ^ “Birth”. The Columbia Electronic Encyclopedia. Columbia University Press. 2012. Truy cập 2013-08-10 from Encyclopedia.com.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  10. ^ a ă â b c d đ e “Pregnancy Labor and Birth”. Women's Health. 27 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016. 
  11. ^ “Birth”. The Columbia Electronic Encyclopedia (ấn bản 6). Columbia University Press. 2016. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2016 – qua Encyclopedia.com. 
  12. ^ McDonald, SJ; Middleton, P; Dowswell, T; Morris, PS (11 tháng 7 năm 2013). “Effect of timing of umbilical cord clamping of term infants on maternal and neonatal outcomes.”. The Cochrane database of systematic reviews 7: CD004074. PMID 23843134. doi:10.1002/14651858.CD004074.pub3. 
  13. ^ Hofmeyr, GJ; Hannah, M; Lawrie, TA (21 tháng 7 năm 2015). “Planned caesarean section for term breech delivery.”. The Cochrane database of systematic reviews (7): CD000166. PMID 26196961. doi:10.1002/14651858.CD000166.pub2. 
  14. ^ Childbirth: Labour, Delivery and Immediate Postpartum Care (bằng tiếng Anh). World Health Organization. 2015. tr. Chapter D. ISBN 978-92-4-154935-6. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016. 
  15. ^ Molina, G; Weiser, TG; Lipsitz, SR; Esquivel, MM; Uribe-Leitz, T; Azad, T; Shah, N; Semrau, K; Berry, WR; Gawande, AA; Haynes, AB (1 tháng 12 năm 2015). “Relationship Between Cesarean Delivery Rate and Maternal and Neonatal Mortality”. JAMA 314 (21): 2263–70. PMID 26624825. doi:10.1001/jama.2015.15553. 
  16. ^ a ă â Education material for teachers of midwifery: midwifery education modules (PDF) (ấn bản 2). Geneva [Switzerland]: World Health Organisation. 2008. ISBN 978-92-4-154666-9. 
  17. ^ Martin, Richard J.; Fanaroff, Avroy A.; Walsh, Michele C. Fanaroff and Martin's Neonatal-Perinatal Medicine: Diseases of the Fetus and Infant (bằng tiếng Anh). Elsevier Health Sciences. tr. 116. ISBN 978-0-323-29537-6. 
  18. ^ Weber, S.E. (1996). “Cultural aspects of pain in childbearing women”. Journal of Obstetric, Gynecologic, & Neonatal Nursing 25 (1): 67–72. PMID 8627405. doi:10.1111/j.1552-6909.1996.tb02515.x. 
  19. ^ Callister, L.C.; Khalaf, I.; Semenic, S.; Kartchner, R. và đồng nghiệp (2003). “The pain of childbirth: perceptions of culturally diverse women”. Pain Management Nursing 4 (4): 145–54. PMID 14663792. doi:10.1016/S1524-9042(03)00028-6. 
  20. ^ Hodnett, E.D. (2002). “Pain and women's satisfaction with the experience of childbirth: A systematic review”. American Journal of Obstetrics and Gynecology 186 (5 (Supplement)): S160–72. PMID 12011880. doi:10.1016/S0002-9378(02)70189-0. 
  21. ^ “Crowning”. American Pregnancy Association. Tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013. 
  22. ^ Harms, Rogert W. Does back labor really happen?, mayoclinic.com, Retrieved 8 September 2014
  23. ^ Meyer, D. (2007). “Selective serotonin reuptake inhibitors and their effects on relationship satisfaction”. The Family Journal 15 (4): 392–397. doi:10.1177/1066480707305470. 
  24. ^ Bowen, R. (12 tháng 7 năm 2010). “Oxytocin”. Hypertexts for Biomedical Sciences. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013. 
  25. ^ “Baby Blues”. American Pregnancy Association. Tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013. 
  26. ^ Zlotnick, C.; Johnson, S.L.; Miller, I.W.; Pearlstein, T. và đồng nghiệp (2001). “Postpartum depression in women receiving public assistance: Pilot study of an interpersonal-therapy-oriented group intervention”. American Journal of Psychiatry 158 (4): 638–40. PMID 11282702. doi:10.1176/appi.ajp.158.4.638. 
  27. ^ Chabrol, H.; Teissedre, F.; Saint-Jean, M.; Teisseyre, N.; Sistac, C.; Michaud, C.; Roge, B. (2002). “Detection, prevention and treatment of postpartum depression: A controlled study of 859 patients”. L'Encephale 28 (1): 65–70. PMID 11963345. 
  28. ^ Pillitteri, A. (2010). “Chapter 15: Nursing Care of a Family During Labor and Birth”. Maternal & Child Health Nursing: Care of the Childbearing & Childrearing Family. Hagerstown, Maryland: Lippincott Williams & Wilkins. tr. 350. ISBN 978-1-58255-999-5. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013. 
  29. ^ Healthline Staff; Levine, D. (Medical Reviewer) (15 tháng 3 năm 2012). “Types of Forceps Used in Delivery”. Healthline. Healthline Networks. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2013. 
  30. ^ Kupferminc, M.; Lessing, J. B.; Yaron, Y.; Peyser, M. R. (1993). “Nifedipine versus ritodrine for suppression of preterm labour”. BJOG: an International Journal of Obstetrics and Gynaecology 100 (12): 1090–1094. doi:10.1111/j.1471-0528.1993.tb15171.x. 
  31. ^ Jokic, M.; Guillois, B.; Cauquelin, B.; Giroux, J. D.; Bessis, J. L.; Morello, R.; Levy, G.; Ballet, J. J. (2000). “Fetal distress increases interleukin-6 and interleukin-8 and decreases tumour necrosis factor-alpha cord blood levels in noninfected full-term neonates”. BJOG: an International Journal of Obstetrics and Gynaecology 107 (3): 420–425. doi:10.1111/j.1471-0528.2000.tb13241.x. 
  32. ^ Lyrenas, S.; Clason, I.; Ulmsten, U. (2001). “In vivo controlled release of PGE2 from a vaginal insert (0.8 mm, 10 mg) during induction of labour”. BJOG: an International Journal of Obstetrics and Gynaecology 108 (2): 169–178. doi:10.1111/j.1471-0528.2001.00039.x. 
  33. ^ Giacalone, P. L.; Vignal, J.; Daures, J. P.; Boulot, P.; Hedon, B.; Laffargue, F. (2000). “A randomised evaluation of two techniques of management of the third stage of labour in women at low risk of postpartum haemorrhage”. BJOG: an International Journal of Obstetrics and Gynaecology 107 (3): 396–400. doi:10.1111/j.1471-0528.2000.tb13236.x. 
  34. ^ Hantoushzadeh, S.; Alhusseini, N.; Lebaschi, A. H. (2007). “The effects of acupuncture during labour on nulliparous women: A randomised controlled trial”. The Australian and New Zealand Journal of Obstetrics and Gynaecology 47 (1): 26–30. PMID 17261096. doi:10.1111/j.1479-828X.2006.00674.x. 
  35. ^ Reiter, R. J.; Tan, D. X.; Korkmaz, A.; Rosales-Corral, S. A. (2013). “Melatonin and stable circadian rhythms optimize maternal, placental and fetal physiology”. Human Reproduction Update 20 (2): 293–307. ISSN 1355-4786. PMID 24132226. doi:10.1093/humupd/dmt054. 
  36. ^ Usatine, R.P. (developer). “Labor & Delivery”. Maternity Guide (for medical residents). Family & Community Medicine Dept, University of Texas Health Science Center at San Antonio. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013. 
  37. ^ Satin, A.J. (1 tháng 7 năm 2013). “Latent phase of labor”. UpToDate. Wolters Kluwer. 
  38. ^ Murray, L.J.; Hennen, L.; Scott, J. (2005). The BabyCenter Essential Guide to Pregnancy and Birth: Expert Advice and Real-World Wisdom from the Top Pregnancy and Parenting Resource. Emmaus, Pennsylvania: Rodale Books. tr. 294–295. ISBN 1-59486-211-7. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013. 
  39. ^ Obstetric Data Definitions Issues and Rationale for Change, 2012 by ACOG.
  40. ^ Boyle A, Reddy UM, Landy HJ, Huang CC, Driggers RW, Laughon SK (tháng 7 năm 2013). “Primary cesarean delivery in the United States.”. Obstetrics and gynecology 122 (1): 33–40. PMC 3713634. PMID 23743454. doi:10.1097/AOG.0b013e3182952242. 
  41. ^ Su, M.; Hannah, W. J.; Willan, A.; Ross, S.; Hannah, M. E. (2004). “Planned caesarean section decreases the risk of adverse perinatal outcome due to both labour and delivery complications in the Term Breech Trial”. BJOG: an International Journal of Obstetrics and Gynaecology 111 (10): 1065–74. PMID 15383108. doi:10.1111/j.1471-0528.2004.00266.x. 
  42. ^ Sjukvårdsrådgivningen (In Swedish) - Official information of the County Councils of Sweden.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]