Cần sa (chất kích thích)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cần sa
Cannabis Plant.jpg
Cây cần sa cái có hoa
Thực vật Cần sa
Nguồn gốc cây Cannabis sativa, Cannabis indica, Cannabis ruderalis
Các thành phần của cây Hoa
Nguồn gốc địa lý Trung ÁNam Á.[1]
Thành phần Tetrahydrocannabinol, Cannabidiol, Cannabinol, Tetrahydrocannabivarin
Nơi sản xuất chính Afghanistan,[2] Canada,[3] China, Colombia,[4] India,[2] Jamaica,[2] Lebanon,[5] Mexico,[6] Morocco,[2] Netherlands, Pakistan, Paraguay,[6] Spain,[2] Thailand, Turkey, United States[2]
Tình trạng pháp lý

Cần sa còn được gọi là marijuana/cannabis, cỏ,[7][8][9][10] là một loại thuốc thần kinh từ cây Cannabis được sử dụng cho mục đích y tế hoặc giải trí.[11][12][13] Chất kích thích thần kinh chính của cần sa là tetrahydrocannabinol (THC), một trong 483 hợp chất đã biết trong cây này,[14] bao gồm ít nhất 65 loại cannabinoid khác.[15] Cần sa có thể được sử dụng bằng cách hút thuốc, hít hơi, trộn vào trong thực phẩm, hoặc như một chất chiết xuất.[16]

Cần sa có tác dụng về tinh thần và thể chất, chẳng hạn như tạo cảm giác "phê" hoặc "bay bổng", thay đổi chung về nhận thức, tâm trạng hào hứng và làm tăng sự thèm ăn.[16][17] Khởi đầu của các hiệu ứng là trong vòng vài phút khi hút thuốc, và khoảng 30 đến 60 phút khi nấu chín và ăn.[16][18] Các tác dụng này kéo dài từ hai đến sáu giờ.[18] Tác dụng phụ ngắn hạn có thể bao gồm giảm trí nhớ ngắn hạn, khô miệng, kỹ năng vận động bị suy giảm, mắt đỏ và cảm giác hoang tưởng hoặc lo lắng.[16][19][20] Tác dụng phụ lâu dài có thể bao gồm gây nghiện, giảm khả năng tâm thần ở những người bắt đầu hút từ tuổi thanh thiếu niên, và các vấn đề hành vi ở trẻ em có mẹ sử dụng cần sa trong khi mang thai.[16] Các nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa việc sử dụng cần sa và nguy cơ rối loạn tâm thần,[21] mặc dù việc này còn đang gây tranh cãi.[22]

Cần sa chủ yếu được sử dụng để giải trí hoặc như một loại thuốc chữa bệnh, mặc dù nó cũng có thể được sử dụng cho các mục đích tâm linh. Trong năm 2013, từ 128 đến 232 triệu người đã sử dụng cần sa (2,7% đến 4,9% dân số toàn cầu trong độ tuổi từ 15 đến 65).[23] Đây là loại thuốc bất hợp pháp được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới và Hoa Kỳ.[16][23] Các quốc gia có mức sử dụng cao nhất trong số những người trưởng thành vào năm 2018 là Zambia, Hoa Kỳ, CanadaNigeria.[24] Trong năm 2016, 51% người dân ở Hoa Kỳ đã từng sử dụng cần sa.[25] Khoảng 12% đã sử dụng nó trong vòng 1 năm, và 7,3% đã sử dụng nó trong vòng 1 tháng.[26]

Ghi chép sớm nhất của việc sử dụng cần sa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ 3 TCN.[27] Kể từ đầu thế kỷ 20, cần sa đã bị hạn chế về mặt pháp lý. Việc sở hữu, sử dụng và bán cần sa là bất hợp pháp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.[28][29] Cần sa dùng trong y tế đề cập đến việc sử dụng cần sa với đơn bác sĩ, là hợp pháp ở Canada, Bỉ, Úc, Hà Lan, Đức, Tây Ban Nha và 31 tiểu bang của Hoa Kỳ.[30] Vào tháng 9 năm 2018 cần sa đã được hợp pháp hoá ở Nam Phi[31], và Canada hợp pháp hóa việc sử dụng cần sa trong tháng 10 năm 2018.[32]

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tác dụng vật lý ngắn hạn chính của cần sa

Cần sa y tế, có thể đề cập đến việc sử dụng cần sa và các cannabinoid của nó để điều trị bệnh hoặc cải thiện triệu chứng; tuy nhiên, không có định nghĩa duy nhất nào.[33][34] Nghiên cứu khoa học nghiêm ngặt về cần sa như một loại dược phẩm đã bị cản trở bởi các hạn chế sản xuất và các quy định khác của luật liên bang Mỹ.[35] Có bằng chứng hạn chế cho thấy cần sa có thể được sử dụng để giảm buồn nôn và nôn trong hóa trị, để cải thiện sự thèm ăn ở những người bị nhiễm HIV/AIDS, và để điều trị đau mãn tính và co thắt cơ.[36][37][38] Việc sử dụng nó cho các ứng dụng y tế khác là không đủ cho kết luận về an toàn hoặc hiệu quả.

Sử dụng cần sa ngắn hạn làm tăng nguy cơ của các tác dụng phụ nhỏ và lớn của chất này.[37] Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm chóng mặt, cảm thấy mệt mỏi và ói mửa.[37] Những ảnh hưởng lâu dài của cần sa không rõ ràng.[37] Các mối quan tâm bao gồm các vấn đề về trí nhớ và nhận thức, nguy cơ nghiện, tâm thần phân liệt ở người trẻ tuổi, và nguy cơ dùng nhầm cần sa ở trẻ em.[36]

Giải trí[sửa | sửa mã nguồn]

Một phụ nữ hút cần sa

Cần sa có tác dụng lên tâm thần và sinh lý khi sử dụng.[39] Các hiệu ứng mong muốn ngay lập tức từ việc tiêu thụ cần sa bao gồm gây thư giãn và hưng phấn (cảm giác "hưng phấn" hoặc "bay bổng"), một sự thay đổi chung về nhận thức có ý thức, tăng nhận thức về cảm giác, tăng ham muốn tình dục[40] và biến dạng trong nhận thức về thời gian và không gian. Ở liều cao hơn, các hiệu ứng có thể bao gồm thay đổi hình ảnh cơ thể, thính giác và / hoặc ảo tưởng thị giác, giả mạc và mất điều hòa do suy giảm chọn lọc phản xạ polysynaptic. Trong một số trường hợp, cần sa có thể dẫn đến các trạng thái phân ly như cảm giác tách rời khỏi cơ thể[41][42] và cảm giác tách rời khỏi thực tế.[43]

Một số tác dụng phụ không mong muốn ngay lập tức bao gồm giảm trí nhớ ngắn hạn, khô miệng, kỹ năng vận động bị suy giảm và đỏ mắt.[44] Ngoài sự thay đổi chủ quan trong nhận thức và tâm trạng, các tác dụng về thể chất và thần kinh ngắn hạn phổ biến nhất bao gồm tăng nhịp tim, tăng sự thèm ăn và tiêu thụ thức ăn, hạ huyết áp, suy giảm trí nhớ ngắn hạn và làm việc,[45][46] khả năng lái xe và khả năng tập trung.

Một số người dùng có thể trải qua một giai đoạn rối loạn tâm thần cấp tính, thường giảm sau sáu giờ, nhưng trong một số ít trường hợp, người dùng nặng đô có thể có các triệu chứng kéo dài liên tục trong nhiều ngày.[47] Chất lượng cuộc sống giảm đi kèm với việc sử dụng cần sa quá mức, mặc dù mối quan hệ không nhất quán và yếu hơn so với thuốc lá và các chất khác.[48] Tuy nhiên, vẫn chưa rõ ràng mối quan hệ trên có là nguyên nhân và hiệu quả hay không.[48]

Vào ngày 17 tháng 10 năm 2018, Canada đã hợp pháp hoá cần sa để sử dụng cho người lớn với mục đích giải trí[49], khiến nước này trở thành quốc gia thứ hai trên thế giới thực hiện điều đó sau Uruguay và là quốc gia G7 đầu tiên hợp pháp hóa cần sa.[50] Hệ thống sản xuất được cấp phép của Canada có thể trở thành tiêu chuẩn vàng trên thế giới để sản xuất cần sa an toàn[51], bao gồm các điều khoản cho ngành công nghiệp cần sa tăng trưởng, nơi mà có nhiều cơ hội để thử nghiệm với các chủng loại cần sa khác nhau.[52] Các luật sử dụng khác nhau giữa các tỉnh bao gồm giới hạn độ tuổi, cấu trúc bán lẻ và trồng cần sa tại nhà.[49]

Tâm linh[sửa | sửa mã nguồn]

Một người Hindu hút cần sa tại Kolkata.

Cần sa giữ vai trò thiêng liêng trong một số tôn giáo. Nó đã được sử dụng trong bối cảnh entheogenic - một chất hóa học được sử dụng trong một bối cảnh tôn giáo, shamanhoặc tâm linh[53] - ở tiểu lục địa Ấn Độ kể từ thời kỳ Vệ Đà có niên đại khoảng 1500 TCN, nhưng cần sa có thể đã được dùng từ năm 2000 TCN. Có một số tài liệu tham khảo trong thần thoại Hy Lạp cho một loại thuốc mạnh mẽ với tác dụng loại bỏ nỗi đau khổ và nỗi buồn. Herodotus đã viết về các thực hành nghi lễ sớm của người Scythia, được cho là đã xảy ra từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 2 TCN. Trong văn hóa hiện đại, việc sử dụng cần sa trong bối cảnh tâm linh đã được truyền bá bởi các môn đồ của phong trào Rastafari, vốn sử dụng cần sa làm bí tích và là một sự trợ giúp cho thiền định. Các tác phẩm sớm nhất viết về vai trò thiêng liêng của cần sa ở tiểu lục địa Ấn Độ đến từ Atharva Veda ước tính đã được viết vào khoảng năm 2000–1400 TCN.[54]

Các cách sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Cần sa có thể sử dụng theo nhiều cách:[55]

  • hút, thường bao gồm việc đốt cháy và hít các cannabinoid bốc hơi ("khói") từ ống nhỏ, bong (phiên bản di động của hookah với ngăn chứa nước), quấn giấy hoặc quấn lá thuốc lá thô, và các vật dụng để hút khác.[56]
  • hít khí bay hơi
  • uống trà cần sa
  • đưa vào thực phẩm làm thức ăn
  • viên nhộng, thường chứa dầu cần sa và các sản phẩm bổ sung chế độ ăn uống khác, với 220 sản phẩm viên nhộng được phê duyệt tại Canada vào năm 2018[32]

Hậu quả về sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Cần sa là một trong những chất kích thích bị cấm mà được dùng nhiều nhất, 49% người Mỹ đã thử qua một lần[57]. Tuy nhiên, ngành y tế lại dùng chiết xuất của nó với một liều lượng thích hợp để chữa bệnh. Chính vì vậy cho nên phải cần biết về những hậu quả khi sử dụng trái phép cần sa làm chất kích thích.

Ảnh hưởng đến tinh thần[sửa | sửa mã nguồn]

Sử dụng cần sa tạo cho người dùng cảm giác hưng phấn và thư giãn, đa số cảm thấy tinh thần lên cao [58]. Nó cũng làm giảm sự tập trung và gây ảnh hưởng không tốt đến trí nhớ, đồng thời có thể làm người dùng cảm thấy mất phương hướng.[59] Người mới dùng lần đầu hoặc dùng quá nhiều có thể có những cảm giác lo sợ, bồn chồn hoặc ý nghĩ hoang tưởng. Đôi khi có người như bị man dại, loạn trí, trầm buồn nhất là những người có rắc rối về tâm lý.[58],

Ảnh hưởng đến cảm nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Do cảm giác hưng phấn, cannabis cũng gây ra những thay đổi về cảm nhận. Màu sắc sẽ thấy tươi sáng hơn, nhạc nghe du dương hơn, cảm xúc sâu sắc và nhiều ý nghĩa hơn. Cảm nhận về không gian bị bóp méo và cảm nhận về thời gian bị sai đi, làm cho có cảm tưởng là thời gian cảm nhận qua nhanh hơn giờ đồng hồ. Ngoài ra việc dùng cannabis với lượng cao có thể gây ra ảo giác [58].

Loạn tâm thần[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo sư Mỹ Asaf Keller, qua cuộc nghiên cứu của Trường Y Đại học Maryland, mà đã được công bố trên tạp chí chuyên môn Dược học tâm thần («Neuropsycho­pharmacology»), nói rằng việc sử dụng cần sa thường xuyên ở thời thiếu niên, chứ không phải ở độ tuổi trưởng thành, có thể gây tổn hại lâu dài cho chức năng não và khả năng nhận thức. Ông khẳng định việc sử dụng cần sa thường xuyên ở thời thiếu niên làm tăng nguy cơ bị các rối loạn tâm thần, chẳng hạn như bệnh tâm thần phân liệt.[60],[61],[62]

Mặc dù riêng cần sa không phải nguyên nhân, nhưng nó có thể là một yếu tố góp phần gây ra rối loạn tâm thần, đặc biệt là khi kết hợp với một người dùng mẫn cảm. Hút cần sa ở mức cao hơn và tăng tần số sử dụng, và tiếp xúc từ rất sớm mang lại nguy cơ cao làm phát triển hoặc làm trầm trọng thêm các chứng rối loạn tâm thần. Có khả năng là hai hoạt chất chính của cần sa, delta-9-tetrahydrocannabinol (THC) và cannabidiol (CBD) đã gây tác dụng đối với khu vực trung tâm của não để đối phó với những tác động tâm lý bất lợi của THC[63][64].

Khả năng lái xe[sửa | sửa mã nguồn]

Cần sa làm rối loạn sự nhận thức và kéo dài thời gian phản ứng, dễ đưa tới tai nạn xe cộ. Vì vậy, cần sa bị cấm sử dụng khi lái xe và lái máy bay, hoặc những hoạt động phức tạp hơn.[58],

Gây nghiện[sửa | sửa mã nguồn]

Cần sa có tính gây nghiện thấp hơn các chất kích thích khác như thuốc lá, rượu chè,Heroin, Cocaine, ma túy đá...[65] Những phản ứng khi ngừng sử dụng thuốc cũng được đánh giá là khá yếu (không gây vật vã đau đớn)[66] Do bản thân cần sa không chứa chất gây nghiện như nicotine hoặc opiate nên cần sa được coi là không gây nghiện về mặt thể xác, nhưng có thể gây nghiện về mặt tâm lý[67] Các nghiên cứu cho rằng khoảng 10-20% của những người đã từng sử dụng cần sa, và khoảng 33-50% những người sử dụng cần sa hàng ngày có các triệu chứng mắc nghiện cần sa

Ngày càng có nhiều nghiên cứu thấy rằng cần sa có tính gây nghiện. Người sử dụng cần sa thường sau một thời gian sẽ gặp tình trạng lệ thuộc cần sa. Khi thí nghiệm, cả động vật và con người đều có triệu chứng về thể chất và tâm lý do mắc nghiện cần sa, bao gồm kích thích, bồn chồn, bớt hứng thú ăn, mất ngủ, buồn nôn và khao khát mãnh liệt. Các nghiên cứu với người dùng Việc tăng liều dùng cần sa (nhờn kích thích) cũng diễn ra nhanh chóng. Người hút cần sa thường xuyên cần liều cao hơn 8 lần để có được hiệu ứng giống như người dùng không thường xuyên[68]. Các nghiên cứu với người dùng cần sa cho thấy, điểm cao của cơn ghiền là 2, 3 ngày đầu và ngoại trừ mất ngủ từ ngày thứ 6 họ cảm thấy dễ chịu trở lại.[69]

Trang mạng sở y tế UBND Thừa Thiên Huế cho là, bản thân cần sa ngây nghiện từ từ, nhưng nó lại là một loại chất dẫn trung gian tới các chất gây nghiện tức thì. Theo trang này lấy từ một thống kê ở Mỹ, 80% những người dùng ma túy đá, heroin đều từng dùng qua qua cần sa trước khi tìm đến những loại ma túy có tác dụng mạnh hơn.[70] Nhưng Viện Quốc gia về lạm dụng chất kích thích của Hoa Kỳ thì cho là đa số những người dùng cần sa không dùng những chất kích thích mạnh hơn và cả thuốc lá và rượu chè cũng được dùng đầu tiên trước khi những chất độc hại hơn được dùng.[71]

Ảnh hưởng nội tạng[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh hưởng đến hệ hô hấp[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp hội phổi Hoa Kỳ khuyến cáo không nên hút cần sa do khói cần sa có thể gây ảnh hưởng xấu đến phổi như là hút thuốc lá (không có Nicotine). Chưa có nghiên cứu chỉ rõ tác hại khi hút cần sa có hơn khi hút các chất khác không. Tuy vậy, ảnh hưởng của khói cần sa lên phổi là không thể phủ nhận. Trong cần sa cũng có những hóa chất có thể gây ung thư phổi như trong thuốc lá.,[72] Vì vậy bác sĩ khuyến cáo nên sử dụng cần sa bằng thiết bị vaporizer hoặc qua đường tiêu hóa.[73] Giống như khi hút bất cứ loại khói nào, ngoài gây viêm phế quản mãn tính, làm hẹp đường thở, cần sa còn làm cho máu người hút chứa hàm lượng rất cao khí độc carbon monoxide (CO). Ngoài ra khi sử dụng cần sa không có đầu lọc, kèm theo việc người hút thường hít mạnh hơn, giữ khói lâu hơn trong phổi, sẽ gây những ảnh hưởng xấu[74]. Dùng 1 điếu cần sa, hàm lượng khí CO (một loại khí độc) có trong máu người hút cao bằng hoặc hơn so với hút 5 điếu thuốc lá[75]

Ảnh hưởng đến sinh dục[sửa | sửa mã nguồn]

Một số người tin rằng cần sa kích thích tình dục, nhưng nó thực sự có thể làm giảm khả năng tình dục và testosterone.[76] Theo một nghiên cứu mới công bố năm 2012 trên tạp chí Ung thư của Mỹ, có mối liên hệ giữa việc sử dụng cần sa và nguy cơ mắc ung thư tinh hoàn. Nghiên cứu cho biết khi được hỏi về việc đã từng sử dụng cần sa hay chưa, số người bị ung thư tinh hoàn trả lời là "có" gấp đôi những người không bị[77] Hiện nay, gần như người ta biết rõ trong cần sa chứa những chất gì. Có một số chất chính gọi là cannabinoid đã được tìm thấy, như tetrahydrocannabinol (THC) và cannabinol.

Ảnh hưởng đến sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một nghiên cứu vào năm 2003, những người hút cần sa thường xuyên có những vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe sinh sản. Nhiều thử nghiệm cho thấy nam giới hút cần sa lâu ngày sẽ bị giảm lượng testosterone (nội tiết tố sinh dục nam) trong máu; khối lượng tinh hoàn, sự sinh tinh trùng và khả năng sinh dục cũng giảm.

Khi thử nghiệm trên súc vật cái như chuột, thỏ, khỉ, THC ức chế sự phóng noãn (rụng trứng). Đối với phụ nữ hút cần sa thường xuyên, họ sẽ có một lượng nhỏ chất lỏng THC ở các cơ quan sinh sản, bao gồm âm đạo gây khó khăn cho việc tinh trùng được thụ tinh thành công. Theo các chuyên gia, tinh trùng thâm nhập vào ống âm đạo khi bị kích thích bởi các hợp chất trong cần xa có tên tetrahydrocannabinol (THC) sẽ di chuyển chậm lại, khó tiếp cận với trứng và xâm nhập vào trong trứng để thụ tinh.

Ngoài vấn đề về khả năng sinh sản, cần sa được cho là có liên quan đến cân nặng thấp của trẻ sơ sinh, các vấn đề về hành vi, phát triển kém, bất thường về thể chất, chỉ số IQ thấp hơn, ngôn ngữ và trí nhớ kém. Một nghiên cứu được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu tại Đại học Minnesota xuất bản tháng 5 năm 1989 trong tạp chí Ung thư, cho thấy rằng thai nhi có mẹ hút cần sa bị tăng nguy cơ mắc bệnh bạch cầu.[76] Đàn bà có thai mà hút nhiều cần sa thì sanh non, con nhẹ ký, thân ngắn, đầu nhỏ, lớn lên kém tập trung. Mẹ hút, cho con bú thì chất THC từ sữa truyền sang làm ảnh hưởng không tốt tới các cử động bắp thịt của con.

Ảnh hưởng đến bệnh ung thư[sửa | sửa mã nguồn]

Cần sa có thể kích hoạt một số tế bào miễn dịch được cho là có nguy cơ gây ra ung thư. Tuy vậy cũng có những nghiên cứu cho thấy cần sa có tác dụng tốt với việc chữa bênh ung thư. Do đó có thể coi cần sa như một con dao hai lưỡi, cần được cơ sở y tế hướng dẫn sử dụng cẩn thận[78]

Ảnh hưởng đến Hệ miễn dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Cần sa làm phá hủy và ức chế sự sản sinh tế bào T, tế bào chính để chống nhiễm trùng, đưa đến suy yếu sự miễn dịch của cơ thể[79].

Ảnh hưởng đến tim và hệ tuần hoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh hưởng của cần sa vào người cao tuổi, người có bệnh tim mạch, cao huyết áp, bệnh mạch máu não rất đáng quan tâm. Cần sa làm tăng nhịp tim đập, tăng máu rời khỏi tim, thay đổi huyết áp, giảm dưỡng khí cho mạch máu tim, tất cả đều đưa tới hậu quả không tốt. Tháng 2 năm 2000, American Heart Association đã đưa ra một kết luận là hút cần sa có thể gây ra cơn kích tim (heart attack) ở người có trái tim không được mạnh: nửa giờ sau khi hút, cơn kích tim xảy ra bốn lần nhiều hơn là không hút.[58][80].

Những nhận định gây tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Theo tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng – Giám đốc Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương, cần sa có những tác động gây ảo giác khác nhau với mỗi người. Chứng hoang tưởng thường gặp ở giới nghiện cần sa là họ cho rằng có một hoặc nhiều người đang theo dõi, tìm cách làm hại mình, những người xung quanh đang giễu cợt, coi thường hoặc dò xét mình với ý đồ xấu.[81]
  • Bác sĩ trị bệnh cho Lý Tiểu Long ở Hong Kong, Donald Langford, cho là ông đã chết chủ yếu vì đã nhai chất cần sa.[82] Nhân việc này, bác sĩ Peter Wu, bác sĩ chuyên về thần kinh, mà đã chữa cho Lý khi anh ta bị động kinh lần đầu vào tháng 5 năm 1973, cho biết, ở Nepal có nhiều vấn để liên quan đến hệ thần kinh khi họ dùng cần sa, đặc biệt làm cho não sưng lên (cerebral edema)." Một thí nghiệm với chuột tại Universitat Pompeu Fabra ở Barcelona đưa đến kết luận là dùng cần sa lâu dài có thể bị viêm não mà dẫn tới những vấn đề trong việc hoạt động cơ thể và việc học hành.[83]

Luật pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Những nơi sử dụng cần sa là hợp pháp được tô màu xanh

Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tại 4 tiểu bang Colorado, Washington, Alaska và Oregon, mua bán marijuana thì hợp pháp cả về dùng trị bệnh lẫn để tiêu khiển; Washington DC không còn coi việc dùng Marijuana là bất hợp pháp nhưng vẫn cấm bán.[84] 23 bang và vùng Columbia đã thông qua luật được dùng marijuana để chữa bệnh,[85] và 14 tiểu bang khác đã có những luật lệ để giảm vấn đề trừng phạt liên hệ tới Marijuana.[86][87], chỉ phạt những người sử dụng bằng cách tịch thu hay phạt[88]. Mục đích là để những người vị phạm như chỉ có sở hữu một số lượng nhỏ không phải vô tù.

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thẩm phán thiếu niên Andreas Müller tiên đoán trong vòng 4 năm nữa, việc tiêu thụ cannabis ở Đức sẽ không còn là bất hợp pháp, và phê bình, 40 năm nay nửa triệu người đã bị bỏ tù chỉ vì Cannabis, thường là giới trẻ, và như vậy nhiều cuộc sống và gia đình bị phá hủy hoàn toàn một cách không cần thiết, con người bị bêu xấu và đưa vào con đường hư hỏng, đó là hậu quả của luật lệ ở Đức hiện thời.[89]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mahmoud A. ElSohly (2007). Marijuana and the Cannabinoids. Springer. tr. 8. ISBN 978-1-59259-947-9. 
  2. ^ a ă â b c d United Nations. “World Drug Report 2013” (PDF). The united Nations. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2014. 
  3. ^ “Medical Use of Marijuana”. Health Canada. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2015. 
  4. ^ “New Colombia Resources Inc Subsidiary, Sannabis, Produces First Batch of Medical Marijuana Based Products in Colombia to Fill Back Orders.”. prnewswire.com. PR Newswire. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2015. 
  5. ^ Rana Moussaoui (25 tháng 11 năm 2013). “Lebanon cannabis trade thrives in shadow of Syrian war”. AFP. 
  6. ^ a ă Sanie Lopez Garelli (ngày 25 tháng 11 năm 2008). “Mexico, Paraguay top pot producers, U.N. report says”. CNN International. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2013. 
  7. ^ “Pot – Definition”. Merriam-Webster Dictionary. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2012. 
  8. ^ “Weed – Definition”. Merriam-Webster Dictionary. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2012. 
  9. ^ “Dope – Definition”. Merriam-Webster Dictionary. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2017. 
  10. ^ “Ganja – Definition”. Merriam-Webster Dictionary. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2017. 
  11. ^ Vij (2012). Textbook Of Forensic Medicine And Toxicology: Principles And Practice. Elsevier India. tr. 672. ISBN 978-81-312-1129-8. See also article on Marijuana as a word.
  12. ^ Bản mẫu:ShorterOxfordEnglishDictionary
  13. ^ Editors of the American Heritage Dictionaries (2007). Spanish Word Histories and Mysteries: English Words That Come From Spanish. Houghton Mifflin Harcourt. tr. 142. ISBN 978-0-547-35021-9. 
  14. ^ Russo EB (2013). Cannabis and Cannabinoids: Pharmacology, Toxicology, and Therapeutic Potential. Routledge. tr. 28. ISBN 978-1-136-61493-4. 
  15. ^ Newton DE (2013). Marijuana: a reference handbook. Santa Barbara, Calif.: ABC-CLIO. tr. 7. ISBN 9781610691499. 
  16. ^ a ă â b c d “DrugFacts: Marijuana”. National Institute on Drug Abuse. Tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2016. 
  17. ^ “Marijuana: Factsheets: Appetite”. Adai.uw.edu. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2013. 
  18. ^ a ă Riviello RJ (2010). Manual of forensic emergency medicine : a guide for clinicians. Sudbury, Mass.: Jones and Bartlett Publishers. tr. 41. ISBN 9780763744625. 
  19. ^ “Marijuana intoxication: MedlinePlus Medical Encyclopedia”. Nlm.nih.gov. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2013. 
  20. ^ Crippa JA, Zuardi AW, Martín-Santos R, Bhattacharyya S, Atakan Z, McGuire P, Fusar-Poli P (tháng 10 năm 2009). “Cannabis and anxiety: a critical review of the evidence”. Human Psychopharmacology 24 (7): 515–23. PMID 19693792. doi:10.1002/hup.1048. 
  21. ^ Leweke FM, Mueller JK, Lange B, Rohleder C (tháng 4 năm 2016). “Therapeutic Potential of Cannabinoids in Psychosis”. Biological Psychiatry 79 (7): 604–12. PMID 26852073. doi:10.1016/j.biopsych.2015.11.018. 
  22. ^ Ksir C, Hart CL (tháng 2 năm 2016). “Cannabis and Psychosis: a Critical Overview of the Relationship”. Current Psychiatry Reports 18 (2): 12. PMID 26781550. doi:10.1007/s11920-015-0657-y. 
  23. ^ a ă “Status and Trend Analysis of Illict [sic] Drug Markets”. World Drug Report 2015 (PDF). tr. 23. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015. 
  24. ^ “UNODC Statistics Online”. data.unodc.org. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2018. 
  25. ^ “Marijuana use and support for legal marijuana continue to climb”. 
  26. ^ Motel S (14 tháng 4 năm 2015). “6 facts about marijuana”. Pew Research Center. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015. 
  27. ^ Booth M (2003). Cannabis: A History. Transworld. tr. 36. ISBN 978-1-4090-8489-1. 
  28. ^ “Cannabis: Legal Status”. Erowid.org. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2011. 
  29. ^ UNODC. World Drug Report 2010. United Nations Publication. tr. 198. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010. 
  30. ^ “State Medical Marijuana Laws”. National Conference of State Legislatures. 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2018. 
  31. ^ “South Africa's Supreme Court Legalizes Marijuana”. Time (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2018. 
  32. ^ a ă “Health products containing cannabis or for use with cannabis: Guidance for the Cannabis Act, the Food and Drugs Act, and related regulations”. Government of Canada. 11 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2018. 
  33. ^ Murnion B (tháng 12 năm 2015). “Medicinal cannabis”. Australian Prescriber 38 (6): 212–5. PMC 4674028. PMID 26843715. doi:10.18773/austprescr.2015.072. 
  34. ^ “What is medical marijuana?”. National Institute of Drug Abuse. Tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2016. The term medical marijuana refers to using the whole unprocessed marijuana plant or its basic extracts to treat a disease or symptom. 
  35. ^ “Release the strains”. Nature Medicine 21 (9): 963. Tháng 9 năm 2015. PMID 26340110. doi:10.1038/nm.3946. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2015. 
  36. ^ a ă Borgelt LM, Franson KL, Nussbaum AM, Wang GS (tháng 2 năm 2013). “The pharmacologic and clinical effects of medical cannabis”. Pharmacotherapy 33 (2): 195–209. PMID 23386598. doi:10.1002/phar.1187. 
  37. ^ a ă â b Whiting PF, Wolff RF, Deshpande S, Di Nisio M, Duffy S, Hernandez AV, Keurentjes JC, Lang S, Misso K, Ryder S, Schmidlkofer S, Westwood M, Kleijnen J (23 tháng 6 năm 2015). “Cannabinoids for Medical Use: A Systematic Review and Meta-analysis”. JAMA 313 (24): 2456–73. PMID 26103030. doi:10.1001/jama.2015.6358. 
  38. ^ Jensen B, Chen J, Furnish T, Wallace M (tháng 10 năm 2015). “Medical Marijuana and Chronic Pain: a Review of Basic Science and Clinical Evidence”. Current Pain and Headache Reports 19 (10): 50. PMID 26325482. doi:10.1007/s11916-015-0524-x. 
  39. ^ Onaivi ES, Sugiura T, Di Marzo V (2005). Endocannabinoids: The Brain and Body's Marijuana and Beyond. Taylor & Francis. tr. 58. ISBN 978-0-415-30008-7. 
  40. ^ Osborne GB, Fogel C (2008). “Understanding the motivations for recreational marijuana use among adult Canadians” (PDF). Substance Use & Misuse 43 (3-4): 539–72; discussion 573–9, 585–7. PMID 18365950. doi:10.1080/10826080701884911. 
  41. ^ “Medication-Associated Depersonalization Symptoms”. 
  42. ^ Shufman E, Lerner A, Witztum E (tháng 4 năm 2005). “[Depersonalization after withdrawal from cannabis usage]” (PDF). Harefuah (bằng tiếng Hebrew) 144 (4): 249–51, 303. PMID 15889607. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2005. 
  43. ^ Johnson BA (tháng 2 năm 1990). “Psychopharmacological effects of cannabis”. British Journal of Hospital Medicine 43 (2): 114–6, 118–20, 122. PMID 2178712. 
  44. ^ Hall W, Pacula RL (2003). Cannabis Use and Dependence: Public Health and Public Policy. Cambridge University Press. tr. 38. ISBN 978-0-521-80024-2. 
  45. ^ Mathre ML biên tập (1997). Cannabis in Medical Practice: A Legal, Historical, and Pharmacological Overview of the Therapeutic Use of Marijuana. University of Virginia Medical Center. tr. 144–. ISBN 978-0-7864-8390-7. 
  46. ^ Riedel G, Davies SN (2005). “Cannabinoid function in learning, memory and plasticity”. Handbook of Experimental Pharmacology. Handbook of Experimental Pharmacology 168 (168): 445–77. ISBN 3-540-22565-X. PMID 16596784. doi:10.1007/3-540-26573-2_15. 
  47. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Barceloux2012
  48. ^ a ă Goldenberg M, IsHak WW, Danovitch I (tháng 1 năm 2017). “Quality of life and recreational cannabis use”. The American Journal on Addictions 26 (1): 8–25. PMID 28000973. doi:10.1111/ajad.12486. 
  49. ^ a ă Butler, Patrick (17 tháng 10 năm 2018). “Cannabis is legal in Canada — here's what you need to know”. CBC. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2018. 
  50. ^ Sapra, Bani (20 tháng 6 năm 2018). “Canada becomes second nation in the world to legalize marijuana”. CNN. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2018. 
  51. ^ “This Application Seems Rigorous. Are All These Hoops Necessary?”. LicensedProducersCanada.com. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2018. 
  52. ^ “Will Craft Cannabis Growers in Canada Succeed Like Craft Brewers?”. LicensedProducersCanada.com. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2018. 
  53. ^ “Brazilian Archives of Biology and Technology – Jurema-Preta (Mimosa tenuiflora [Willd.] Poir.): a review of its traditional use, phytochemistry and pharmacology”. scielo.br. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2009. 
  54. ^ Courtwright D (2001). Forces of Habit: Drugs and the Making of the Modern World. Harvard Univ. Press. tr. 39. ISBN 0-674-00458-2. 
  55. ^ Golub A (2012). The Cultural/Subcultural Contexts of Marijuana Use at the Turn of the Twenty-First Century. Routledge. tr. 82. ISBN 978-1-136-44627-6. 
  56. ^ Tasman A, Kay J, Lieberman JA, First MB, Maj M (2011). Psychiatry. John Wiley & Sons. tr. 9. ISBN 978-1-119-96540-4. 
  57. ^ “6 facts about marijuana”. Truy cập 4 tháng 2 năm 2018. 
  58. ^ a ă â b c Pharmacology and effects of cannabis The British Journal of Psychiatry tháng 2 năm 2001
  59. ^ “Cannabis (marijuana)”. 
  60. ^ “Thêm bằng chứng về tác hại của cần sa”. Thanh Niên Online. Truy cập 12 tháng 4 năm 2015. 
  61. ^ “Marihuana in der Jugend: Bleibende Schäden”. pharmazeutische-zeitung. Truy cập 19 tháng 9 năm 2015. 
  62. ^ “Marijuana use in adolescence may cause permanent brain abnormalities, mouse study suggests”. sciencedaily. Truy cập 19 tháng 9 năm 2015. 
  63. ^ Parakh, P; Basu, D (tháng 8 năm 2013). “Cannabis and psychosis: have we found the missing links?”. Asian Journal of Psychiatry (Review) 6 (4): 281–7. PMID 23810133. doi:10.1016/j.ajp.2013.03.012. 
  64. ^ Niesink, RJ; van Laar, MW (2013). “Does Cannabidiol Protect Against Adverse Psychological Effects of THC?”. Frontiers in Psychiatry (Review) 4: 130. PMC 3797438. PMID 24137134. doi:10.3389/fpsyt.2013.00130. 
  65. ^ “Dependence Liability: Dependency Compared to Other Drugs”. 
  66. ^ “Marijuana Dependence Liability: Dependency Compared to Other Drugs”. 
  67. ^ “Marijuana | CESAR”. 
  68. ^ “Health Promotion”. Truy cập 4 tháng 2 năm 2018. 
  69. ^ Dependence on Marijuana, Đại học Washington,
  70. ^ Hãy tránh xa 10 loại ma túy đang được lạm dụng nhiều nhất thế giới, syt.thuathienhue, 28/07/2015
  71. ^ marijuana a gateway drug?, drugabuse, tháng 6 năm 2015
  72. ^ “Marijuana and Lung Health - American Lung Association”. 
  73. ^ “Ways to consume medical marijuana”. 
  74. ^ “Marijuana and Lung Health”. 
  75. ^ “Sa vào bồ đà là chết !”. Người Lao động. Truy cập 21 tháng 9 năm 2015. 
  76. ^ a ă “Before Baby, Get High or Lay Low?”. 
  77. ^ “Study Links Marijuana Use to Testicular Cancer”. 
  78. ^ “How cannabis suppresses immune functions: Cannabis compounds found to trigger unique immune cells which promote cancer growth”. 
  79. ^ “Marijuana components suppress induction and cytolytic function of murine cytotoxic T cells in vitro and in vivo.”. Truy cập 21 tháng 9 năm 2015. 
  80. ^ “Evidence linking marijuana and risk of stroke grows”. 
  81. ^ http://laodongthudo.vn/ma-duoc-giet-nguoi-mang-ten-co-my-hoi-sinh-nhung-bo-nao-hong-13927.html
  82. ^ SHIH, LEE HAN. “The Life of the Dragon” (*Special to asia!). Lee Han Shih is the founder, publisher and editor of asia! Magazine. asia! Magazine. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2009. 
  83. ^ “Chronic Cannabis Use May Cause Brain Inflammation”. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2015.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  84. ^ Ferner, Matt (ngày 26 tháng 1 năm 2015). “Legal Marijuana Is The Fastest-Growing Industry In The U.S.: Report”. Huffington post. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2015. 
  85. ^ “23 Legal Medical Marijuana States and DC”. Truy cập 21 tháng 9 năm 2015. 
  86. ^ 3 States with Pending Legislation to Legalize Medical Marijuana, Ngày 10 tháng 12 năm 2012, truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2013 
  87. ^ http://www.cga.ct.gov/2010/rpt/2010-R-0204.htm
  88. ^ “NORML.org”. Truy cập 21 tháng 9 năm 2015. 
  89. ^ "Cannabis wird Deutschland friedlicher machen", zeit, 11.9.2015

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Cannabaceae tại Wikimedia Commons