Loạn luân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tranh La Mã mô tả đám cưới giữa hai anh em JupiterJuno, thế kỷ 1

Loạn luân hoặc phi luân là biệt ngữ mô tả mọi hoạt động tình dục giữa những người trong cùng gia đình hoặc những người có liên hệ huyết thống gần gũi[1][2]. Loạn luân thường bao gồm các hoạt động tình dục giữa những người có quan hệ họ hàng gần (chung dòng máu), và thỉnh thoảng giữa những người có quan hệ luật pháp, con riêng, con nuôi hoặc có liên quan đến hôn nhân (ví dụ con với mẹ kế), hoặc các thành viên trong cùng thị tộc.[3]

Cấm kỵ về loạn luân đã và đang là những cấm kỵ mang tính văn hóa phổ quát nhất, kể cả trong các xã hội cũ và mới.[4] Hầu hết các xã hội hiện đại có luật cấm loạn luân hoặc các hạn chế xã hội về hôn nhân cận huyết rất chặt chẽ.[4] Trong các xã hội mà loạn luân là bất hợp pháp, việc loạn luân đồng thuận giữa hai người lớn được một số người coi là một tội phạm không nạn nhân.[5][6] Một số nền văn hoá mở rộng quan niệm loạn luân cho các trường hợp người thân mà không có quan hệ huyết thống như được một người mẹ nuôi chung, anh chị em có cha/mẹ khác nhau, và các anh chị nhận nuôi.[7][8] Các thân nhân bậc ba (như dì, cậu, cháu, anh con chú con bác) trung bình chiếm 12,5% gen, và quan hệ tình dục giữa họ được nhìn nhận khác nhau ở nhiều nền văn hoá khác nhau, từ mức bị hạn chế đến mức được xã hội chấp nhận.[9] Những đứa trẻ của các mối quan hệ loạn luân được coi là bất hợp pháp, và vẫn còn được coi là như vậy trong một số xã hội ngày nay. Trong hầu hết các trường hợp, cha mẹ chúng không có quyền kết hôn để loại bỏ tình trạng đó, do kết hôn loạn luân thông thường cũng bị cấm.

Giải thích chung cho việc cấm loạn luân là tránh việc sinh sản cận huyết: con cái sẽ bị các rối loạn di truyền nếu cha mẹ có quan hệ di truyền gần gũi.[10] Con cái của các cặp đôi trên có nguy cơ cao hơn về các rối loạn bẩm sinh, tử vong, và khuyết tật về phát triển và thể chất, và nguy cơ đó tỷ lệ thuận với hệ số gần gũi giữa cha mẹ chúng - một số đo mức độ gần gũi có liên quan đến di truyền.[10][11] Nhưng việc tránh hôn nhân cận huyết không phải lý do duy nhất khi cấm loạn luân vì hai lý do. Thứ nhất, hầu hết các luật cấm loạn luân không liên quan đến huyết thống mà liên quan đến mối quan hệ - nghĩa là các mối quan hệ được hôn nhân thiết lập (ví dụ như con dâu với bố chồng, hoặc con gái với cha dượng) - cũng như các mối quan hệ do nhận con nuôi tạo ra. Thứ hai, các luật cấm loạn luân cũng áp dụng đối với tình dục không sinh sản - ví dụ như tình dục giữa hai người có huyết thống nhưng vô sinh, giữa hai người có quan hệ tình dục đồng giới, hoặc quan hệ tình dục được thực hiện với các thiết bị ngừa thai.

Hầu hết các xã hội coi loạn luân là điều cấm kỵ.[12][13] Điều cấm kỵ này là một trong những cấm kỵ chung nhất của tất các nền văn hóa bao gồm cả những nước hiện tại và những nước trong quá khứ,[14] với hình phạt dành cho hành vi này.[15] Tuy nhiên trong vài xã hội như Ai Cập cổ đại hay nhà Trần[16], có những quan hệ loạn luân trong hoàng tộc giữa anh/chị và em, cha và con gái, mẹ và con trai, chú và cháu gái, cô và cháu trai nhằm bảo tồn dòng máu hoàng gia không cho họ khác có cơ hội nắm quyền.[17][18] Trong một số xã hội khác, như người Bali[19] và vài bộ tộc Inuit[20] có những quan niệm khác về vi phạm pháp luật và đạo đức trong loạn luân. Tuy nhiên, mối quan hệ tình dục với một người họ hàng bậc nhất (như cha mẹ hoặc anh chị em ruột) gần như bị cấm trên toàn cầu.[21]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng liệt kê các hôn nhân cận huyết bị cấm từ cuốn sách The Trial of Bastardie của William Clerke. London, 1594

Thời cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Maya Shield Jaguar II với người vợ là cô của mình, Lady Xoc. năm 709

Trong xã hội Trung Quốc cổ đại, anh em họ có cùng họ (những người có liên quan đằng nội) không được kết hôn, trong khi những người có họ khác nhau (tức là anh em họ đằng ngoại hoặc con bác con cô) được phép kết hôn.[22]

Một số Pharaon Ai Cập lấy anh chị em con chú con bác và có vài người con với họ. Ví dụ, Tutankhamun lấy người em con chú Ankhesenamun, và ngay bản thân ông ta là con của một hôn nhân cận huyết giữa Akhenaton và một người em ruột không rõ tên. Việc lấy anh em họ trong xã hội Ai Cập thời đó được áp dụng rộng rãi trong suốt giai đoạn Graeco-Roman. Hàng loạt các văn bản viết trên giấy cói và thống kê nhân khẩu thời La Mã cho thấy nhiều cặp vợ chồng là anh chị em ruột có chung cả cha và mẹ.[23][24][25][26] Quan hệ loạn luân nổi tiếng nhất xảy ra dưới triều đại Ai Cập thuộc Hy Lạp; Cleopatra VII kết hôn với em trai mình, Ptolemaios XIII, trong khi cha mẹ của bà, Cleopatra VPtolemaios XII, là anh chị em ruột.

Câu chuyện về Oedipus, với chủ đề loạn luân vô tình giữa mẹ và con, kết thúc trong thảm hoạ và cho thấy những cấm kỵ loạn luân trong thời cổ đại khi Oedipus bị trừng phạt vì những hành động loạn luân bằng cách tự chọc mù mắt. Trong "phần tiếp theo" của Oedipus, Antigone, bốn đứa con của Oedipus cũng bị trừng phạt vì hôn nhân loạn luân của cha mẹ họ. Loạn luân xuất hiện trong chuyện kể về sự ra đời của Adonis được chấp nhận rộng rãi, khi mẹ ông, Myrrha đã cải trang thành một gái mại dâm và quan hệ tình dục với cha mình-Cinyras- trong một lễ hội.

Trong thời Hy Lạp cổ đại, vua Sparta Leonidas I, anh hùng huyền thoại của trận Thermopylae, đã kết hôn với cháu gái của mình, Gorgo, Nữ hoàng của Sparta, con gái của người anh cùng cha khác mẹ Cleomenes I. Pháp luật Hy Lạp cho phép kết hôn giữa anh và em gái nếu họ có các bà mẹ khác nhau. Ví dụ, một số tác giả nói rằng Elpinice đã có thời gian kết hôn với người anh cùng cha khác mẹ của mình Cimon.[27]

Loạn luân được Vergilius nhắc đến và phê phán trong cuốn sách Aeneis Book VI:[28] hic thalamum invasit natae vetitosque hymenaeos; "Người này đã xông vào buồng của con gái mình và thực hiện một hành vi tình dục bị cấm".

Luật La Mã cấm hôn nhân cận huyết trong phạm vi 4 đời[29] nhưng không có mức độ gần gũi liên quan đến hôn nhân. Luật La Mã cấm bất cứ cuộc hôn nhân nào giữa cha mẹ và con cái.[29] Việc nhận con nuôi được coi là giống như mối quan hệ gần gũi với việc cha nuôi không thể kết hôn với một người con gái hoặc cháu gái nuôi ngay cả khi việc nhận con nuôi đã bị hủy bỏ.[29] Các cuộc hôn nhân loạn luân bị coi thường và bị coi là "nefas" (chống lại luật pháp của các vị thần và con người) trong thời kỳ La Mã cổ đại. Trong năm 295, việc loạn luân đã bị cấm đoán với một sắc lệnh của hoàng đế, chia khái niệm incestus thành hai dạng không cân bằng với nhau: incestus iuris gentium được áp dụng cho cả người La Mã và người không phải người La Mã trong Đế chế, và incestus iuris civilis, chỉ áp dụng đến công dân La Mã. Do đó, một người Ai Cập có thể kết hôn với cô ruột của mình, nhưng một người La Mã thì không thể. Mặc dù hành vi loạn luân là không được chấp nhận được trong Đế quốc La Mã, có tin đồn rằng Hoàng đế La Mã Caligula đã có quan hệ tình dục với cả ba chị em của mình (Julia Livilla, Drusilla, và Agrippina con).[30] Hoàng đế Claudius, sau khi tử hình vợ trước của mình, kết hôn với Agrippina con, con gái của anh trai, và thay đổi luật để cho phép hôn nhân như vậy, đáng lẽ ra là bất hợp pháp[31]. Trong khi đó luật cấm kết hôn với con gái của chị gái vẫn được Claudius duy trì.[32] Việc cấm loạn luân ở La Mã cổ đại được chứng minh bởi thực tế là các chính trị gia sẽ sử dụng tội loạn luân (thường là những cáo buộc gian dối) như một cách chế nhạo và một biện pháp tước quyền lực chính trị của các đối thủ.

Trong Thần thoại Bắc Âu, có các motif anh chị em ruột lấy nhau, một ví dụ rõ rệt nhất là hôn nhân giữa Njord và em gái kiêm vợ (có lẽ là Nerthus), sinh ra hai con FreyjaFreyr. Loki cũng đã buộc tội hai anh em Freyja và Freyr có quan hệ tình dục với nhau.

Trong Kinh Thánh[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Sáng thế ký 20:12 của Kinh Thánh Hebrew, Thượng phụ Abraham và vợ ông, Sarah, là anh chị em ruột, cả hai đều là con của Terah, nhưng với các bà mẹ khác nhau. Theo 2 Samuel, Amnon, con của vua David, đã cưỡng hiếp em cùng cha khác mẹ, Tamar (2 Sa-mu-ên 13).

Trong Sáng thế ký 19:30-38, khi sống trong một khu vực bị cô lập sau khi thành Sodom và Gomorrah bị tàn phá, hai con gái của Lot đã âm mưu và quyến rũ cha mình do thiếu đàn bà để tiếp tục dòng dõi của ông. Vì tình trạng say xỉn, Lot đã "không nhận ra" đứa con lớn của mình, và đêm hôm sau ông lại ngủ cùng với đứa con gái thứ hai. (Sáng thế ký 19: 32-35)

Các nguồn khác[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Sách Năm Toàn Xá, Cain cưới người em ruột Awan.[33][34]

Từ thời Trung Cổ trở đi[sửa | sửa mã nguồn]

Carlos II của Tây Ban Nha khi sinh ra đã bị thiểu năng trí tuệ và kém phát triển thể chất vì hôn nhân cận huyết kéo dài hàng thế kỷ trong Gia tộc Habsburg

Nhiều quân chủ quốc gia châu Âu có họ hàng với nhau do các cuộc hôn nhân chính trị, dẫn đến đôi khi các con chú con bác con dì xa (và cả con chú con bác trực hệ) kết hôn. Điều này đặc biệt đúng trong các nhà Habsburg, Hohenzollern, SavoyBourbon. Tuy nhiên, mối quan hệ tình cảm giữa anh chị em ruột, vốn đã được chấp nhận trong các nền văn hoá khác, được cho là đáng ghê tởm. Ví dụ, khi Anne Boleyn và anh trai George Boleyn loạn luân, cả hai anh em đã bị hành quyết vào tháng 5 năm 1536.

Những cuộc hôn nhân cận huyết cũng tồn tại trong các gia tộc hoàng gia của Nhật Bản cổ đại, Triều Tiên,[35] Inca Peru, Hawaii cổ đại, và đôi khi là Trung Phi, MexicoThái Lan [36]. Giống như các pharaoh của Ai Cập cổ đại, các vua Inca đã kết hôn với các chị em của họ. Ví dụ: Huayna Capac là con trai của Topa Inca Yupanqui và em gái kiêm vợ của Inca.[37]

Các cuộc hôn nhân giữa anh chị em đã được ghi nhận ở Nhật Bản cổ đại như cuộc hôn nhân của Hoàng đế Bidatsu và em gái của ông, Hoàng hậu Suiko[38] Hoàng tử Nhật Bản Kinashi no Karu có quan hệ tình dục với em gái Karu no Ōiratsume, mặc dù hành động này được xem là ngu xuẩn.[39] Để ngăn chặn ảnh hưởng của các họ khác, một người em cùng cha khác mẹ của vua Goryeo Dynasty Gwangjong đã trở thành vợ ông vào thế kỷ thứ 10. Tên hoàng hậu này là Daemok.[40] Cuộc hôn nhân giữa các anh chị em đã phổ biến ở Ai Cập trong thời kỳ La Mã như một số số liệu điều tra dân số đã cho thấy.[41]

Ở bang Tamil Nadu vùng Nam Ấn Độ, phong tục tập quán phổ biến cho phép nam giới kết hôn với con gái của các chị em gái.[42][43]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử Việt Nam, nhà Trần khuyến khích hôn nhân nội tộc để tránh nạn ngoại thích.[44] Theo thống kê, trong 175 năm tồn tại, nhà Trần đã diễn ra khoảng 35 cuộc hôn nhân nội tộc, trong đó có trường hợp vua Trần Anh Tông.[45] Hiện nay, một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam vẫn duy trì tục nối dây cũng là một hình thái phong tục tương tự.

Tỷ lệ và thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Loạn luân giữa người lớn và người dưới độ tuổi đồng ý quan hệ được coi là một hình thức lạm dụng tình dục trẻ em[46][47], đây là một trong những hình thức lạm dụng trẻ em cực đoan nhất; nó thường dẫn đến chấn thương tâm lý nghiêm trọng và lâu dài, đặc biệt là trong trường hợp loạn luân giữa con với bố mẹ[48]. Tỷ lệ xuất hiện loạn luân rất khó để tổng hợp, nhưng nghiên cứu đã ước tính 10-15% dân số nói chung có ít nhất một liên hệ tình dục như vậy, với tỷ lệ dưới 2% có quan hệ tình dục hoặc có thử quan hệ tình dục nhưng chưa thành.[49] Đối với phụ nữ, các nghiên cứu cho tỷ lệ ước tính lên đến 20%.[48]

Loạn luân giữa chacon gái trong nhiều năm là hình thức loạn luân liên tục xảy ra và được nghiên cứu kỹ càng nhất.[50][51] Gần đây hơn, các nghiên cứu đã cho thấy rằng việc loạn luân giữa anh chị em ruột, đặc biệt là việc anh trai có quan hệ tình dục với em gái ruột là hình thức loạn luân phổ biến nhất,[52][53][54][55][56][57][58][59][60] với một số nghiên cứu cho thấy loạn luân giữa anh chị em ruột xảy ra thường xuyên hơn các hình thức loạn luân khác.[61] Một số nghiên cứu cho thấy những kẻ phạm tội vị thành niên lạm dụng anh chị em ruột thường chọn em ruột, lạm dụng nạn nhân trong một khoảng thời gian dài hơn, sử dụng bạo lực thường xuyên và nghiêm trọng hơn những người loạn luân khi trưởng thành và lạm dụng anh chị em ruột có tỷ lệ hành vi tình dục xâm nhập cao hơn việc loạn luân của cha lẫn cha dượng. Việc loạn luân của cha ruột và anh trai gây ra nhiều đau khổ và căng thẳng hơn so với loạn luân của cha dượng.[62][63][64]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa người lớn và trẻ em[sửa | sửa mã nguồn]

Tình dục giữa một thành viên người lớn và một đứa trẻ trong cùng gia đình thường được coi là một hình thức lạm dụng tình dục trẻ em[65] gọi là lạm dụng loạn luân trẻ em,[66] và trong nhiều năm đã là hình thức loạn luân được báo cáo nhiều nhất. Tình dục giữa con gái với cha ruột hoặc cha dượng là hình thức thường xảy ra nhất của loạn luân giữa người lớn và trẻ em, thứ nhì là loạn luân của con với mẹ hoặc mẹ kế.[13] Nhiều nghiên cứu nhận thấy rằng cha dượng thường có xu hướng loạn luân hơn cha đẻ. Một nghiên cứu các phụ nữ trưởng thành ở San Francisco ước tính rằng 17% phụ nữ bị cha dượng lạm dụng và 2% bị cha đẻ lạm dụng.[67] Loạn luân giữa cha và con trai được báo cáo ít hơn, nhưng không rõ tỷ lệ thấp này là đúng hay không vì nhiều khả năng hình thức loạn luân này không được báo cáo đầy đủ.[68][69][70][71] Tỷ lệ loạn luân giữa cha mẹ và con cái rất khó đánh giá do người trong cuộc giữ bí mật và không muốn mất tính riêng tư.

Trong một tin tức năm 1999, BBC tường thuật rằng, "Báo cáo cho thấy rằng cuộc sống gia đình gần gũi ở Ấn Độ che dấu việc lạm dụng tình dục của của các thành viên trong gia đình đối với trẻ em và các bé gái vị thành niên Tổ chức RAHI của Delhi cho biết 76% người được hỏi trong cuộc khảo sát của họ đã bị ngược đãi khi họ còn nhỏ - 40% trong số họ bị chính thành viên trong gia đình ngược đãi."[72]

Theo Trung tâm Nạn nhân Tội phạm Quốc gia, một tỷ lệ lớn hiếp dâm tại Hoa Kỳ do chính thành viên trong gia đình thực hiện:

Nghiên cứu cho thấy 46% trẻ em bị cưỡng hiếp là nạn nhân của các thành viên trong gia đình (Langan and Harlow, 1994). Phần lớn nạn nhân bị hiếp dâm ở Hoa Kỳ (61%) bị hãm hiếp trước 18 tuổi; Hơn nữa, 29% các vụ cưỡng hiếp xảy ra khi nạn nhân dưới 11 tuổi. 11% nạn nhân bị hiếp dâm bị cha hoặc cha dượng hãm hiếp, và 16% khác bị những người thân khác cưỡng hiếp.[73]

Một nghiên cứu về các nạn nhân của loạn luân giữa cha và con gái trong thập niên 1970 cho thấy có những "đặc điểm chung" trong gia đình trước khi xảy ra loạn luân: sự lạnh nhạt giữa mẹ và con gái, tính gia trưởng của người cha và quá trình chuyển đổi một số trách nhiệm gia đình truyền thống từ mẹ sang con gái. Con gái lớn tuổi nhất và là con gái duy nhất có nhiều khả năng là nạn nhân của loạn luân dạng này. Nghiên cứu cũng cho rằng kinh nghiệm loạn luân gây hại cho người phụ nữ trong cuộc sống sau này, thường dẫn đến lòng tự trọng thấp, hoạt động tình dục không lành mạnh, khinh thường các phụ nữ khác và hàng loạt vấn đề về tình cảm khác.[74]

Trẻ em là nạn nhân loạn luân khi lớn lên thường xuyên cảm thấy thiếu tự tin, hay gặp khó khăn trong mối quan hệ giữa các cá nhân, rối loạn chức năng tình dục, và có nguy cơ cao bị các rối loạn tâm thần, bao gồm trầm cảm, rối loạn lo âu, hội chứng sợ hãi, rối loạn dạng cơ thể, lạm dụng chất kích thích, rối loạn nhân cách ranh giới, và rối loạn căng thẳng sau chấn thương phức tạp.[48][75][76] Nghiên cứu của Leslie Margolin chỉ ra rằng loạn luân mẹ con không gây ra một số phản ứng sinh học bẩm sinh, nhưng những ảnh hưởng tiêu cực này liên quan trực tiếp hơn đến các ý nghĩa của hành vi loạn luân đối với những người tham gia.[77]

Nhà Goler tại Nova Scotia là một ví dụ cụ thể trong đó lạm dụng tình dục trẻ em dưới hình thức loạn luận ép buộc giữa người lớn với trẻ em và các anh chị em ruột với nhau đã xảy ra trong ít nhất ba thế hệ.[78] Một số trẻ em nhà Goler là nạn nhân của sự lạm dụng tình dục của cha, mẹ, chú, bác, cô, dì, anh chị em ruột, anh chị em họ và với nhau. Khi bị cảnh sát thẩm vấn, một số người lớn thừa nhận đã tham gia vào nhiều hình thức hoạt động tình dục, và bao gồm cả giao hợp đầy đủ, nhiều lần với trẻ em. Mười sáu người lớn (cả nam và nữ) bị buộc tội hàng trăm cáo buộc loạn luân và lạm dụng tình dục trẻ em, một số trường hợp khi chúng chỉ mới 5 tuổi.[78] Tháng 7 năm 2012, đã có 12 trẻ em được tách ra khỏi gia đình 'Colt' (tên bút danh) tại New South Wales, Australia, sau khi khám phá ra việc loạn luân kéo dài 4 thế hệ tại đây.[79][80] Các nhân viên bảo vệ trẻ em và các nhà tâm lý học cho biết các cuộc phỏng vấn với trẻ em cho thấy rằng đây là nơi " cho phép tình dục miễn phí cho tất cả mọi người".[81]

Ở Nhật Bản, có một quan niệm sai lầm phổ biến rằng việc loạn luân giữa mẹ và con trai là chuyện bình thường, vì cách thức nó được miêu tả trên báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng. Theo Hideo Tokuoka, "Khi người Mỹ nghĩ về loạn luân, họ nghĩ đến bố và con gái, ở Nhật Bản người ta nghĩ đến mẹ và con trai" do giới truyền thông thông tin rất chi tiết về loạn luân mẹ và con trai tại Nhật.[82] Một số nhà nghiên cứu phương Tây cho rằng loạn luân giữa mẹ và con trai là điều phổ biến ở Nhật Bản, tuy nhiên nghiên cứu về các thống kê nạn nhân từ cảnh sát và các hệ thống y tế đã cho thấy sự thật khác biệt; nó cho thấy đại đa số lạm dụng tình dục, bao gồm loạn luân, ở Nhật Bản là do nam giới lạm dụng các cô gái trẻ.[83]

Giữa anh em ruột/anh em họ[sửa | sửa mã nguồn]

Loạn luân giữa các anh chị em ruột hoặc anh chị em họ trong lứa tuổi nhỏ được coi là rất phổ biến nhưng ít khi được báo cáo[13]. Loạn luân giữa các anh chị em ruột hay họ trở thành lạm dụng tình dục giữa trẻ em với nhau khi nó xảy ra mà không được đồng tình, không bình đẳng, hoặc do đe dọa/bắt ép. Dạng loạn luân này được coi là dạng loạn luân phổ biến nhất trong họ hàng gần.[84] Dạng loạn luân được báo cáo phổ biến nhất là lạm dụng tình dục của anh chị lớn tuổi hơn đối với em ruột/em họ.[13] Một nghiên cứu năm 2006 cho thấy phần lớn người lớn bị ép loạn luân với anh chị em họ đã có các niềm tin "bị bóp méo" hoặc "gây khó chịu" (chẳng hạn như coi hành động loạn luân đó là "bình thường") cả về về kinh nghiệm của riêng họ và quan niệm về lạm dụng tình dục nói chung.[85]

Loạn luân giữa các anh chị em ruột/họ phổ biến trong các gia đình mà có bố hoặc mẹ hoặc cả hai đều thường xuyên vắng nhà hoặc không gần gũi con cái. Khi đó các anh chị ưa bắt nạt sẽ sử dụng loạn luân như một hình thức thể hiện quyền lực với người em.[86] Sự vắng mặt của người cha được coi là nhân tố chính trong hầu hết các trường hợp em gái bị anh ruột lạm dụng tình dục.[87] Các ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển tuổi thơ lẫn các triệu chứng tâm lý khi trở thành người lớn của loạn luân giữa anh trai và em gái là tương tự các hậu quả của loạn luân giữa cha và con gái, bao gồm: lạm dụng chất kích thích, trầm cảm, khuynh hướng tự tử và rối loạn ăn uống.[87][88]

Nghiên cứu khoa học về tránh loạn luân[sửa | sửa mã nguồn]

Di truyền học kết luận "loạn luân là điều bị cấm" xuất phát từ việc kết hợp các ADN cùng loại sẽ giảm thiểu khả năng thích nghi phát triển và khả năng kháng thể.

Theo kinh nghiệm, việc tránh loạn luân là một yếu tố văn hóa phổ biến (mặc dù mỗi xã hội mỗi khác). Điều này làm cho người ta thực hiện nghiên cứu để xem việc tránh loạn luân có phải là do một cơ chế sinh học bẩm sinh có thể được giữ lại qua quá trình chọn lọc tự nhiên nhằm tạo bộ gen tốt. Người ta thấy rằng khi hai người sống chung với nhau trong những năm thơ ấu thì cả hai sau này sẽ không có nhạy cảm hấp dẫn tình dục với nhau. Hiện tượng này, được gọi là hiệu ứng Westermarck, lần đầu tiên được mô tả chính thức bởi nhà nhân chủng học người Phần Lan Edvard Westermarck. Hiệu ứng Westermarck từ đó bắt đầu được quan sát ở nhiều nơi và trong nhiều nên văn hóa, bao gồm hệ thống khu định cư Israel và tập quán hôn nhân đồng dưỡng tức của Trung Hoa cũng như những gia đình có liên quan về sinh học. Đồng dưỡng tức (童養媳) là tập quán con gái của một gia đình nghèo được đem cho một gia đình giàu nuôi để giúp việc nhà và sau này lấy một trong số con trai của họ.

Trong trường hợp khu định cư Israel (nông trại), trẻ em được nuôi dưỡng gần như chung với nhau trong nhiều nhóm được phân loại theo độ tuổi chứ không phải theo họ hàng. Một nghiên cứu về những trẻ em này phát hiện rằng trong số gần 3000 cặp kết hôn ở các khu định cư, chỉ có 14 cặp mà trong đó hai người từng được nuôi dưỡng trong cùng một nhóm. Trong số 14 cặp này, không có cặp nào mà hai người được nuôi chung từ mới sinh đến 6 tuổi. Kết quả này không những cho thấy hiệu ứng Westermarck được chứng minh mà còn nói lên rằng hiệu ứng có tác dụng đối với giai đoạn quan trọng là từ mới sinh đến 6 tuổi (Shepher, 1983).

Khi trẻ không được nuôi chung trong giai đoạn quan trọng này, ví dụ như anh và em gái được nuôi riêng biệt và chưa từng gặp nhau một lần nào, họ có thể cảm thấy có hấp dẫn tình dục cao đối với nhau khi đã lớn và gặp nhau. Hiện tượng này gọi là hấp dẫn tình dục di truyền. Điều này thống nhất với giả thuyết rằng hiệu ứng Westermarck được giữ lại trong quá trình tiến hóa vì nó tránh việc giao phối gần. Hấp dẫn tình dục di truyền cũng xảy ra với những cặp là anh chị em họ.

Luật pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Loạn luân giữa những người có quan hệ họ hàng gần gũi về huyết thống được coi là tội phạm ở phần lớn các quốc gia. Tuy vậy, tồn tại một sự khác biệt lớn giữa các quốc gia trong việc đánh giá mức độ nguy hiểm của dạng tội phạm này.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Khoản 12, 13 điều 8 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 quy định:

  1. Những người cùng dòng máu về trực hệ là cha-mẹ đối với con; ông- đối với cháu nộicháu ngoại
  2. Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con con cậu, con là đời thứ ba.

Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình này cũng quy định các trường hợp cấm kết hôn:

.....
3. Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời
4. Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng
....

Điều 150 Luật Hình sự năm 1999 của Việt Nam quy định khung xử phạt đối với tội loạn luân là:

Người nào giao cấu với người cùng dòng máu về trực hệ, với anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Một số vụ loạn luân gây chấn động dư luận[sửa | sửa mã nguồn]

Vụ Jose Agostinho Pereira hãm hiếp các con gái của mình[sửa | sửa mã nguồn]

Trong vụ việc này, José Agostinho Bispo Pereira (hay còn gọi là Pereira, sinh năm 1956 tại bang Maranhao, Brasil) là người đàn ông đã giam cầm con gái ruột suốt 12 năm và khiến cô sinh 7 đứa con với ông ta[89].

Năm 1998, khi người vợ bỏ đi, Pereira bắt đầu thực hiện vụ lạm dụng tình dục với chính cô con gái của mình[89]. Ông giam biệt lập cô con gái trong ngôi nhà hai phòng[90] gần làng chài ở phía đông bắc Brasil. Ngôi nhà ở vị trí hẻo lánh, nằm sâu trong rừng và cách duy nhất tiếp cận là bằng cano.

Vụ việc kinh hoàng này từng gây chấn động nước Brasil suốt một thời gian dài, người cha thú tính này bị cả thế giới lên án về hành vi đồi bại. Tổng cộng 7 đứa trẻ (4 gái, 3 trai[91]) đều bị suy dinh dưỡng và hầu hết không mặc quần áo. Chúng gặp khó khăn trong giao tiếp. Lũ trẻ không được phép ra khỏi nhà, không biết chữ và giao tiếp được rất ít. Bọn trẻ đều bị dọa giết[89] nếu tìm cách trốn hoặc kể cho người khác về tình trạng của chúng". Hiện cô con gái của Pereira cùng 7 đứa trẻ đang được cơ quan phúc lợi xã hội chăm sóc[91].

Vụ Jenny Deaves tự nguyện sống loạn luân với cha[sửa | sửa mã nguồn]

Hai cha con người Úc John Deaves (sinh năm 1947) và Jenny Deaves (sinh năm 1969) đã có cuộc sống như vợ chồng trong nhiều năm, có chung hai con, trong đó một đứa chết yểu vì bệnh còn đứa con trai thứ hai khỏe mạnh. Jenny Deaves đã tạo sự sôi nổi trên thế giới khi xuất hiện trên truyền hình kể cuộc sống loạn luân với người cha ruột mình. Hai cha con nói họ yêu nhau và sống hạnh phúc với nhau.[92]

Vụ Detlef loạn luân với con gái[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyện xảy ra tại làng Fluterschen, gần thành phố Koblenz (Đức). Trong 23 năm, từ 1987-2010, Detlef, một tài xế xe tải Đức, loạn luân với con gái khi cô bé lên 9 tuổi (hiện 18 tuổi) và con gái của vợ năm cô 12 tuổi (hiện xấp xỉ 30 tuổi) và người anh em song sinh của cô này. Detlef có tám người con với con riêng của vợ, một trong số đó đã chết yểu, 7 đứa còn lại trong độ tuổi 11-15.[93]

Hai vụ ở Áo[sửa | sửa mã nguồn]

Vụ thứ nhất là Josef Fritzl (sinh năm 1936), đã nhốt trong con gái Elisabeth Fritzl (sinh năm 1966) trong một căn hầm suốt 24 năm, hãm hiếp cô và có bảy người con với cô. Josef Fritzl bị cáo buộc với 6 tội danh riêng biệt trong đó có hiếp dâm, giam giữ người bất hợp pháp, loạn luân và áp bức.

Vụ thứ hai là một người đàn ông sinh năm 1926 tại thị trấn Braunau, miền bắc nước Áo, gần biên giới với Đức đã nhốt 2 người con gái (sinh năm 1958 và 1966) bị bệnh tâm thần làm nô lệ tình dục suốt 41 năm, 1970 đến tháng 5/2011. Hai cô con gái bị nhốt vào một chuồng gà nhỏ, trong đó có một chiếc ghế dài bằng gỗ được dùng làm giường. Theo báo chí Áo, ông bố bị cô con gái lớn đẩy ngã xuống đất lúc đang cố gắng hãm hiếp cô, không thể dậy nổi và 2 cô con gái đã chạy thoát khỏi người cha loạn luân.[94]

Vụ ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Một cô giáo ở miền Tây Nam Bộ Việt Nam loạn luân với con trai nuôi kém cô 14 tuổi. Cô giáo nhận nuôi cậu bé từ năm cậu học lớp 8, nảy sinh tình cảm rồi quan hệ tình dục với nhau. Sau đó cô đã lần lượt sinh ra 3 đứa con (2 gái 1 trai) với con nuôi mình. Cô và chồng đã bỏ nhau và cô đã chính thức lấy con trai nuôi làm chồng mới. Hai người hiện nay đang sống hạnh phúc bên nhau.[95]

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bixler, Ray H. (1982) "Comment on the Incidence and Purpose of Royal Sibling Incest," American Ethnologist, 9(3), August, pp. 580–582.
  • Leavitt, G. C. (1990) "Sociobiological explanations of incest avoidance: A critical claim of evidential claims", American Anthropologist, 92: 971–993.
  • Potter, David Morris (2007). Emperors of Rome. Englewood Cliffs, N.J: Quercus. ISBN 1-84724-166-2. 
  • Sacco, Lynn (2009). Unspeakable: Father–Daughter Incest in American History. Johns Hopkins University Press. 351 ISBN 978-0-8018-9300-1

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Incest”. Oxford University Press. 2013. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2013. 
  2. ^ “Incest”. Rape, Abuse & Incest National Network (RAINN). 2009. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2013. 
  3. ^ Elementary Structures Of Kinship, by Claude Lévi-Strauss. (tr.1971).
  4. ^ a ă Bittles, Alan Holland (2012). Consanguinity in Context. Cambridge University Press. tr. 178–187. ISBN 0521781868. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2013. 
  5. ^ Hipp, Dietmar (11 tháng 3 năm 2008). “German High Court Takes a Look at Incest”. Der Spiegel. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2008. 
  6. ^ Wolf, Arthur P.; Durham, William H. (2004). Inbreeding, Incest, and the Incest Taboo: The State of Knowledge at the Turn of the Century. Stanford University Press. tr. 169. ISBN 0-8047-5141-2. 
  7. ^ Encyclopedia of Love in World Religions - Volume 1 - Page 321, Yudit Kornberg Greenberg - 2008
  8. ^ Language and Social Relations - Page 379, Asif Agha - 2007.
  9. ^ The Encyclopedia of Genetic Disorders and Birth Defects - Page 101, James Wynbrandt, Mark D. Ludman - 2009.
  10. ^ a ă Wolf, Arthur P.; Durham, William H. (2004). Inbreeding, Incest, and the Incest Taboo: The State of Knowledge at the Turn of the Century. Stanford University Press. tr. 3. ISBN 0-8047-5141-2. 
  11. ^ Fareed, M; Afzal, M (2014). “Estimating the inbreeding depression on cognitive behavior: A population based study of child cohort”. PLoS ONE 9 (10): e109585. PMC 4196914. PMID 25313490. doi:10.1371/journal.pone.0109585. 
  12. ^ Brown, Donald E., Human Universals. New York: McGraw-Hill, 1991, p. 118-29
  13. ^ a ă â b Turner, Jeffrey S. (1996). Encyclopedia of Relationships Across the Lifespan. Greenwood Publishing Group. tr. 92. ISBN 0-313-29576-X. 
  14. ^ Incest: The Nature and Origin of the Taboo, by Emile Durkheim (tr.1963)
  15. ^ Kinship, Incest, and the Dictates of Law, by Henry A. Kelly, 14 Am. J. Juris. 69
  16. ^ “Những cuộc tình loạn luân chấn động hoàng tộc Việt - Ngôi sao”. Chuyên mục văn hoá giải trí của VnExpress. Truy cập 27 tháng 11 năm 2017. 
  17. ^ Maurice Godelier, Métamorphoses de la parenté, 2004
  18. ^ “New Left Review - Jack Goody: The Labyrinth of Kinship”. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2007. 
  19. ^ Bateson, Gregory (2000). Steps to an Ecology of Mind: Collected Essays in Anthropology, Psychiatry, Evolution, and Epistemology. University Of Chicago Press. ISBN 978-0226039053. 
  20. ^ Briggs, Jean (2006). Never in Anger: Portrait of an Eskimo Family. Harvard University Press. ISBN 978-0674608283. 
  21. ^ The Tapestry of Culture: An Introduction to Cultural Anthropology, Ninth Ed., Abraham Rosman, Paula G. Rubel, Maxine Weisgrau, 2009, AltaMira Press, p. 101
  22. ^ Gulik, Robert Hans van (1974). Sexual Life in Ancient China: a Preliminary Survey of Chinese Sex and Society from ca. 1500 B.C. till 1644 A.D. Leiden: Brill. tr. 19. ISBN 90-04-03917-1. 
  23. ^ Lewis, N. (1983). Life in Egypt under Roman Rule. Clarendon Press. ISBN 0-19-814848-8. 
  24. ^ Frier, Bruce W.; Bagnall, Roger S. (1994). The Demography of Roman Egypt. Cambridge, UK: Cambridge University Press. ISBN 0-521-46123-5. 
  25. ^ Shaw, B. D. (1992). “Explaining Incest: Brother-Sister Marriage in Graeco-Roman Egypt”. Man, New Series 27 (2): 267–299. JSTOR 2804054. doi:10.2307/2804054. 
  26. ^ Hopkins, Keith (1980). “Brother-Sister Marriage in Roman Egypt” (PDF). Comparative Studies in Society and History 22 (3): 303–354. doi:10.1017/S0010417500009385. 
  27. ^ Lahanas, Michael (2006). “Elpinice”. Hellenic World encyclopaedia. Hellenica. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2009. 
  28. ^ Vergil Aeneid Book VI in Latin: The descent to the Underworld. Ancienthistory.about.com (2010-06-15). Retrieved on 2011-10-01.
  29. ^ a ă â Patrick Colquhoun, A Summary of the Roman Civil Law, Illustrated by Commentaries on and Parallels from the Mosaic, Canon, Mohammedan, English, and Foreign Law (London: Wm. Benning & Co., 1849), p. 513-4
  30. ^ Potter, 2007, p. 62.
  31. ^ Potter, 2007, p. 66.
  32. ^ Grubbs, Judith Evans (2002). Women and the Law in the Roman Empire: a Sourcebook on Marriage, Divorce and Widowhood. Psychology Press. tr. 137–. ISBN 978-0-415-15240-2. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2011. 
  33. ^ Cain and Abel in Text and Tradition: Jewish and Christian Interpretations of the First Sibling Rivalry, John Byron - 2011, page 27
  34. ^ The Empowerment of Women in the Book of Jubilees - Page 17, Betsy Halpern Amaru - 1999
  35. ^ Smith, George Patrick (1998). Family Values and the New Society: Dilemmas of the 21st Century. Greenwood Publishing Group via Google Books. p. 143.
  36. ^ "The Risks and Rewards of Royal Incest". National Geographic Magazine.
  37. ^ Sarmiento de Gamboa, Pedro. The History of the Incas. Austin: University of Texas Press, 2007. p.171. ISBN 978-0-292-71485-4.
  38. ^ Lloyd, Arthur (2004). The Creed Of Half Japan: Historical Sketches Of Japanese Buddhism. Kessinger Publishing via Google Books. p. 180.
  39. ^ Cranston, Edwin A. (1998). A Waka Anthology: The Gem-Glistening Cup. Stanford University Press via Google Books. p. 805.
  40. ^ Shultz, Edward J. (2000). Generals and Scholars: Military Rule in Medieval Korea. University of Hawaii Press, p. 169.
  41. ^ Wiehe, Vernon R. (1996). The Brother/Sister Hurt: Recognising the Effects of Sibling Abuse. Safer Society Press.
  42. ^ Wal, Ruchi Mishra S. (2000). Ency. Of Health Nutrition And Family Wel.(3 Vol). Sarup & Sons. tr. 166. ISBN 978-81-7625-171-6. 
  43. ^ United Nations Publications (2002). Asia-Pacific Population Journal. United Nations Publications. tr. 23. ISBN 978-92-1-120340-0. 
  44. ^ Nguyễn thị Chân Quỳnh. “Công chúa đời Trần - Mỹ nhân kế - Loạn luân”. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2010. 
  45. ^ “Bí sử: Sự thật cả dòng họ đều "loạn luân". Báo đời sống & pháp luật Online. Truy cập 13 tháng 12 năm 2017. 
  46. ^ Faller, Kathleen C. (1993). Child Sexual Abuse: Intervention and Treatment Issues. DIANE Publishing. tr. 64. ISBN 978-0-7881-1669-8. 
  47. ^ Schetky, Diane H.; Green, Arthur H. (1988). Child Sexual Abuse: A Handbook for Health Care and Legal Professionals. Psychology Press. tr. 128. ISBN 978-0-87630-495-2. 
  48. ^ a ă â Courtois, Christine A. (1988). Healing the Incest Wound: Adult Survivors in Therapy. W. W. Norton & Company. tr. 208. ISBN 0-393-31356-5. 
  49. ^ Nemeroff, Charles B.; Craighead, W. Edward (2001). The Corsini Encyclopedia of Psychology and Behavioral Science. New York: Wiley. ISBN 0-471-24096-6. 
  50. ^ Aeneid by Virgil, Book VI: "hic thalamum invasit natae vetitosque hymenaeos;" = "this [man being punished in Hades invaded a daughter's private room and a forbidden marital relationship."
  51. ^ Herman, Judith (1981). Father-Daughter Incest. Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press. tr. 282. ISBN 0-674-29506-4. 
  52. ^ Goldman, R.; Goldman, J. (1988). “The prevalence and nature of child sexual abuse in Australia”. Australian Journal of Sex, Marriage and Family 9 (2): 94–106. 
  53. ^ Wiehe, Vernon (1997). Sibling Abuse: Hidden Physical, Emotional, and Sexual Trauma. Sage Publications, ISBN 0-7619-1009-3
  54. ^ Rayment-McHugh, Sue; Ian Nesbit (2003). "Sibling Incest Offenders As A Subset of Adolescent Sex Offenders." Paper presented at the Child Sexual Abuse: Justice Response or Alternative Resolution Conference convened by the Australian Institute of Criminology and held in Adelaide, 1–2 May 2003
  55. ^ Canavan, M. C.; Meyer, W. J.; Higgs, D. C. (1992). “The female experience of sibling incest”. Journal of Marital and Family Therapy 18 (2): 129–142. doi:10.1111/j.1752-0606.1992.tb00924.x. 
  56. ^ Smith, H.; Israel, E. (1987). “Sibling incest: A study of the dynamics of 25 cases”. Child Abuse and Neglect 11 (1): 101–108. PMID 3828862. doi:10.1016/0145-2134(87)90038-X. 
  57. ^ Cole, E (1982). “Sibling incest: The myth of benign sibling incest”. Women and Therapy 1 (3): 79–89. doi:10.1300/J015V01N03_10. 
  58. ^ Cawson, P., Wattam, C., Brooker, S., & Kelly, G. (2000). Child maltreatment in the United Kingdom: A study of the prevalence of child abuse and neglect. London: National Society for the Prevention of Cruelty to Children. ISBN 1-84228-006-6
  59. ^ Sibling incest is roughly five times as common as other forms of incest according to Gebhard, P., Gagnon, J., Pomeroy, W., & Christenson, C. (1965). Sex Offenders: An Analysis of Types. New York: Harper & Row.
  60. ^ Finkelhor, David (1981). Sexually Victimized Children. Simon and Schuster. ISBN 0-02-910400-9. 
  61. ^ A large-scale study of (n = 3,000) by the UK's National Council for the Prevention of Cruelty to Children found that fathers committed about 1% of child sex abuse, while siblings committed 14%. See BBC News Online: Health, Child Abuse Myths Shattered, November, 20, 2000
  62. ^ O'Brien, M. J. (1991). "Taking sibling incest seriously." In M. Patton (ed.), Family Sexual Abuse: Frontline Research and Evaluation, pp. 75–92. Newbury Park, CA: Sage Publications.
  63. ^ Laviola, M. (1992). “Effects of older brother-younger sister incest: A study of the dynamics of 17 cases”. Child Abuse and Neglect 16 (3): 409–421. PMID 1617475. doi:10.1016/0145-2134(92)90050-2. 
  64. ^ Cyr, M.; Wright, J.; McDuff, P.; Perron, A. (2002). “Intrafamilial sexual abuse: Brother-sister incest does not differ from father-daughter and stepfather-stepdaughter incest”. Child Abuse and Neglect 26 (9): 957–973. PMID 12433139. doi:10.1016/S0145-2134(02)00365-4. 
  65. ^ Fridell, Lorie A. (tháng 10 năm 1990). “Decision-making of the District Attorney: diverting or prosecuting intrafamilial child sexual abuse offenders”. Criminal Justice Policy Review (Sage) 4 (3): 249–267. doi:10.1177/088740349000400304. 
  66. ^ Trusiani, Jessica. “Working with Survivors of Child Incestuous Abuse”. Rutgers University. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2014. 
  67. ^ Kinnear, Karen L. Childhood Sexual Abuse: A Reference Handbook. tr. 8. 
  68. ^ http://williamapercy.com/wiki/images/Father-son_incest_a_review.pdf
  69. ^ http://kb.osu.edu/dspace/bitstream/handle/1811/51174/fac_ArnoldE_AmJPsychiatry_1978_135_7.pdf
  70. ^ Dorais, Michel (2002). Don't Tell: The Sexual Abuse of Boys. Translated by Isabel Denholm Meyer. McGill-Queen's Press. tr. 24. ISBN 0-7735-2261-1. 
  71. ^ Courtois, Christine A. (1988). Healing the Incest Wound: Adult Survivors in Therapy. W. W. Norton & Company. ISBN 0-393-31356-5. 
  72. ^ "India's hidden incest ," BBC News, January 22, 1999.
  73. ^ “Incest”. National Center for Victims of Crime and Crime Victims Research and Treatment Center. National Center for Victims of Crime. 1992. 
  74. ^ Emotional Inheritance: A Dubious Legacy. (May 21, 1977). Science News, 111 (21), 326.
  75. ^ Trepper, Terry S.; Barrett, Mary Jo (1989). Systemic Treatment of Incest: A Therapeutic Handbook. Psychology Press. ISBN 0-87630-560-5. 
  76. ^ Kluft, Richard P. (1990). Incest-Related Syndromes of Adult Psychopathology. American Psychiatric Pub, Inc. tr. 83, 89. ISBN 0-88048-160-9. 
  77. ^ Margolin, Leslie (1985). “The effects of mother-son incest”. Journal of Family and Economic Issues 8 (2): 104–114. doi:10.1007/BF01553341. 
  78. ^ a ă Cruise, David, and Griffiths, Alison. On South Mountain: The Dark Secrets of the Goler Clan (Penguin Books, 1998) ISBN 0-670-87388-8
  79. ^ “DFaCS (NSW) and the Colt Children [2013] NSWChC 5”. Children's Court, New South Wales. 13 tháng 9 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2013. 
  80. ^ Sutton, Candace (10 tháng 12 năm 2013). “The case of incest and depravity which came to rest in the hills of a quiet country town”. News Corp Australia. 
  81. ^ Sutton, Candace (12 tháng 12 năm 2013). “The family tree of the depraved family who live in the hills of a quiet country town”. News Corp Australia. 
  82. ^ Tokuoka, Hideo and Cohen, Albert K. (1987). “Japanese Society and Delinquency”. International Journal of Comparative and Applied Criminal Justice 11 (1–2): 13–22. doi:10.1080/01924036.1987.9688852. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  83. ^ Gough, David (tháng 2 năm 1996). “Child Abuse in Japan”. Child and Adolescent Mental Health 1 (1): 12–18. doi:10.1111/j.1475-3588.1996.tb00003.x. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  84. ^ Kalogerakis, Michael G.; American Psychiatric Association. Workgroup on Psychiatric Practice in the Juvenile Court (1992). Handbook of psychiatric practice in the juvenile court: the Workgroup on Psychiatric Practice in the Juvenile Court of the American Psychiatric Association. American Psychiatric Pub. tr. 106. ISBN 978-0-89042-233-5. 
  85. ^ Carlson, Bonnie E.; MacIol, K; Schneider, J (2006). “Sibling Incest: Reports from Forty-One Survivors”. Journal of Child Sexual Abuse 15 (4): 19–34. PMID 17200052. doi:10.1300/J070v15n04_02. 
  86. ^ Leder, Jane Mersky. “Adult Sibling Rivalry: Sibling rivalry often lingers through adulthood”. Psychology Today. January/February 93 (Sussex Publishers). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2008. 
  87. ^ a ă Rudd, Jane M.; Herzberger, Sharon D. (tháng 9 năm 1999). “Brother-sister incest—father-daughter incest: a comparison of characteristics and consequences”. Child Abuse & Neglect 23 (9): 915–928. doi:10.1016/S0145-2134(99)00058-7. 
  88. ^ Cyr, Mireille; Wrighta, S John; McDuffa, Pierre; Perron, Alain (tháng 9 năm 2002). “Intrafamilial sexual abuse: brother–sister incest does not differ from father–daughter and stepfather–stepdaughter incest”. Child Abuse & Neglect 26 (9): 957–973. PMID 12433139. doi:10.1016/S0145-2134(02)00365-4. 
  89. ^ a ă â Giam con gái ruột 12 năm làm nô lệ tình dục
  90. ^ Jose Agostinho Pereira, imprisoned daughter for 12 years, repeatedly raped her: cops
  91. ^ a ă Lão ngư dân giam con làm nô lệ tình dục suốt 12 năm
  92. ^ Úc Châu: Người phụ nữ loạn luân với cha ruột nay lại chia tay với bồ mới
  93. ^ "Yêu râu xanh" Đức nhận tội
  94. ^ Bố nhốt hai con gái làm nô lệ tình dục suốt 41 năm
  95. ^ Sóng gió cuộc tình mẹ "nuôi" và con trai kém 14 tuổi

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]