Urê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Urê
Cấu trúc phân tử của urê
Cấu trúc phân tử của urê
Tổng quan
Danh pháp IUPAC Diaminomethanal
Tên khác  ?
Công thức phân tử (NH2)2CO
Phân tử gam 60 g/mol
Biểu hiện Chất rắn không mùi màu trắng
Số CAS [57-13-6]
Thuộc tính
Tỷ trọngpha 1,33 g/cm3, rắn
Độ hòa tan trong nước 108 g/100 ml (20 °C)
Điểm nóng chảy 133 °C (406 K)
bị phân hủy
Điểm sôi không rõ
pKa  ?
pKb  ?
Độ nhớt  ?
Nguy hiểm
MSDS MSDS ngoài
Các nguy hiểm chính  ?
NFPA 704 Nfpa h1.pngNfpa f0.pngNfpa r0.png (ước tính)
Điểm bắt lửa  ?
Rủi ro/An toàn  ?
Số RTECS  ?
Trang dữ liệu bổ sung
Cấu trúc & thuộc tính n εr, v.v.
Dữ liệu nhiệt động lực Các trạng thái
rắn, lỏng, khí
Dữ liệu quang phổ UV, IR, NMR, MS
Các hợp chất liên quan
Các hợp chất tương tự Biuret
Triuret
Thiourê
Các hợp chất liên quan
Ngoại trừ có thông báo khác, các dữ liệu
được lấy ở 25°C, 100 kPa
Thông tin về sự phủ nhận và tham chiếu

Urê là một hợp chất hữu cơ của cacbon, nitơ, ôxyhiđrô, với công thức CON2H4 hay (NH2)2CO và cấu trúc chỉ ra ở bên phải.

Urê còn được biết đến như là cacbamua, đặc biệt là trong tên gọi sử dụng ở châu Âu theo các tên gọi không đăng ký quốc tế được khuyến cáo (rINN).

Trong một số động vật, các phân tử urê được tạo ra từ cacbon điôxít, nước, muối aspartatamôniắc trong quá trình trao đổi chất được biết đến như là chu trình urê- một chu trình đồng hóa. Sự tiêu hao năng lượng này là cần thiết do amôniắc, một chất thải phổ biến trong quá trình trao đổi chất, là một chất độc và cần được trung hòa. Việc sản xuất urê diễn ra trong gan và dưới sự điều chỉnh của N-axetylglutamat. Các động vật sống dưới nước không sản sinh ra urê; khi sống trong môi trường nhiều nước, chúng chỉ đơn giản là thải amôniắc ngay lập tức khi nó vừa được tạo ra. Các loài chim, với sự hạn chế hơn nhiều so với các động vật khác trong tiêu thụ nước, tạo ra axít uric, một hợp chất ít độc hại hơn urê. Cơ thể người sản xuất ra ít axít uric do kết quả của sự phân hủy purin, do việc sản xuất axít uric dư thừa có thể dẫn đến một loại chứng viêm khớp gọi là bệnh gút.

Phát hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Urê được Hilaire Rouelle phát hiện năm 1773. Nó là hợp chất hữu cơ được tổng hợp nhân tạo đầu tiên từ các chất vô cơ, được Friedrich Woehler thực hiện vào năm 1828 bằng cách cho xyanat kali phản ứng với sulfat amôniắc.

Urea Synthesis Woehler.png

Điều này đã bác bỏ thuyết cho rằng các chất hóa học trong cơ thể sinh vật về cơ bản là khác hẳn các hóa chất không có gốc sinh vật, và mở đầu cho ngành khoa học về hóa hữu cơ.

Hình ảnh 3D của urê

Sử dụng công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong công nghiệp urê được sử dụng để:

  • Nguyên liệu cho sản xuất chất dẻo, đặc biệt là nhựa urê-formalđêhít.
  • Như là một thành phần của phân hóa học và chất bổ sung vào thức ăn cho động vật, nó cung cấp một nguồn đạm cố định tương đối rẻ tiền để giúp cho sự tăng trưởng.
  • Như là chất thay thế cho muối (NaCl) trong việc loại bỏ băng hay sương muối của lòng đường hay đường băng sân bay. Nó không gây ra hiện tượng ăn mòn kim loại như muối.
  • Như là một thành phần bổ sung trong thuốc lá, nó được thêm vào để tăng hương vị.
  • Đôi khi được sử dụng như là chất tạo màu nâu vàng trong các xí nghiệp sản xuất bánh quy.
  • Như là một thành phần của một số dầu dưỡng tóc, sữa rửa mặt, dầu tắm và nước thơm.
  • Nó cũng được sử dụng như là chất phản ứng trong một số gạc lạnh sử dụng để sơ cứu, do phản ứng thu nhiệt tạo ra khi trộn nó với nước.
  • Thành phần hoạt hóa để xử lý khói thải từ động cơ diesel (AdBlue).

Sử dụng trong phòng thí nghiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Urê là một chất biến tính prôtêin mạnh. Thuộc tính này có thể khai thác để làm tăng độ hòa tan của một số prôtêin. Vì tính chất này, nó được sử dụng trong các dung dịch đặc tới 10M.

Sử dụng y học[sửa | sửa mã nguồn]

Thuốc[sửa | sửa mã nguồn]

Urê được sử dụng trong các sản phẩm da liễu cục bộ để giúp cho quá trình tái hiđrat hóa của da.

Chẩn đoán sinh lý học[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm blood urea nitrogen for a commonly performed urea test

Do urê được sản xuất và bài tiết khỏi cơ thể với một tốc độ gần như không đổi, nồng độ urê cao trong máu chỉ ra vấn đề với sự bài tiết nó hoặc trong một số trường hợp nào đó là sự sản xuất quá nhiều urê trong cơ thể.

Nguyên nhân phổ biến của bệnh urêmia là các vấn đề về hệ tiết niệu. Nó được lấy thông số cùng với creatinin để chỉ ra các vần đề trực tiếp liên quan tới thận (ví dụ: hư thận mãn tính) hay các vấn đề thứ cấp như chứng giảm hoạt động tuyến giáp.

Nồng độ urê cũng có thể tăng trong một số rối loạn máu ác tính (ví dụ bệnh bạch cầubệnh Kahler).

Nồng độ cao của urê (urêmia) có thể sinh ra các rối loạn thần kinh (bệnh não). Thời gian dài bị uremia có thể làm đổi màu da sang màu xám.

Sử dụng trong chẩn đoán khác[sửa | sửa mã nguồn]

Các loại urê chứa cacbon 14 - đồng vị phóng xạ, hay cacbon 13 - đồng vị ổn định) được sử dụng trong xét nghiệm thở urê, được sử dụng để phát hiện sự tồn tại của Helicobacter pylori (H. pylori, một loại vi khuẩn) trong dạ dày và tá tràng người. Xét nghiệm này phát hiện enzym urease đặc trưng, được H. pylori sản xuất ra theo phản ứng để tạo ra amôniắc từ urê để làm giảm độ pH của môi trường trong dạ dày xung quanh vi khuẩn.

Các loài vi khuẩn tương tự như H. pylori cũng có thể được xác định bằng cùng một phương pháp xét nghiệm đối với động vật (khỉ, chó, mèo -bao gồm cả các loại "mèo lớn" như hổ, báo, sư tử v.v).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]