Cocain

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Cocaine)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cocain
Kokain - Cocaine.svg
Cocaine-from-xtal-1983-3D-balls.png
Dữ liệu lâm sàng
Tên thương mại Psicaine, Delcaine, Ensan Cocaine
Hiệp hội Dược sĩ Hoa Kỳ (AHFS) Thông tin tiêu dùng chi tiết Micromedex
Danh mục cho thai kỳ
  • US: C (Không loại trừ rủi ro)
Nguy cơ lệ thuộc
Nguy cơ gây nghiện Cao[3]
Đường uống Cục bộ, uống, bơm, tiêm tĩnh mạch
Nhóm thuốc
  • CNS Kích thích
  • Gây tê cục bộ
Mã ATC code
Tình trạng pháp lý
Tình trạng pháp lý
  • AU: Danh mục 8A
  • CA: Danh mục IC
  • DE: Nguyên bào IIID
  • NZ: Loại AZ
  • UK: Loại A
  • US: Bảng danh mục II[4]
  • UN: Danh mục thuốc ngủ I và  III
Dữ liệu dược động học
Sinh khả dụng
  • Bằng miệng: 33%[5]
  • Bơm vào: 60[6]–80%[7]
  • Thuốc xịt mũi: 25[8]–43%[5]
Trao đổi chất Gan CYP3A4
Bắt đầu tác dụng Vài giây đến vài phút[9]
Chu kỳ nửa phân rã sinh học 1 tiếng
Thời gian hoạt động 5 đến 90 phút[9]
Bài tiết Thận
Các định danh
Từ đồng nghĩa Benzoylmethylecgonine, coke
Số đăng ký CAS
PubChem CID
IUPHAR/BPS
DrugBank
ChemSpider
Định danh thành phần duy nhất
KEGG
ChEBI
ChEMBL
Phối tử ngân hàng dữ liệu protein
ECHA InfoCard 100.000.030
Dữ liệu hóa lý
Công thức hóa học C17H21NO4
Khối lượng phân tử 303.353 g/mol
Mẫu 3D (Jmol)
Độ nóng chảy 98 °C (208 °F)
Độ sôi 187 °C (369 °F)
Hòa tan trong nước ~1.8 mg/mL (20 °C)
 KhôngNCó  Chembox validation  (kiểm chứng)

Cocain là loại ma túy chiết xuất từ lá coca, có tinh thể hình kim, không màu và không mùi, vị hơi đắng mát và gây cảm giác hơi tê cho đầu lưỡi.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cocain lần đầu tiên được một Dược sĩ - hóa học người Đức,tên là Albert Niemann,(ở Goslar-Niedersachsen), chiết xuất từ lá cây coca vào năm 1860. Mãi tới tận năm 1883 cocain mới được một bác sĩ thử nghiệm với binh lính Đức và cho kết quả là sự hồi phục sức khỏe đáng kinh ngạc. Năm 1884 dược tính của cocain lại được phát hiện thêm tác dụng giảm đau, có công hiệu với bệnh lao phổi, hen suyễn, đau thần kinh liên sườn, đau răng. Những tác dụng làm tăng sức khỏe của cocain đã khiến trong những năm đầu của lịch sử chế phẩm, cocain có mặt trong nhiều loại thuốc bổ, kẹo, bánh và nước giải khát[10]. Nhiều người, trong đó có cả những người thuộc tầng lớp thượng lưu như nữ hoàng Victoria, nhà văn Jules Verne, đã ưa thích sử dụng cocain và những đồ ăn có cocain.

Những năm sau đó, cocain được sử dụng trong ngành dược, dùng để gây tê bằng cách bôi hay nhỏ giọt. Khi phẫu thuật cocain có thể được tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch, tuy phương thức này ít được sử dụng.

Tuy vậy, cùng với sự phổ biến của cocain, các nhà khoa học cũng nhận thấy tác dụng gây nghiện, gây hoang tưởng bộ phận rất mạnh của thuốc. Bởi vậy, cocain được xếp vào nhóm ma túy và bị luật pháp của hầu hết quốc gia ngăn cấm tàng trữ, mua bán, vận chuyển và sử dụng trái phép.

Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Khi phân tích các xác ướp Ai Cập, các nhà khảo cổ học thấy nhiều xác có dấu vết của cocain trong khi cây coca không có ở xứ sở này.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Malenka RC, Nestler EJ, Hyman SE (2009). “Chapter 15: Reinforcement and Addictive Disorders”. Trong Sydor A, Brown RY. Molecular Neuropharmacology: A Foundation for Clinical Neuroscience (ấn bản 2). New York: McGraw-Hill Medical. tr. 367. ISBN 9780071481274. While physical dependence and withdrawal occur with some drugs of abuse (opiates, ethanol), these phenomena are not useful in the diagnosis of addiction because they do not occur with other drugs of abuse (cocaine, amphetamine) and can occur with many drugs that are not abused (propranolol, clonidine). 
  2. ^ Hamid Ghodse (2010). Ghodse's Drugs and Addictive Behaviour: A Guide to Treatment (ấn bản 4). Cambridge University Press. tr. 91. ISBN 9781139485678. 
  3. ^ Introduction to Pharmacology Third Edition. Abingdon: CRC Press. 2007. tr. 222–223. ISBN 9781420047424. 
  4. ^ “DEA / Drug Scheduling”. www.dea.gov. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2017. 
  5. ^ a ă Fattinger K, Benowitz NL, Jones RT, Verotta D (2000). “Nasal mucosal versus gastrointestinal absorption of nasally administered cocaine”. Eur. J. Clin. Pharmacol. 56 (4): 305–10. PMID 10954344. doi:10.1007/s002280000147. 
  6. ^ Barnett G, Hawks R, Resnick R (1981). “Cocaine pharmacokinetics in humans”. J Ethnopharmacol 3 (2–3): 353–66. PMID 7242115. doi:10.1016/0378-8741(81)90063-5. 
  7. ^ Jeffcoat AR, Perez-Reyes M, Hill JM, Sadler BM, Cook CE (1989). “Cocaine disposition in humans after intravenous injection, nasal insufflation (snorting), or smoking”. Drug Metab. Dispos. 17 (2): 153–9. PMID 2565204. 
  8. ^ Wilkinson P, Van Dyke C, Jatlow P, Barash P, Byck R (1980). “Intranasal and oral cocaine kinetics”. Clin. Pharmacol. Ther. 27 (3): 386–94. PMID 7357795. doi:10.1038/clpt.1980.52. 
  9. ^ a ă Zimmerman, JL (tháng 10 năm 2012). “Cocaine intoxication.”. Critical care clinics 28 (4): 517–26. PMID 22998988. doi:10.1016/j.ccc.2012.07.003. 
  10. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên tintuconline