Dinitơ monoxit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Dinitơ monoxit
Nitrous-oxide-2D-VB.svg
Các dạng chính của Nitrous Oxit
Nitrous-oxide-dimensions-3D-balls.png
Độ dài liên kết
Nitrous-oxide-3D-vdW.png
Phân tử khí Nitrous Oxit
Danh pháp IUPACNitrous oxide
Tên kháckhí gây cười, protoxit của nitơ, hyponitơ oxit
Nhận dạng
Số CAS10024-97-2
PubChem948
KEGGD00102
ChEBI17045
Số RTECSQX1350000
Mã ATCN01AX13
Ảnh Jmol-3Dảnh
SMILES
InChI
Thuộc tính
Công thức phân tửN2O
Khối lượng mol44.013 g/mol
Bề ngoàikhí ga không màu
Khối lượng riêng1.977 g/L (gas)
Điểm nóng chảy−90.86 °C (182.29 K)
Điểm sôi−88.48 °C (184.67 K)
Độ hòa tan trong nước0.15 g/100 ml (15 °C)
Độ hòa tanhòa tan trong cồn, ether, sulfuric acid
log P0.35
Áp suất hơi5150 kPa (20 °C)
Chiết suất (nD)1.330
Cấu trúc
Hình dạng phân tửlinear, C∞v
Mômen lưỡng cực0.166 D
Nhiệt hóa học
Entanpi
hình thành
ΔfHo298
+82.05 kJ/mol
Entropy mol tiêu chuẩn So298219.96 J K−1 mol−1
Dược lý học
Dược đồ điều trịInhalation
Trao đổi chất0.004%
Bán thải5 phút
ExcretionRespiratory
Các nguy hiểm
MSDSIlo.org, ICSC 0067
Chỉ mục EUChất gây ra ôxy hóa [O]
NFPA 704

NFPA 704.svg

0
3
1
OX
Điểm bắt lửaKhông bắt lửa
Các hợp chất liên quan
nitrogen oxits liên quanNitric oxit
Dinitrogen trioxit
Nitrogen dioxit
Dinitrogen tetroxit
Dinitrogen pentoxit
Hợp chất liên quanAmoni nitrat
Azide
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).
KhôngN kiểm chứng (cái gì ☑YKhôngN ?)

Dinitơ monoxit, danh pháp theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN: Dinitơ monoxide[1] (tiếng Anh: Nitrous oxide), còn gọi là khí gây cười, bóng cười,hợp chất hóa học ở điều kiện bình thường có dạng khí trong khí quyển Trái Đất, bao gồm 2 nguyên tử Nitơ kết hợp với 1 nguyên tử oxi, công thức là N2O.

Ở nhiệt độ phòng, nó là một khí không màu, không cháy, với một chút kim loại và mùi hương hương vị. Ở nhiệt độ cao, đinitơ monoxit là một chất ôxy hóa mạnh mẽ tương tự như oxy. Nó hòa tan trong nước.

N2O được sinh ra trong quá trình đốt các nhiên liệu hoá thạch. Hàm lượng của nó đang tăng dần trên phạm vi toàn cầu, hàng năm khoảng từ 0,2 - 0,3%. Một lượng nhỏ N2O khác xâm nhập vào khí quyển do kết quả của quá trình nitrat hoá các loại phân bón hữu cơ và vô cơ. N2O xâm nhập vào không khí sẽ không thay đổi dạng trong thời gian dài, chỉ khi đạt tới những tầng trên của khí quyển nó mới tác động một cách chậm chạp với nguyên tử Ôxy.

Trong phòng thí nghiệm, người ta điều chế N2O bằng cách nhiệt phân muối amoni nitrat. N2O có nhiều ứng dụng trong các ngành công nghiệp và y tế. Trong công nghiệp, N2O dùng để sản xuất chất bán dẫn; khí Dinitơ Monoxit là nguồn oxy cho các hóa chất lắng đọng hơi (CVD) của oxynitride silicom (pha tạp hoặc undoped) hoặc silicon. Ngoài ra, N2O dùng để giám sát chất thải môi trường trong công nghiệp phân tích tạp chất vi lượng, được sử dụng trong các máy ASS, máy phân tích kim loại nặng, được dùng như chất oxi hóa trong tên lửa. Trong y tế, N2O là một loại khí có chức năng giảm đau và gây mê, hoặc kết với các khí khác thành thuốc gây mê. N2O tác động lên các tế bào GABA (Gamma Aminobutyric Acid) có chức năng kìm hãm những tế bào thần kinh gây buồn ngủ. Trong thời gian đó, chất khí này cũng đồng thời can thiệp vào quá trình sản sinh ra các tế bào liên lạc thần kinh nội sinh (neurotransmitter) như opioid peptide và serotonin - một loại hoóc-môn có khả năng tạo ra cảm giác hưng phấn và hạnh phúc. Chính việc giải phóng các neurotransmitter đã kìm hãm sự phát ra cảm giác đau đớn trong não và kích hoạt khả năng giảm đau.

Tuy Dinitơ oxit chỉ tồn tại một lượng nhỏ trong khí quyển nhưng được xem là chất cản trở mạnh sự hình thành tầng ozon, với mức độ ảnh hưởng tương đương các hợp chất CFC. Người ta ước tính rằng khoảng 30% lượng N2O trong khí quyển gây ra do các hoạt động của con người, phần lớn từ các ngành nông nghiệpcông nghiệp.[2] Dinitơ oxit là khí tồn tại trong khí quyển lâu thứ ba trong các loại khí nhà kính, nên Dinitơ oxit là chất gây hiện tượng làm nóng toàn cầu mạnh.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bóng cười được giới thượng lưu Châu Âu sử dụng để tiêu khiển vào thế kỷ 19

Khí lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1772 bởi Joseph Priestley. Một bước quan trọng hướng tới điều này là trong thiết kế của thiết bị thí nghiệm để thu thập khí trên mặt nước, bởi Stephen Hales vào đầu những năm 1700. Nhưng khái niệm của ông (Hales) về cấu tạo của một chất khí khá khác với những gì chúng ta biết ngày nay.

Ông nghĩ rằng tất cả các loại khí đều là dạng không khí. Nếu các loại khí không có lợi cho sự sống, ông ta tin rằng không khí chứa đầy những hạt độc hại. Và nếu chúng bắt lửa, không khí bị ô nhiễm bởi các hạt dễ cháy, vô hình. Chất khí lần đầu tiên được công nhận bởi Joseph Black trong những thập niên năm 1750, khi ông điều tra về bản chất của oxit magiê, cacbonat và kết nối của chúng với carbon dioxide.

Priestley sử dụng thiết bị của Hales và khái niệm về khí của Black, mặc dù ông đã mô tả chúng là “không khí” cho đến ngày chết – để khám phá, hoặc báo cáo, một loạt các khí bao gồm: NO, , , (tất cả trong năm 1772), (1774) và (1775). Tất nhiên là ông không sử dụng những công thức này, và thực sự tên của chúng khá khác so với ngày hôm nay. Nitric oxit (NO) là không khí nitơ, và nitơ oxit là “không khí nitơ, giảm đi”, phản ánh phương pháp điều chế của nó cho phép NO tiếp xúc với mạt sắt ẩm.

+

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

N2O là một chất khí kích thích được bán hợp pháp tại các hộp đêm tại một số nước châu Âu và châu Á. Người ta bơm khí này vào một quả bóng bay, gọi là bóng cười (funky ball) và cung cấp cho các khách ở quán Bar. Các bác sĩ trên thế giới đều cảnh báo rằng chất khí này có thể gây ảnh hưởng trực tiếp tới tim mạchhệ thần kinh. Nếu lạm dụng bóng cười quá mức thì sẽ dẫn tới trầm cảm và có thể gây tử vong. Sau khí hít khí này vào, cơ thể có cảm giác tê tê, đặc biệt là nghe nhạc rõ, sau đó phấn khích, cười ngả nghiêng.

Đinitơ ôxit có tác dụng làm đông và bông kem tươi trong các bình xịt kem tươi hay dùng ở các quán cà phê, thường xuất hiện dưới tên gas isi.

N2O được sử dụng để tăng năng suất động cơ xe. Ngoài ra nó còn được dùng như chất oxi hóa trong tên lửa.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Bộ Khoa học và Công nghệ (2010). Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5530:2010 về Thuật ngữ hóa học - Danh pháp các nguyên tố và hợp chất hóa học. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2020. 
  2. ^ Ravishankara, A. R.; Daniel, J. S.; Portmann, R. W. (2009). “Nitrous Oxide (N2O): The Dominant Ozone-Depleting Substance Emitted in the 21st Century”. Science 326 (5949): 123–5. Bibcode:2009Sci...326..123R. PMID 19713491. doi:10.1126/science.1176985. 
  3. ^ Thompson, R. L., Lassaletta, L., Patra, P. K. và đồng nghiệp (2019). “Acceleration of global N2O emissions seen from two decades of atmospheric inversion”. Nat. Clim. Change 9 (12): 993–998. doi:10.1038/s41558-019-0613-7.