Suy thận

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Suy thận là trạng thái suy giảm chức năng của thận, bao gồm chức năng bài tiết lượng nước dư thừa trong cơ thể và bài tiết chất độc trong cơ thể do quá trình trao đổi chất gây ra, và (kéo theo) sự suy giảm chức năng sản xuất một vài hooc - môn do thận sản xuất.

Triệu chứng lâm sàng[sửa | sửa mã nguồn]

Người bệnh bị suy thận có triệu chứng đau đầu do cao huyết áp, phù mặt hoặc tay chân hoặc bụng hoặc tất cả do ứ nước trong cơ thể, mệt mỏi, đắng miệng, chán ăn, buồn nôn, mờ mắt, đau đầu, giảm tập trung và giảm ham muốn tình dục, chóng mặt, da xanh, móng tay chân và niêm mạc mắt nhợt nhạt do thiếu máu,đau nhức gân khớp chân tay thường là phần gối trở xuống,ngoài ra còn có thể thấy môi thâm, răng xỉn, đau xương và răng, và chảy máu chân răng.

Các loại[sửa | sửa mã nguồn]

Suy thận mạn tính[sửa | sửa mã nguồn]

Suy thận cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Xảy ra trong thời gian ngắn, trước đó chưa từng xảy ra hoặc đã xảy ra nhưng chữa khỏi được. Suy thận cấp có thể chữa khỏi nếu phát hiện sớm. Có một số trường hợp chuyển sang suy thận mãn tính.

Nguyên nhân gây bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

- Nguyên nhân trước thận (chiếm 55% trường hợp): do ứ trệ tuần hoàn toàn bộ hay khu trú làm thận thiếu máu nuôi dẫn tới hoại tự nhu mô thận gây suy giảm các chức năng một cách nhanh chóng. Diễn tiến của suy thận cấp diễn ra qua 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn khởi phát: xuất hiện tình trạng giảm tưới máu dẫn tới rối loạn vận chuyển các ion qua màng tế bào, rối loạn quá trình tổng hợp năng lượng gây hoại tử nhu mô thận. Đặc biệt là các tế bào ở ống lượn gần và nhánh lên quai Henle, do nơi này ít được tưới máu. Độ thanh lọc của thận giảm do giảm áp lực các động mạch thận. Nếu bù máu kịp thời sẽ hồi phục các nhu mô thận

+ Giai đoạn duy trì: quá trình hoại tử diễn ra trầm trọng, rõ rệt. Độ thanh lọc và lượng nước tiểu cũng giảm thấp. Các chất hoại tử đổ vào trong lòng ống thận gây ách tắc đường lọc , đồng thời làm nặng thêm tình trạng thiểu dưỡng và hủy hoại tế bào.

+ Giai đoạn khôi phục: sau khi giải quyết được tình trạng rối loạn huyết động học, các nhu mô thận dần dần tái sinh,

Tính nguy hiểm của căn bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài chuyện sức khỏe: giảm tuổi thọ và chất lượng cuộc sống, giảm sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục, vô sinh.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Cần xét nghiệm nước tiểu và máu, một năm 4 lần.

Điều trị[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu bệnh nhẹ thì phải uống thuốc và ăn kiêng nghiêm ngặt. Chế độ ăn kiêng rất phức tạp: đủ dinh dưỡng và năng lượng, nhưng phải vừa đủ (thậm chí gọi là ít) chất đạm và muối (K, Na).

Bệnh nặng, tức là khi chức năng thận giảm xuống còn dưới 50% (bạn nên biết rằng công suất của những quả thận ở người khỏe mạnh đạt 200% nhu cầu của cơ thể, đó là lý do tại sao người có một quả thận vẫn sống bình thường được), thì ngoài cách trên ra còn phải đưa người bệnh đi lọc máu (chạy thận nhân tạo) suốt đời.

Ngoài ra còn có cách khác: phương pháp lọc màng bụng (thẩm phân phúc mạc), hoặc ghép thận.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]