Thượng bì

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thượng bì
Epidermis-delimited.JPG
Ảnh mô học của thượng bì (đánh dấu bằng thanh mà trắng)
Epidermal layers.png
Ảnh mô học các lớp của thượng bì. Lớp sừng (stratum corneum) dày hơn ảnh trên là do đây là hai mẫu lấy từ hai vị trí khác nhau
Chi tiết
Một phần củaDa
Cơ quanHệ vỏ bọc
Định danh
LatinhEpidermis
MeSHD004817
TAA16.0.00.009
THH3.12.00.1.01001
FMA70596
Thuật ngữ mô học

Thượng bì là lớp ngoài cùng trong ba lớp tạo nên da, các lớp bên trong bao gồm hạ bìtrung bì.[1] Lớp thượng bì là một hàng rào ngăn nhiễm trùng do các mầm bệnh từ môi trường[2] và điều hòa lượng nước khỏi cơ thể vào trong không khí qua thoát hơi nước qua thượng bì.[3] Thượng bì bao gồm nhiều lớp tế bào dẹt[4] nằm trên một lớp tế bào đáy gồm tế bào hình trụ.

Các hàng tế bào phát triển từ tế bào gốc trong lớp đáy. Cơ chế tế bào điều hòa nước và natri (ENaCs) được tìm thấy trong tất cả các lớp thượng bì.[5]

Thượng bì của con người là một ví dụ đặc trưng của biểu mô, đặc biệt là một biểu mô lát tầng sừng hóa.

Lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Thượng bì bao gồm 4 hoặc 5 lớp, tùy thuộc vào khu vực da.[6] Những lớp thứ tự từ ngoài vào trong là:[2]

Bao gồm từ 10 đến 30 lớp tế bào đa diện, không nhân (bước biệt hóa cuối cùng của tế bào sừng), lòng bàn tay và gan chân có nhiều lớp nhất. Các tế bào sừng được bao quanh bởi vỏ protein.[7] Hầu hết chức năng hàng rào bảo vệ của biểu bì đều đến từ lớp này.[8]
  • Lớp sáng (chỉ ở lòng bàn tay và gan bàn chân)
Thượng bì của hai vùng này được dày hơn là nhờ lớp thượng bì có 5 lớp thay vì 4.
Các tế bào sừng (keratinocyte) mất nhânbào tương nằm ở lớp hạt. Chất béo nằm trong các tế bào sừng được giải phóng vào khoang ngoại bào qua xuất bào để tạo thành một hàng rào lipid bảo vệ trên da. Những chất béo phân cực được sau đó chuyển thành chất béo không phân cực và sắp xếp song song với các tế bào bề mặt. Ví dụ glycosphingolipids trở thành ceramidesphospholipid trở thành axit béo tự do.

Lớp Malpighi có mặt ở cả lớp đáy và lớp gai.[4]

Thượng bì ngăn cách với hạ bì bởi màng đáy.

Chức năng[sửa | sửa mã nguồn]

Hàng rào bảo vệ[sửa | sửa mã nguồn]

Thượng bì có chức năng như một hàng rào để bảo vệ cơ thể chống lại vi khuẩn, stess oxy hóa (tia cực tím), và hóa chất, và cản trở cơ học các chấn thương nhỏ. Hầu hết vai trò bảo vệ của hàng rào này là nhờ lớp sừng.[8]

Giữ ẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Khả năng giữ nước của da là chủ yếu do lớp sừng và rất quan trọng cho việc duy trì làn sa khỏe mạnh.[9] Chất béo sắp xếp theo một bậc thang và tổ chức giữa các tế bào của lớp sừng tạo thành một hàng rào mất nước qua da.[10][11]

Màu da[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng và phân phối của tế bào hắc tố trong thượng bì là nguyên nhân cho đa dạng về màu da trong Homo sapiens.... Được tìm thấy trong melanosome, hạt hình thành trong tế bào hắc tố từ đó chúng được chuyển đến các tế bào sừng xung quanh. Kích thước, số lượng và sắp xếp những melanosome khác nhau giữa các chủng tộc, tuy nhiên dù số lượng tế bào hắc tố có thể thay đổi khác nhau giữa vùng cơ thể, số lượng của chúng giống nhau ở tất cả các vùng trên tất cả mọi người. Số lượng melanosome trong sừngs làm tăng sự tiếp xúc với tia cực tím, còn phân bố của chúng hầu như không ảnh hưởng.[12]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Young, Barbara (2014). Wheater's functional histology a text and colour atlas. Elsevier. tr. 160 & 175. ISBN 9780702047473. 
  2. ^ a ă Marks, James G; Miller, Jeffery (2006). Lookingbill and Marks' Principles of Dermatology (ấn bản 4). Elsevier. tr. 1–7. ISBN 1-4160-3185-5. 
  3. ^ Proksch, E.; Brandner, J.; Jensen, J.M. (2008). “The skin: an indispensable barrier”. Experimental Dermatology 17 (12): 1063–1072. PMID 19043850. doi:10.1111/j.1600-0625.2008.00786.x. 
  4. ^ a ă McGrath, J.A.; Eady, R.A.; Pope, F.M. (2004). Rook's Textbook of Dermatology (ấn bản 7). Blackwell Publishing. tr. 3.1–3.6. ISBN 978-0-632-06429-8. 
  5. ^ Hanukoglu I, Boggula VR, Vaknine H, Sharma S, Kleyman T, Hanukoglu A (tháng 1 năm 2017). “Expression of epithelial sodium channel (ENaC) and CFTR in the human epidermis and epidermal appendages”. Histochemistry and Cell Biology 147 (6): 733–748. PMID 28130590. doi:10.1007/s00418-016-1535-3. 
  6. ^

    “The Ageing Skin – Part 1 – Structure of Skin”. pharmaxchange.info. 3 tháng 3 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2019. 

  7. ^ “Archived copy” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2015. 
  8. ^ a ă Elias, P.M. (2007). “The skin barrier as an innate immune element”. Seminars in Immunopathology 29 (1): 3–14. PMID 17621950. doi:10.1007/s00281-007-0060-9. 
  9. ^ Blank, IH (1952). “Factors which influence the water content of the stratum corneum”. The Journal of Investigative Dermatology 18 (6): 433–40. PMID 14938659. doi:10.1038/jid.1952.52. 
  10. ^ Downing, DT; Stewart, ME; Wertz, PW; Colton, SW; Abraham, W; Strauss, JS (1987). “Skin lipids: An update”. The Journal of Investigative Dermatology 88 (3 Suppl): 2s–6s. PMID 2950180. doi:10.1111/1523-1747.ep12468850. 
  11. ^ Bonté, F; Saunois, A; Pinguet, P; Meybeck, A (1997). “Existence of a lipid gradient in the upper stratum corneum and its possible biological significance”. Archives of Dermatological Research 289 (2): 78–82. PMID 9049040. doi:10.1007/s004030050158. 
  12. ^ Montagna, William; Prota, Giuseppe; Kenney, John A. (1993). Black skin: structure and function. Gulf Professional Publishing. tr. 69. ISBN 978-0-12-505260-3.