N,N-Dimethyltryptamine

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
DMT.svg
Dimethyltryptamine 27feb.gif
N,N-Dimethyltryptamine
Tên IUPAC hệ thống
2-(1H-Indol-3-yl)-N,N-dimethylethanamine
Nhận dạng
Số CAS 61-50-7
Mã ATC none
PubChem 6089
DrugBank DB01488
Dữ liệu hóa chất
Công thức C12H16N2 
Phân tử gam 188.269 g/mol
SMILES tìm trong eMolecules, PubChem
Dữ liệu vật lý
Tỷ trọng 1.099 g/cm³
Nóng chảy 40 °C (104 °F)
Sôi 160 °C (320 °F)
@ 0,6 Torr (80 Pa)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ][1]
also reported as
80–135 °C (176–275 °F)
@ 0,03 Torr (4,0 Pa)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ][2]
Dữ liệu dược động lực học
Sinh khả dụng ?
Chuyển hóa ?
Bán thải ?
Bài tiết ?
Lưu ý trị liệu
Phạm trù thai sản

?

Tình trạng pháp lý

Prohibited (S9)(AU) ?(UK) Schedule I(US)

Dược đồ Oral (with an MAOI), insufflated, rectal, vaporized, IM, IV

N, N-dimethyltryptamine (DMT hoặc N, N-DMT) là một hợp chất tryptamine xuất hiện trong nhiều thực vậtđộng vật.[3] Nó có thể được sử dụng như là một loại thuốc gây ảo giác mạnh mẽ và đã được các nền văn hoá khác nhau chuẩn bị cho các mục đích lễ nghi và chữa bệnh.[4] Rick Strassman đặt tên cho nó là "phân tử của thần linh".[5]

Nó là một chất tương tự cấu trúc của serotonin andmelatonin và một tương tự chức năng của tryptamines ảo giác khác như 4-ACO-DMT, 5-MeO-DMT, 5-HO-DMT, psilocybin (4-PO-DMT), và psilocin (4- HO-DMT).

Về mặt lịch sử, nó đã được tiêu thụ bởi các nền văn hóa bản địa Mỹ ở Amzon trong các hình thức của ayahuasca cho mục đích divinatory và chữa bệnh. Nó lần đầu tiên được tổng hợp vào năm 1931, và vào năm 1946, nhà vi sinh vật Oswaldo Gonçalves de Lima phát hiện ra sự hiện diện tự nhiên của nó trong thực vật. Trong những năm 1960, nó đã được phát hiện trong các sinh vật động vật có vú nữa.

DMT được biết đến với thời gian tương đối ngắn hoạt động của nó, hiệu ứng dữ dội và khởi phát nhanh chóng. Vì lý do đó, DMT đã được biết đến với cái tên "businesman trip", (hàm ý có thể đạt tới ảo giác nhanh chóng trong thời gian ngắn, khi so sánh với LSD và magic mushroom) trong những năm 1960 tại Hoa Kỳ.[6]

Giả thiết do tiến sĩ RickStrassman đưa ra (cũng như được tìm thấy trong các kiến thức của yoga) cho rằng DMT được tuyến tùng, hay còn được gọi là "con mắt thứ 3" do cấu trúc của tuyến này chẳng khác gì một con mắt (!), tạo ra. Tuyến tùng bắt đầu xuất hiện ở thai nhi đúng vào ngày thứ 49 sau khi thụ thai, giống với 49 ngày để tang trong đạo Phật.

 DMT tồn tại trong hầu hết các thực thể sống, đặc biệt trong các cây lâu đời.Càng già cây càng chứa nhiều DMT.

 DMT ở dạngfreebase (bazo tự do) có thể hấp thụ qua phổi. Qua đường này DMT cho tác dụngkéo dài 10-15p.

 DMT ở dạngmuối có thể hấp thụ qua dạ dày. Tuy nhiên trong dạ dày có một loại enzim có tênMonoamine oxidase type A có khả năng tiêu hóa các chất tryptamine (tryptophan,tyramine, serotonin,…) rất mạnh, vậy nên ta cần một chất có thể ức chế enzim này để DMT muối có thể được hấp thụ vào máu. Đó chính là MAOI (Monoamineoxidase inhibitor). Qua đường này DMT cho tác dụng kéo dài từ 3 tới 6 tiếng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Häfelinger, G.; Nimtz, M.; Horstmann, V.; Benz, T. (1999). “Untersuchungen zur Trifluoracetylierung der Methylderivate von Tryptamin und Serotonin mit verschiedenen Derivatisierungsreagentien: Synthesen, Spektroskopie sowie analytische Trennungen mittels Kapillar-GC” [Trifluoracetylation of methylated derivatives of tryptamine and serotonin by different reagents: synthesis, spectroscopic characterizations, and separations by capillary-gas-chromatography]. Zeitschrift für Naturforschung B 54 (3): 397–414. 
  2. ^ Corothie, E; Nakano, T (1969). “Constituents of the bark of 'Virola sebifera”. Planta Medica 17 (2): 184–188. PMID 5792479. doi:10.1055/s-0028-1099844. 
  3. ^ Carbonaro, Theresa M.; Gatch, Michael B. (tháng 9 năm 2016). “Neuropharmacology of N,N-dimethyltryptamine”. Brain Research Bulletin 126: 74–88. PMC 5048497 Kiểm tra giá trị |pmc= (trợ giúp). PMID 27126737. doi:10.1016/j.brainresbull.2016.04.016. 
  4. ^ McKenna, Dennis J.; Towers, G.H.N.; Abbott, F. (tháng 4 năm 1984). “Monoamine oxidase inhibitors in South American hallucinogenic plants: tryptamine and β-carboline constituents of ayahuasca”. Journal of Ethnopharmacology 10 (2): 195–223. ISSN 0378-8741. PMID 6587171. doi:10.1016/0378-8741(84)90003-5. 
  5. ^ M.D, Rick Strassman (2000). DMT: The Spirit Molecule: A Doctor's Revolutionary Research into the Biology of Near-Death and Mystical Experiences (bằng tiếng Anh). Inner Traditions / Bear & Co. ISBN 9781594779732. 
  6. ^ Haroz, Rachel; Greenberg, Michael I. (tháng 11 năm 2005). “Emerging Drugs of Abuse”. Medical Clinics of North America (Philadelphia: Saunders) 89 (6): 1259–76. ISSN 0025-7125. OCLC 610327022. PMID 16227062. doi:10.1016/j.mcna.2005.06.008.