Clonidine

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Clonidine, được bán dưới tên thương hiệu Catapres trong số những loại khác, là một loại thuốc dùng để điều trị huyết áp cao, rối loạn tăng động giảm chú ý, cai thuốc (rượu, opioids hoặc hút thuốc), đỏ bừng mãn kinh, tiêu chảy và một số tình trạng đau.[1] Nó được sử dụng bằng miệng, bằng cách tiêm, hoặc như một miếng vá da.[1] Bắt đầu hành động thường trong vòng một giờ với các tác động lên huyết áp kéo dài đến tám giờ.[1]

Tác dụng phụ thường gặp bao gồm khô miệng, chóng mặt, nhức đầu và buồn ngủ.[1] Tác dụng phụ nghiêm trọng có thể bao gồm nhìn thấy hoặc nghe thấy những điều mà người khác không làm, rối loạn nhịp tim và nhầm lẫn.[2] Nếu nhanh chóng dừng lại, hiệu ứng rút tiền có thể xảy ra.[1] Sử dụng trong khi mang thai hoặc cho con bú không được khuyến khích.[2] Clonidine làm giảm huyết áp bằng cách kích thích thụ thể α<sub id="mwFQ">2</sub> trong não, dẫn đến thư giãn nhiều động mạch.[1]

Clonidine được cấp bằng sáng chế vào năm 1961 và được đưa vào sử dụng y tế vào năm 1966.[3][4][5] Nó có sẵn như là một loại thuốc chung chung.[1] Tính đến năm 2019 một tháng thuốc trị giá NHS khoảng 8 bảng.[2] Tại Hoa Kỳ, số tiền này có giá khoảng US $ 2,70 vào năm 2019.[6] Năm 2016, đây là loại thuốc được kê đơn nhiều thứ 76 tại Hoa Kỳ với hơn 10 triệu đơn thuốc.[7]

Sử dụng trong y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Viên Clonidine và miếng dán xuyên da

Clonidine được sử dụng để điều trị huyết áp cao, rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD), cai thuốc (rượu, opioids hoặc hút thuốc), đỏ bừng mãn kinh, tiêu chảy và một số tình trạng đau.[1]

Tăng huyết áp kháng trị[sửa | sửa mã nguồn]

Clonidine có thể có hiệu quả để hạ huyết áp ở những người bị tăng huyết áp kháng trị.[8]

Rối loạn tăng động giảm chú ý[sửa | sửa mã nguồn]

Clonidine có thể cải thiện các triệu chứng rối loạn tăng động giảm chú ý ở một số người nhưng gây ra nhiều tác dụng phụ và tác dụng có lợi là khiêm tốn.[9]Úc, clonidine là một sử dụng được chấp nhận nhưng không được phê duyệt cho ADHD bởi TGA.[10] Clonidine cùng với methylphenidate đã được nghiên cứu để điều trị ADHD.[11][12][13] Mặc dù không hiệu quả như methylphenidate trong điều trị ADHD, clonidine mang lại một số lợi ích;[14] nó cũng có thể hữu ích khi kết hợp với thuốc kích thích.[15] Một số nghiên cứu cho thấy clonidine an thần hơn guanfacine, có thể tốt hơn khi đi ngủ cùng với chất kích thích kích thích vào buổi sáng.[16][17]

Tác dụng phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Các tác dụng phụ chủ yếu của clonidine là an thần, khô miệng và hạ huyết áp (huyết áp thấp).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Clonidine được giới thiệu vào năm 1966.[18] Nó lần đầu tiên được sử dụng như một phương pháp điều trị tăng huyết áp dưới tên thương mại là Catapres.[19]

Tên thương hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ tháng 6 năm 2017, clonidine đã được bán trên thị trường dưới nhiều tên thương hiệu trên toàn thế giới: Arkamin, Aruclonin, Atensina, Catapin, Catapresan, Catapresan, Chiaap, Chlofazoline, Chlophazolin, Clonid-Ophtal, Clonidin Clonidini, Clonidinum, Clonigen, Clonistada, Clonnitinum Winpress.[20] Nó được đưa ra thị trường như một loại thuốc kết hợp với chlortalidone như Arkamin-H, Bemplas, Catapres-DIU và Clorpres, và kết hợp với bendroflumethiazide như Pertenso.[20]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e “Clonidine Monograph for Professionals”. Drugs.com (bằng tiếng Anh). American Society of Health-System Pharmacists. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2019. 
  2. ^ a ă â British national formulary: BNF 76 (ấn bản 76). Pharmaceutical Press. 2018. tr. 144. ISBN 9780857113382. 
  3. ^ Neil, MJ (tháng 11 năm 2011). “Clonidine: clinical pharmacology and therapeutic use in pain management.”. Current Clinical Pharmacology 6 (4): 280–7. PMID 21827389. doi:10.2174/157488411798375886. 
  4. ^ Stähle, Helmut (tháng 6 năm 2000). “A historical perspective: development of clonidine”. Best Practice & Research Clinical Anaesthesiology 14 (2): 237–246. doi:10.1053/bean.2000.0079. 
  5. ^ Fischer, Jnos; Ganellin, C. Robin (2006). Analogue-based Drug Discovery (bằng tiếng Anh). John Wiley & Sons. tr. 550. ISBN 9783527607495. 
  6. ^ “NADAC as of 2019-01-30”. Centers for Medicare and Medicaid Services (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2019. 
  7. ^ “The Top 300 of 2019”. clincalc.com. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2018. 
  8. ^ Viera AJ (tháng 6 năm 2018). “Hypertension Update: Resistant Hypertension”. FP Essent 469: 20–25. PMID 29863319. 
  9. ^ Connor DF, Fletcher KE, Swanson JM (tháng 12 năm 1999). “A meta-analysis of clonidine for symptoms of attention-deficit hyperactivity disorder”. J Am Acad Child Adolesc Psychiatry 38 (12): 1551–9. PMID 10596256. doi:10.1097/00004583-199912000-00017. 
  10. ^ Rossi, S biên tập (2013). Australian Medicines Handbook (ấn bản 2013). Adelaide: The Australian Medicines Handbook Unit Trust. ISBN 978-0-9805790-9-3. 
  11. ^ Palumbo, DR; Sallee, FR; Pelham WE, Jr; Bukstein, OG; Daviss, WB; McDermott, MP (tháng 2 năm 2008). “Clonidine for attention-deficit/hyperactivity disorder: I. Efficacy and tolerability outcomes.”. Journal of the American Academy of Child and Adolescent Psychiatry 47 (2): 180–8. PMID 18182963. doi:10.1097/chi.0b013e31815d9af7. 
  12. ^ Daviss, WB; Patel, NC; Robb, AS; McDermott, MP; Bukstein, OG; Pelham WE, Jr; Palumbo, D; Harris, P; Sallee, FR (tháng 2 năm 2008). “Clonidine for attention-deficit/hyperactivity disorder: II. ECG changes and adverse events analysis”. Journal of the American Academy of Child and Adolescent Psychiatry 47 (2): 189–98. PMID 18182964. doi:10.1097/chi.0b013e31815d9ae4. 
  13. ^ Kornfield R, Watson S, Higashi AS, Conti RM, Dusetzina SB, Garfield CF, Dorsey ER, Huskamp HA, Alexander GC (tháng 4 năm 2013). “Impact of FDA Advisories on Pharmacologic Treatment of Attention Deficit Hyperactivity Disorder”. Psychiatric Services 64 (4): 339–46. PMC 4023684. PMID 23318985. doi:10.1176/appi.ps.201200147. 
  14. ^ PALUMBO, DONNA R.; SALLEE, FLOYD R.; PELHAM, WILLIAM E.; BUKSTEIN, OSCAR G.; DAVISS, W. BURLESON; McDERMOTT, MICHAEL P. (tháng 2 năm 2008). “Clonidine for Attention-Deficit/Hyperactivity Disorder: I. Efficacy and Tolerability Outcomes”. Journal of the American Academy of Child & Adolescent Psychiatry 47 (2): 180–188. PMID 18182963. doi:10.1097/chi.0b013e31815d9af7. 
  15. ^ Kollins, Scott H.; Jain, Rakesh; Brams, Matthew; Segal, Scott; Findling, Robert L.; Wigal, Sharon B.; Khayrallah, Moise (1 tháng 6 năm 2011). “Clonidine Extended-Release Tablets as Add-on Therapy to Psychostimulants in Children and Adolescents With ADHD”. Pediatrics (bằng tiếng Anh) 127 (6): e1406–e1413. ISSN 0031-4005. PMC 3387872. PMID 21555501. doi:10.1542/peds.2010-1260. 
  16. ^ Jäkälä, P.; Riekkinen, M.; Sirviö, J.; Koivisto, E.; Kejonen, K.; Vanhanen, M.; Riekkinen Jr, P. (1999). “Guanfacine, But Not Clonidine, Improves Planning and Working Memory Performance in Humans”. Neuropsychopharmacology 20 (5): 460–470. PMID 10192826. doi:10.1016/S0893-133X(98)00127-4. 
  17. ^ “Clonidine and Guanfacine IR vs ER: Old Drugs With "New" Formulations”. Mental Health Clinician. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014. 
  18. ^ Stähle, Helmut (tháng 6 năm 2000). “A historical perspective: development of clonidine”. Best Practice & Research Clinical Anaesthesiology 14 (2): 237–246. doi:10.1053/bean.2000.0079. 
  19. ^ “Clonidine: Drug Uses, Dosage & Side Effects - Drugs.com”. Drugs.com (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2017. 
  20. ^ a ă “Clonidine brand names”. Drugs.com. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017.