Âm đạo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Âm đạo
Scheme female reproductive system-en.svg
Sơ đố ống sinh dục nữ và tử cung
Vaginal opening description.jpg
Âm đạo với lông mu đã được cạo và môi âm hộ được tách ra để nhìn rõ cửa vào âm đạo
1: Mũ âm vật
2: Âm vật
3: Môi nhỏ (môi bé)
4: Lỗ niệu đạo
5: Cửa mình
6: Tầng sinh môn
7: Hậu môn
Chi tiết
Tiền thân urogenital sinusparamesonephric ducts
Động mạch superior part to uterine artery, middle and inferior parts to vaginal artery
Tĩnh mạch uterovaginal venous plexus, vaginal vein
Dây thần kinh Sympathetic: lumbar splanchnic plexus
Parasympathetic: pelvic splanchnic plexus
Bạch huyết upper part to internal iliac lymph nodes, lower part to superficial inguinal lymph nodes
Định danh
Latinh Vagina
MeSH A05.360.319.779
TA A09.1.04.001
FMA 19949
Thuật ngữ giải phẫu
Vị trí của âm đạo trong bộ phận sinh dục nữ.

Âm đạo (tiếng Latinh: vagina, tiếng Hy Lạp: kolpos) là phần mô cơ và ống của cơ quan sinh dục nữ, đối với con người kéo dài từ âm hộ đến cổ tử cung. Bên ngoài cửa âm đạo có thể được bao phủ một phần bởi một màng được gọi là màng trinh. Tận cùng bên trong là cổ tử cung nối vào âm đạo. Âm đạo cho phép con người quan hệ tình dụcsinh sản, để kinh nguyệt chảy ra định kỳ theo chu kỳ kinh nguyệt.[1][2]

Âm đạo ở người được nghiên cứu kỹ hơn so với các động vật khác. Vị trí và cấu trúc của âm đạo thay đổi giữa các loài, và có thể thay đổi kích thước trong cùng một loài. Không giống như động vật có vú giống đực với niệu đạo mở ra ngoài đảm nhiệm cả hai chức năng tiểu tiệnsinh sản, động vật có vú giống cái có lỗ niệu đạo để tiểu tiện riêng biệt và cửa âm đạo dành cho đường sinh dục. Đối với con người, cửa âm đạo lớn hơn nhiều so với lỗ niệu đạo gần đó, và cả hai đều được các môi âm hộ bảo vệ. Đối với động vật lưỡng cư, chim, bò sátđộng vật đơn huyệt, lỗ huyệt là cửa ra bên ngoài duy nhất cho cả ba đường: tiêu hóa, tiết niệu và sinh sản.

Liên quan đến hoạt động tình dục, độ ẩm âm đạo tăng lên trong quá kích thích tình dục cho cả phụ nữ và động vật có vú giống cái khác. Khi tiết ra chất nhờn bôi trơn, âm đạo đã làm giảm ma sát và cho phép dương vật thâm nhập vào âm đạo dễ dàng khi hoạt động tình dục. Kết cấu của thành âm đạo tạo ra ma sát cho dương vật trong khi giao hợp tình dục và kích thích nó đến khi xuất tinh, cho phép việc thụ tinh xảy ra. Cùng với hạnh phúc và sự gắn kết lứa đôi, hành vi tình dục ở phụ nữ, trong đó có thể bao gồm các hoạt động tình dục dị tính hay đồng tính nữ, cũng có thể đi kèm với nguy cơ nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, khi đó việc thực hành tình dục an toàn được khuyến khích thực hiện. Một số rối loạn cũng có thể ảnh hưởng đến âm đạo con người.

Nhận thức về văn hóa của âm đạo đã được duy trì trong suốt lịch sử loài người, từ việc xem âm đạo là trọng tâm của ham muốn tình dục, một ẩn dụ cho cuộc sống thông qua việc sinh nở, sự mặc cảm khi so sánh với dương vật, hoặc sự xấu xí trực quan hoặc hàm nghĩa thô tục bậy bạ. Trong văn nói thông thường, từ âm đạo thường dùng để chỉ âm hộ mặc dù không đúng, điều này có thể dẫn đến nhận ​​thức sai về cơ quan sinh dục nữ.

Cấu tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Hình chụp cắt lớp vùng chậu với các cơ quan sinh dục nữ

Các lớp âm đạo, tiền thân của phần dưới của âm đạo, là sự phát triển của mô phát sinh sự hình thành của âm đạo; nó nằm ở chỗ các đỉnh rắn của ống paramesonephric (ống Müller) đi vào tường vây lưng của xoang niệu sinh dục. Tăng trưởng của lớp âm đạo không bị cản trở vì nó cách xa cổ tử cung và các xoang niệu sinh dục; sau cùng thì các tế bào trung tâm của lớp phân hủy để tạo thành lớp trong âm đạo.[3] Cho đến tuần thứ 20-24 của thai kỳ, âm đạo không được hình thành hình ống đầy đủ. Nếu nó không phát triển đầy đủ, septae khác nhau có thể hình thành, gây tắc nghẽn kinh nguyệt sau này.[3]

Do không có testosterone trong quá trình phát triển giới tính của sự khác biệt giữa nam và nữ, các xoang niệu sinh dục vẫn tồn tại như mặt trước của âm đạo, hai nếp gấp niệu sinh dục (cơ cấu hình trục được kéo dài ra góp phần vào việc hình thành các rãnh niệu đạo trên bụng dưới của phần sinh dục) hình thành môi nhỏ, và labioscrotal phồng to để tạo thành môi lớn.[4][5]

Có cuộc tranh luận về việc phần nào của âm đạo được hình thành từ các ống Müller và phần nào của nó được hình thành từ các xoang niệu sinh dục do sự tăng trưởng của các bóng sinovaginal.[3][6] Sách giáo khoa Sản khoa và Phụ khoa bang Dewhurst ghi lại: "Một số người tin rằng trên 4/5 âm đạo được hình thành bởi các ống Müller và dưới 1/5 là do các xoang niệu sinh dục, trong khi những người khác tin rằng sự phát triển của xoang này kéo dài đến cổ tử cung thay thế hoàn toàn ống Müller, nên âm đạo có được phát triển hoàn toàn từ nội bì của xoang niệu sinh dục". Sách cũng cho biết thêm, "Dường như chắc chắn một phần của âm đạo có nguồn gốc từ các xoang niệu sinh dục, nhưng việc âm đạo có nguồn gốc từ ống Müller hay không thì vẫn chưa xác định rõ."[3]

Âm đạo của con người phát triển thành một ống cơ đàn hồi kéo dài từ âm hộ đến cổ tử cung.[7][8] Nó có màu hồng đỏ, và nó nối từ âm hộ đến cổ tử cung. Âm đạo nằm phía sau niệu đạo và bàng quang, trên đỉnh đáy chậu và phía sau cổ tử cung; cổ tử cung tạo với âm đạo một góc khoảng 90 độ.[9] Cửa âm đạo và niệu đạo mở được bảo vệ bởi các môi âm hộ.[10]

Phân lớp và vùng[sửa | sửa mã nguồn]

Hình minh họa ảnh cắt lớp một phần của âm đạo và phần trên ống sinh dục nữ. Có thể thấy tuyến nhầy âm đạo.
Hình phóng to trung bình micrograph của một phần thành âm đạo. Stratified squamous epithelium and underling connective tissue can be seen. The deeper muscular layers are not shown. The black line points to a fold in the mucosa.
Chất nhầy âm đạo khi bình thường và sau khi mãn kinh

Thành của âm đạo từ trong ra ngoài bao gồm trước hết là một niêm mạc với biểu mô vảy phân tầng không có keratin hóa với một propria nằm bên dưới phiến lá của mô liên kết, thứ nhì là một lớp cơ trơn với bó sợi tròn nội bộ nằm trong các sợi dọc, và thứ ba là một lớp mô liên kết bên ngoài gọi là adventitia. Một số sách liệt kê bốn lớp bằng cách đếm riêng hai lớp con của niêm mạc (biểu mô và lamina propria) riêng biệt.[11][12] Các propria lá có rất nhiều mạch máu và các mạch bạch huyết. Lớp cơ gồm các sợi cơ trơn, với một lớp bên ngoài của cơ dọc, một lớp bên trong của cơ tròn, và các sợi cơ xiên giữa. Lớp bên ngoài - các adventitia - là một lớp dày đặc mỏng gồm các mô liên kết, và nó kết hợp với mô có chứa các mạch máu liên kết yếu, mạch bạch huyết và các dây thần kinh, sau này trở thành các cơ quan nằm trong vùng chậu.[9][12][13]

Folds of mucosa (or vaginal rugae) are shown in the front third of a vagina
A normal cervix of an adult as seen through the vagina (per vaginam or PV) using a bivalved vaginal speculum. The blades of the speculum are above and below and stretched vaginal walls are seen on the left and right.

Niêm mạc tạo thành nếp gấp rugae, những nếp này nổi bật hơn trong phần thứ ba của âm đạo; chúng xuất hiện như các đường lằn ngang và chức năng của chúng là làm cho âm đạo có khả năng tăng diện tích bề mặt để giãn rộng và kéo dài. Tại vị trí mặt trong âm đạo bao quanh cổ tử cung, nó được chia thành bốn vùng liên tục hoặc fornix âm đạo; các vùng này là những fornix trước, sau, bên phải, và bên trái.[7][8] Các fornix sau sâu hơn fornix trước.[8] Trong khi các thành trước và sau được xếp cạnh nhau, các thành bên, đặc biệt là vùng ở giữa, tương đối cứng; vì thế nên âm đạo có mặt cắt ngang hình chữ H.[8] Phía sau, một phần tư phía trên của âm đạo được tách biệt khỏi trực tràng bằng túi recto tử cung. Bề ngoài, ở phía trước của xương mu, một lớp mỡ được gọi là mons pubis tạo thành phần trên cùng của âm hộ.

Âm đạo là một ống rỗng, thành ống là niêm mạc, dài 8 - 10 cm ở trạng thái bình thường, có khả năng co giãn rất tốt. Âm đạo nằm bên trong âm hộ, thuộc cơ quan sinh dục ngoài, nằm trong thành môi nhỏ, phía dưới lỗ niệu đạo và phía trên hậu môn.[14]

Phần dưới cửa âm đạo (tiếng Latinh: Ostium vaginae), hướng hậu môn có các tuyến Bartholine (en:Bartholin's gland) tiết ra chất nhờn âm đạo, không màu khi người phụ nữ chịu kích thích tình dục, giúp bạn tình dễ đưa dương vật vào ngưỡng ngoài âm đạo (tiếng Latinh: Vestibulum vaginae). Cuối ống âm đạo bên trong cơ thể là cửa tử cung.

Phần lớn, phụ nữ khi chưa giao hợpmàng trinh (hymen) che âm đạo. Màng trinh không che kín hoàn toàn âm đạo, do nó có các lỗ nhỏ trên màng để thoát kinh nguyệt.

Cửa ngoài của âm đạo gọi là âm hộ. Cơ thành âm hộ có hình lưới, trơn. Phần cuối âm hộ có các sợi cơ nằm ngang, có tác dụng co bóp mạnh. Thành âm hộ được lưu thông nhiều máu, có nhiều nhánh dây thần kinh và dày đặc các mô collagen. Ở vị trí khoảng 1/3 chiều dài âm đạo từ cửa vào, trên thành trước có một vùng có lượng dây thần kinh lớn, gọi là "điểm G". Một số phụ nữ có thể dễ kích thích tình dục tại "điểm G" này, đến mức đạt cực khoái tình dục.

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Âm đạo đón nhận dương vật trong giao hợp, trong thụ tinh tự nhiên, là đường sinh con tự nhiên, đường thoát kinh nguyệt, là nơi bác sĩ phụ khoa khám cơ quan sinh dục trongngoài của phụ nữ, nơi có thể tự đo nhiệt độ âm đạo để xác định ngày rụng trứng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Clinical pediatric urology: A. Barry Belman, Lowell R. King, Stephen Alan Kramer (2002)
  2. ^ “Health and Wellness for Life”. Google Books. Ngày 15 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2012. 
  3. ^ a ă â b Keith Edmonds (2012). Dewhurst's Textbook of Obstetrics and Gynaecology. John Wiley & Sons. tr. 423. ISBN 0470654570. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014. 
  4. ^ Merz, Eberhard; Bahlmann, F. (2004). Ultrasound in Obstetrics and Gynecology 1. Thieme Medical Publishers. tr. 129. ISBN 978-1-58890-147-7. 
  5. ^ Schuenke, Michael; Schulte, Erik; Schumacher, Udo (2010). General Anatomy and Musculoskeletal System. Thieme Medical Publishers. tr. 192. ISBN 978-1-60406-287-8. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2014. 
  6. ^ Cai Y (2009). “Revisiting old vaginal topics: conversion of the Müllerian vagina and origin of the "sinus" vagina.”. Int J Dev Biol 2009; 53:925-34 53 (7): 925–34. doi:10.1387/ijdb.082846yc. PMID 19598112. 
  7. ^ a ă Snell, Richard S. (2004). Clinical Anatomy: An Illustrated Review with Questions and Explanations. Lippincott Williams & Wilkins. tr. 98. ISBN 978-0-7817-4316-7. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2014. 
  8. ^ a ă â b DC Dutta (2014). DC Dutta's Textbook of Gynecology. JP Medical Ltd. tr. 2–7. ISBN 9351520684. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2014. 
  9. ^ a ă Mulhall, John P. (2011). John P. Mulhall, Luca Incrocci, Irwin Goldstein, Ray Rosen, biên tập. Cancer and Sexual Health. Springer. tr. 13, 20–21. ISBN 1-60761-915-6. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2014. 
  10. ^ Kinetics, Human (15 tháng 5 năm 2009). Health and Wellness for Life. Human Kinetics 10%. tr. 221. ISBN 978-0-7360-6850-5. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2013. 
  11. ^ Brown, Laurence (2012). Pathology of the Vulva and Vagina. Springer Science+Business Media. tr. 6–7. ISBN 0857297570. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2014. 
  12. ^ a ă Sabaratnam Arulkumaran, Lesley Regan, Aris Papageorghiou, Ash Monga, David Farquharson (2011). Oxford Desk Reference: Obstetrics and Gynaecology. Oxford University Press. tr. 471. ISBN 0191620874. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2014. 
  13. ^ Wylie, Linda (2005). Essential Anatomy and Physiology in Maternity Care. Elsevier Health Sciences. tr. 157–158. ISBN 0-443-10041-1. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2014. 
  14. ^ “Glossary”. womenshealth.gov. Ngày 8 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2011.